PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH BẮC NINH - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐÀO THỊ PHƯƠNG CHI

PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

ĐÀO THỊ PHƯƠNG CHI

PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn: TS Sầm Thị Thu Hương

Hà Nội, năm 2017


LỜI CẢM ƠN

5
6
7
8
9
10
11
12

Chữ viết tắt
UBND
SVHTTDL
CNH, HĐH

TS
LĐTBXH
TNHH
DSVH
BVHTTDL
DTLSVH
ĐH
TC VHNTDL

Nội dung
Ủy ban nhân dân
Sở Văn hóa thể thao du lịch
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Giám đốc
Tiến sỹ
Lao động và thương binh xã hội

1.3.2 Các hình thức tổ chức du lịch văn hóa tâm linh.................................22
1.4 Các yếu tổ ảnh hưởng đến du lịch văn hóa tâm linh dựa
vào cộng đồng...........................................................................................23
1.4.1 Truyền thống văn hóa tâm linh của dân tộc........................................23
1.4.2 Điều kiện đời sống vật chất tinh thần...................................................31


1.4.3 Chính sách phát triển du lịch văn hóa tâm linh của quốc gia............34
Tiểu kết chương 1..........................................................................................36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM
LINH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH........37
2.1 Khái quát về tỉnh Bắc Ninh....................................................................37
2.1.1 Điều kiện tự nhiên.................................................................................37
2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội.......................................................................40
2.1.3 Điều kiện văn hóa..................................................................................42
2.1.4 Tài nguyên nhân văn............................................................................47
2.1.5 Đặc trưng văn hóa.................................................................................48
2.2 Thực trạng về phát triển du lịch văn hóa tâm linh dựa vào cộng đồng
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh...........................................................................50
2.2.1 Thực trạng về tài nguyên du lịch văn hóa tâm linh trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh.........................................................................................................50
2.2.2 Thực trạng nguồn lực cộng đồng phục vụ du lịch tâm linh trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh..........................................................................................57
2.2.3. Thực trạng về việc khai thác tài nguyên văn hóa tâm linh trong hoạt
động du lịch của tỉnh......................................................................................60
2.2.4 Thực trạng về chính sách quản lý, phát triển tài nguyên du lịch văn
hóa tâm linh....................................................................................................64
2.2.5 Thực trạng về huy nguồn lực cộng đồng trong phát triển du lịch văn
hóa tâm linh của tỉnh Bắc Ninh....................................................................66
2.2.6 Đánh giá về phát triển du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh Bắc Ninh.........68

3.3 Khảo sát ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp.......99
Tiểu kết chương 3........................................................................................102


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.....................................................................103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................106
PHỤ LỤC.....................................................................................................109
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Sự phân bổ di tích đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.....51
Bảng 2. Lao động trong ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh (2010 - 2016)............58
Bảng 3. Cơ cấu khách du lịch nội địa đến Bắc Ninh Phân theo khu vực (Giai
đoạn 2010 - 2015)...........................................................................................63
Bảng 4: Tổng hợp doanh thu, lượt khách, ngày khách 2010 đến 2015...........69
Bảng 5: Số lượng cơ sở lưu trú 2010 đến 2015...............................................71
Bảng 5: Đánh giá mức độ cần thiết của các giải pháp đề xuất......................100
Bảng 6: Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất..............................101


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, du lịch văn hóa tâm linh đã và đang trở
thành xu hướng phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực, đặc biệt
là với những nước có đang phát triển khi mà nền tảng, quy mô, nguồn lực
không lớn, chưa có đủ thế mạnh trong việc xây dựng những điểm du lịch đắt
tiền, những trung tâm giải trí tầm cỡ và hiện đại.
Trải qua hơn 20 năm trưởng thành và phát triển, du lịch Việt Nam đã
từng bước khẳng định tầm vóc của ngành trong nền kinh tế quốc dân, chiếm
lĩnh vị trí độc tôn trong nền kinh tế mũi nhọn góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế đất nước, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của người dân, trong
đó du lịch văn hóa tâm linh cũng được xác định là một trong những loại hình

(4 di tích Quốc gia đặc biệt, 194 di tích cấp Quốc gia, 376 di tích cấp Tỉnh).
Các di tích Quốc gia đặc biệt (chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích, đền
Đô và khu lăng mộ nhà Lý) từng là danh lam cổ tự nổi tiếng trong sử sách và
dân gian, cùng với các kiệt tác di sản văn hóa (tượng Phật A Di Đà chùa Phật
Tích, tượng nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp, tượng Tam Thế chùa Linh
Ứng, tượng rồng đá đền Lê Văn Thịnh) được Nhà nước công nhận là Bảo vật
Quốc gia, Đây chính là nguồn tài nguyên văn hóa dồi dào, cũng là tiềm lực
mạnh để phát triển loại hình du lịch tâm linh theo nhiều hướng tại khu vực
đồng bằng bộ.
Trong những năm qua, du lịch ở tỉnh Bắc Ninh đã có những bước phát
triển đáng khích lệ. Tuy nhiên, sự phát triển hiện nay du lịch của tỉnh chưa
đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và tiềm năng của khu vực còn hạn
chế. Vấn đề đặt là làm thế nào để phát huy tiềm năng, lợi thế của du lịch nói
chung du lịch tâm linh nói riêng trong toàn tỉnh trước yêu cầu đổi mới đất
nước và Hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng đem lại hiệu quả kinh tế xã hội
cao. Trong bối cảnh đó, “Phát triển du lịch văn hóa tâm linh dựa vào cộng

2


đồng tại tỉnh Bắc Ninh” được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ không chỉ có
ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn góp phần phát triển kinh tế du lịch
tỉnh Bắc Ninh nói riêng và cả nước nói chung. trong giai đoạn tới.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận và thực tiễn phát triển du lịch văn
hóa tâm linh, đề xuất những giải pháp thiết thực vào việc phát triển du lịch
văn hóa tâm linh dựa vào cộng đồng tại tỉnh Bắc Ninh, góp phần phát triển
kinh tế, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của tỉnh, để văn hóa thực sự
trở thành “ nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội…”

đồng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
5.4. Đánh giá kết quả nghiên cứu bằng thực nghiệm và phương pháp
chuyên gia.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu các giải pháp phát triển du lịch văn hóa tâm
linh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Đề tài chỉ nghiên cứu trên phạm vi địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Đề tài đề cập tới các chủ thể như: UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Văn hóa
Thể thao và Du lịch Bắc Ninh, Ban quản lý Di tích tỉnh Bắc Ninh, Phòng
Nghiệp vụ Du lịch ( Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Bắc Ninh); Trung tâm
xúc tiến du lịch; Phòng văn hóa các huyện - thị xã tỉnh Bắc Ninh, Chính
quyền địa phương…
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1 Cách tiếp cận
- Tiếp cận phát triển du lịch
- Tiếp cận giáo dục
- Tiếp cận phát triển cộng đồng

4


7.2 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu giúp hệ thống hóa các vấn đề lý luận đề tài
- Phương pháp khảo sát thực trạng như: Điều tra bằng bảng hỏi để thu
thập thông tin, phương pháp phỏng vấn, phương pháp xin ý kiến chuyên gia,
phương pháp quan sát…
- Phương pháp xử lý dữ liệu bằng thống kê toán học.
8. Cấu trúc dự kiến của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phục
lục, có 3 chương:

quy hoạch không gian du lịch. Đề tài Nghiên cứu loại hình du lịch tâm linh ở
Việt Nam của TS Nguyễn Trùng Khánh, tác giả đã tiến hành khảo sát, phân
loại du lịch tâm linh dựa vào nguồn tài nguyên du lịch, từ đó xây dựng được
cơ sở lý thuyết trên phương diện du lịch, đề xuất giải pháp phát triển du lịch
gắn với Phật giáo, tín ngưỡng dân gian…
Tác giả Hà Thế Linh lấy đối tượng nghiên cứu Phật giáo của dân tộc
thiểu số Khơmer, tác giả cũng đã phân tích được những tồn tại và triển vọng

6


phát triển du lịch tâm linh ở Trà Vinh và đưa ra những giải pháp nhằm khai
thác loại hình du lịch này một cách bền vững trong tương lai.
Một số tác phẩm liên quan đến du lịch văn hóa tâm linh ở Bắc Ninh đã
đề cập đến loại hình du lịch văn hóa và phát triển bền vững các di sản văn
hóa ở vùng Kinh Bắc trong tương lai, chẳng hạn, công trình “Các di tích lịch
sử \văn hóa Bắc Ninh” của tác giả Lê Viết Nga do Bảo tàng Bắc Ninh xuất
bản năm 2005, giới thiệu những kiến trúc văn hóa độc đáo của các di tích Bắc
Ninh. xuất bản năm 2003. Cuốn sách giới thiệu về 49 lễ hội truyền thống tiêu
biểu của Bắc Ninh, các giá trị lịch sử, văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng của lễ hội.
công trình “Không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh - Bảo tồn và phát huy”
do Viện văn hóa thể thao du lịch Bắc Ninh xuất bản năm 2006. Công trình
giới thiệu giá trị, nguồn gốc, đặc điểm của quan họ xưa và nay, chỉ ra những
bất cập trong việc khai thác loại hình di sản văn hóa phi vật thể hiện nay, đề
xuất các giải pháp. công trình “ Quản lý, Bảo tồn và phát huy giá trị di tích
lịch sử văn hóa tỉnh Bắc Ninh gắn với hoạt động du lịch”, Sở Văn hóa Thể
thao và Du lịch Bắc Ninh xuất bản năm 2010. đã đề cập đến các hoạt động
phát triển du lịch văn hóa Bắc Ninh nhưng mới chỉ khai thác ở mảng tài
nguyên văn hóa của các di tích lịch sử, và tiềm năng của loại hình du lịch này
trong tương lai. Công trình “ Du lịch văn hiến Bắc Ninh – Kinh Bắc” Hội văn

Việt, du lịch được giải thích là sự đi lại thăm viếng các danh lam thắng cảnh,
tìm hiểu các nền văn hóa khác nhau trong và ngoài nước.( Từ điển Tiếng
Việt. Nxb Văn hóa thông tin).
Năm 1963 với mục đích quốc tế hóa, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du
lịch họp ở Roma các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa như sau về du lịch: “Du
lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt
nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài
nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.

8


Ở nước Anh, du lịch xuất phát từ tiếng “To Tour” có nghĩa là cuộc dạo
chơi (Tour round the world - cuộc đi vòng quanh thế giới; to go for tour round
the town - cuộc dạo quanh thành phố; tour of inspection - cuộc kinh lý kiểm
tra, …). Tiếng Pháp, từ du lịch bắt nguồn từ Le Tour có nghĩa là cuộc dạo
chơi, dã ngoại, … Theo nhà sử học Trần Quốc Vượng, Du lịch được hiểu như
sau: Du có nghĩa là đi chơi, Lịch là lịch lãm, từng trải, hiểu biết, như vậy du
lịch được hiểu là việc đi chơi nhằm tăng thêm kiến thức.
Theo Phó Tiến Sĩ Trần Nhạn: Du lịch là quá trình hoạt động của con
người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được
thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với
quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền ( NXB
văn hóa. Hà Nội 1995)
Như vậy, có khá nhiều khái niệm Du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy du
lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau:
· Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội.
· Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên
của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ.

vừa làm cơ sở, vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con
người trong đời sống tinh thần. Theo cách nhìn nhận đó, du lịch tâm linh khai
thác các yếu tố văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du
lịch, dựa vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình
thành nhận thức con người về thế giới, những giá trị về đức tin, tôn giáo, tín
ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó, du lịch tâm linh
mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng về tinh thần con người
trong khi di du lịch.( Nguyễn Văn Tuấn, 2013 tr.1)
+ Hồ Kỳ Minh: Du lịch tâm linh hiện nay được thể hiện trên nhiều
cung bậc, nhiều dạng. Dạng thứ nhất đó là những hoạt động tham quan, vãn
cảnh tại các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng. Đây là dạng hẹp nhất, chưa thể hiện

10


được ý nghĩa của hoạt động du lịch này nhưng lại là hoạt động phổ biến nhất
hiện nay; Dạng thứ hai được mở rộng hơn với cách hiểu là tìm đến những địa
điểm, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh tham quan vãn cảnh thì còn để
cúng bái, cầu nguyện. Dạng này có mở rộng hơn nhưng mới chỉ phù hợp với
những đối tượng có theo tôn giáo, tín ngưỡng; Dạng thứ ba có mục đích là
tìm hiểu các triết lý, giáo pháp khiến cho con người trầm tĩnh, để tâm hồn thư
thái, cải thiện sức khỏe và cảm nhận chính bản thân mình ( Hồ Kỳ Minh,
2015, tr5)
Như vậy, không gian có thể chứa đựng các giá trị văn hóa tâm linh bao
gồm các công trình chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất, đình, miếu, phủ
thờ... các công trình này không những chứa đựng các giá trị văn hóa tâm linh
thuần túy mà còn là các điểm đến lưu giữ các giá trị nghệ thuật kiến trúc đặc
sắc. Bên cạnh đó, du khách có nhu cầu tìm hiểu du lịch văn hóa tâm linh còn
quan tâm đến sự kiện và các hoạt động thực hành niềm tin tôn giáo, tín
ngưỡng và đức tin; Những lễ hội gắn với niềm tin tôn giáo và những tín

Du lịch văn hóa tâm linh vốn là một thực thể đã có từ nhiều năm nay
trên thế giới. Người ta vẫn quen dùng từ hành hương để nói về chuyến đi của
mình. Tuy nhiên từ hành hương chưa thể nói hết được tính chất, ý nghĩa và
mục đích của chuyến đi. Hành hương mang nặng ý nghĩa tâm linh, nhưng
trong mỗi chuyến đi không phải mọi người đều chỉ có duy nhất mục đích
mang ý nghĩa tín ngưỡng, mà có một số khi tham gia chuyến đi thiên về du
lịch nhiều hơn tín ngưỡng. Thậm chí, những người lấy tín ngưỡng tâm linh
làm mục đích chính của chuyến đi nhưng cũng không khỏi có những cảm xúc
thú vị của một người du khách thưởng ngoạn cái đẹp kỳ thú của thiên nhiên,
được tiếp cận những phong tục tập quán của đời sống cư dân và được hưởng
các tiện ích của dịch vụ du lịch.
Có thể hiểu: Du lịch văn hóa tâm linh là sự kết hợp giữa du lịch và tâm
linh – tín ngưỡng. Đây là hai nhu cầu cần thiết trong đời sống của con người,

12


nhằm mang lại nét đẹp cho cuộc sống đi đôi với sự thăng hoa trong tâm hồn.
Du lịch nhằm mở mang kiến thức về thiên nhiên và văn hóa con người nơi
đến, còn tâm linh – tín ngưỡng gồm có tín ngưỡng tôn giáo và tín ngưỡng dân
gian làm thỏa mãn niềm tin đối với các biểu tượng thiêng liêng mà họ ngưỡng
vọng. Vì vậy, điểm đến của các chuyến đi thường là những địa điểm thiêng
liêng, có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng như chùa chiền, đền, miếu, thánh
đường hoặc những thánh tích tôn giáo... Đến những nơi ấy, họ không chỉ lĩnh
hội được đầy đủ thông tin về cội nguồn tín ngưỡng tôn giáo của mình mà
trong suốt quá trình của chuyến đi họ được sống cùng nhau trong một môi
trường tâm linh: chiêm bái, cầu nguyện, tu dưỡng tinh thần, tạo sức mạnh cho
niềm tin và sự chuyển hóa tâm thức, thực hành các nghi thức truyền thống...
Vì vậy, du lịch văn hóa tâm linh phải đáp ứng được mục đích của chuyến du
lịch đặc thù dựa trên những cơ sở đó.

thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng
tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền con người
cơ bản, truyền thống, tín ngưỡng”.( Định nghĩa của UNESCO về văn hóa)
1.2.2.2 Khái niệm tâm linh
Theo cuốn Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng: Cái cột chặt con
người trong làng xã không phải chỉ có quan hệ hữu hình như lãnh thổ, quyền
sở hữu kinh tế xã hội... mà còn có nhiều quan hệ khác đó là thế giới tâm linh,
những biểu tượng, thần tượng, những kỳ vọng vươn tới chân, thiện, mỹ.... Đời
sống tâm linh là cái nền vững chắc nhất của mối quan hệ cộng đồng làng xã.
Thế giới tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng, mà ở đó chỉ có cái gì cao cả,
lương thiện và đẹp đẽ mới có thể vươn tới. Cả cộng đồng tôn thờ và cố kết
nhau lại trên cơ sở của cái thiêng liêng ấy.Tâm là niềm tin, linh là linh thiêng,
thiêng liêng. Và khái niệm tâm linh có thể hiểu như sau: Tâm linh là cái
thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng
trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin
thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm.

14


1.2.2.3 Văn hóa tâm linh
Niềm tin thiêng liêng trong tín ngưỡng tôn giáo còn có hai ý: Thứ nhất
là niềm tin của những người không theo đạo Phật nhưng vẫn đến chùa lễ Phật
cầu bình yên, mạnh khỏe, những người không theo Thiên chúa giáo nhưng
ngày lễ Noel vẫn đến nhà thờ xem lễ. Thứ hai là của những tín đồ tôn giáo, họ
suốt ngày, suốt đời mang theo niềm tin thiêng liêng về Chúa, về Phật. Tâm
linh biểu hiện niềm tin nên tâm linh cũng phải dựa theo những quan niệm triết
học về thế giới quan, nhân sinh quan.
Văn hóa tâm linh đã để lại những giá trị văn hóa vật chất, đó là những
kiến trúc nghệ thuật, những không gian thiêng liêng đền đài, nhà thờ, những

của mình, chắc chắn người lính đó sẽ suốt đời nhớ đến hình ảnh thiêng liêng
của người đồng đội lúc ngã xuống. Bước chân vào một nghĩa trang liệt sỹ, ta
không thể không xúc động trước vong linh của những con người đã hy sinh
xương máu cho Tổ quốc, cho nhân dân. Một cán bộ lãnh đạo cao cấp hay một
người dân bình thường, khi viếng thăm khu di tích Kim Liên, ai cũng muốn
dâng một nén hương tưởng niệm công ơn to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh…
Có thể thấy rằng, tất cả những hiện tượng nêu trên đều là những biểu
hiện cụ thể của một đời sống tâm linh vô cùng phong phú. Vậy, đời sống tâm
linh chính là đời sống hướng về những giá trị tinh thần thuần khiết, thiêng
liêng, cao cả được đúc kết qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc và nhân
loại. Đời sống tâm linh chính là một hình thái đặc biệt của ý thức con người
và ý thức xã hội. Không thể có đời sống tâm linh, nếu như con người không
có ý thức. Tuy nhiên, ý thức nói chung của con người hết sức rộng lớn. Do đó,
không phải bất cứ điều gì thuộc về đời sống ý thức của con người cũng đồng
thời thuộc về đời sống tâm linh. Có thể thấy rằng, tính chất quan trọng nhất
của đời sống tâm linh trước hết là sự thiêng liêng, cao đẹp. Thế giới tâm linh
phải là một thế giới mà ở đó, chỉ những gì cao cả, lương thiện, đẹp đẽ mới có
thể vươn tới và tồn tại. Không biết từ bao giờ, những vấn đề thuộc về đời
sống tâm linh đã đồng hành cùng với con người và xã hội loài người.

16


Bất kỳ ai cũng dễ nhận thấy rằng, việc hướng về thế giới tâm linh dường
như là một nhu cầu tất yếu trong đời sống tinh thần của con người. Nhu cầu
này giúp con người xoa dịu những nỗi đau trần thế, vượt qua được những khó
khăn, những thử thách nghiệt ngã của cuộc đời dù chỉ là về mặt tinh thần. Khi
gặp những nỗi đau, những điều bất hạnh, bất kỳ ai cũng có nhu cầu được sẻ
chia, được an ủi. Và, những lúc rơi vào tình huống như vậy, có lẽ rất nhiều
người sẽ hướng về thế giới tâm linh để cầu mong một sự che chở, vỗ về, dù họ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status