luận văn KINH DOANH DỊCH VỤ TRADE MARKETING TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT KẾ LỤC GIÁC - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
--------o0o--------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KINH DOANH DỊCH VỤ TRADE MARKETING
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT KẾ LỤC GIÁC

Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại

NGUYỄN THÚY NGA

Hà Nội, tháng 05 năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
--------o0o--------

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KINH DOANH DỊCH VỤ TRADE MARKETING
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT KẾ LỤC GIÁC

Ngành: Kinh doanh
Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số: 60340121

Họ và tên học viên: Nguyễn Thúy Nga
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Thanh Bình

học Ngoại thương đã tạo điều kiện về tinh thần và thời gian cho học viên; tới
Ban chủ nhiệm và toàn bộ đội ngũ cán bộ Khoa Sau Đại học – Trường Đại học
Ngoại Thương, đội ngũ cán bộ Thư viện vì những hỗ trợ, giúp đỡ cần thiết cho
học viên trong thời gian học tập cũng như thực hiện Luận văn Thạc sĩ.
Cuối cùng, Tác giả xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới các Giảng viên
của Trường Đại học Ngoại Thương mà đặc biệt là Khoa Kinh tế và kinh doanh
quốc tế vì đã cung cấp cho học viên những kiến thức nền tảng quý báu, giúp học
viên hoàn thành khóa học và Luận văn Thạc sĩ này.
Để đạt được những kết quả nghiên cứu tốt hơn trong tương lai, tác giả rất
mong tiếp tục nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ của các nhà chuyên môn, của
các thầy cô trong Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế, Khoa sau đại học về
phương pháp luận, cách thức tiếp cận khoa học và hợp lý.

4


MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

5


6


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
POP

: điểm bán hàng, điểm mua sắm

của doanh nghiệp. Với mong muốn giải quyết được những tồn tại trên và đưa ra

8


những giải pháp cho công ty, tác giả đã chọn đề tài: “Kinh doanh dịch vụ trade
marketing tại công ty Cổ phần thiết kế Lục Giác” làm nội dung nghiên cứu của luận
văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh doanh thương mại của mình.

Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích, so sánh và
đối chiếu, phương pháp phỏng vấn các đối tượng liên quan để thực hiện nhiệm vụ
nghiên cứu. Nguồn thông tin sơ cấp bao gồm các kết quả phỏng vấn khách hàng,
nhân viên trong công ty về vấn đề đang nghiên cứu. Nguồn thông tin thứ cấp bao
gồm: sách, giáo trình, các luận văn, tài liệu nghiên cứu, báo cáo chuyên môn; tài
liệu, báo cáo nội bộ công ty, báo cáo từ các hãng nghiên cứu thị trường, báo cáo của
các đơn vị, tổ chức tiến hành với mục đích riêng, tuy nhiên có giá trị sử dụng trong
đề tài nghiên cứu này.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ, danh mục
tài liệu tham khảo, phụ lục; nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận chung về kinh doanh dịch vụ trade marketing
Trong chương này, tác giả đề cập đến khái niệm, vai trò của trade marketing,
từ đó, đưa ra khái niệm và các hình thức kinh doanh dịch vụ trade marketing.
Tiếp đó, tác giả đi sâu phân tích các quyết định trong hoạt động kinh doanh
dịch vụ trade marketing, bao gồm hai nội dung chính. Thứ nhất là các quyết định
liên quan đến xác định đoạn thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu và đối thủ
cạnh tranh. Thứ hai là các quyết định liên quan đến kinh doanh, bao gồm các quyết
định liên quan đến thị trường, cải tiến sản phẩm và chăm sóc khách hàng.
Ngoài ra, luận văn cũng trình bày thêm các yếu tố thuộc môi trường bên
trong và bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh dịch vụ trade
marketing nói chung.

vẫn còn nhiều khó khăn.
Thứ hai, về khách hàng mục tiêu, tương ứng với mỗi đoạn thị trường ở trên,
công ty Lục Giác lại xác định cho mình các khách hàng mục tiêu cụ thể. Giai đoạn
2010 – 2016, các khách hàng chủ yếu là các hãng điện thoại, điện tử, điện lạnh như
Lenovo, Huawei, Microsoft, Sony, LG, Toshiba,… Tác giả phân tích các yếu tố ảnh
hưởng đến việc thay đổi doanh thu của từng khách hàng qua các năm. Từ đó thấy
được, ngoài các yếu tố khách quan từ môi trường kinh doanh thì các yếu tố liên
quan đến quan hệ cá nhân cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh.
Thứ ba, về đối thủ cạnh tranh, thông qua quá trình kinh doanh, công ty Lục
Giác nhận biết được một số đối thủ cạnh tranh trực tiếp như công ty Bình Minh,
OZ, 3D. Các yếu tố cạnh tranh chủ yếu đến từ giá cả, chất lượng sản phẩm, phạm vi
cung cấp dịch vụ. Trong đó, công ty Lục Giác có lợi thế về phạm vi cung cấp dịch

10


vụ trên cả nước, tuy nhiên giá cả còn cao, chất lượng một số sản phẩm còn thấp, nên
cần tập trung khắc phục hai vấn đề này để tăng sức cạnh tranh.
Thứ tư, về cải tiến sản phẩm, dựa theo bảng đánh giá chất lượng dịch vụ
hàng năm của khách hàng, bảng phỏng vấn các nhân sự cấp cao của khách hàng
cũng như nhân sự quản lý trực tiếp trong công ty, công ty Lục Giác nhận thấy một
số thực trạng bất cập, ví dụ như chất lượng sản phẩm đôi lúc chưa tốt, loại hình dịch
vụ chưa đáp ứng hết nhu cầu khách hàng. Từ đó có thể đưa ra những định hướng
nhất định để cải thiện tình hình kinh doanh trong thời gian tới.
Thứ năm, về chăm sóc khách hàng, trong quá trình kinh doanh, dựa vào các
phản hồi từ khách hàng, cũng như nội bộ, công ty Lục Giác có những thay đổi về cơ
cấu và quy trình để đáp ứng việc chăm sóc khách hàng tốt hơn. Tuy nhiên, việc
đánh giá một dịch vụ là tốt hay chưa còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan, bởi
vậy việc đào tạo nhân lực đáp ứng cung cấp dịch vụ tốt, khách hàng hài lòng cũng
là điều mà công ty Lục Giác luôn chú trọng.

chung và công ty Lục Giác nói riêng là hoạt động hứa hẹn nhiều tiềm năng. Từ
những phân tích và nhận định về hoạt động kinh doanh của mình giai đoạn 2010 –
2016, công ty Lục Giác sẽ phát hiện ra những điểm mạnh, điểm yếu đến từ các yếu
tố khách quan cũng như chủ quan. Từ đó, công ty sẽ có những quyết định đúng đắn
trong thời gian tới để cải thiện tình hình kinh doanh của mình.

12


LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, các điểm bán hàng ngày càng có ảnh hưởng lớn trong việc ra
quyết định mua hàng của người mua sắm. Bởi vậy, hoạt động marketing tại điểm
bán (hay còn gọi là trade marketing) ngày càng được doanh nghiệp Việt Nam quan
tâm và đánh giá là một công cụ hữu hiệu để giành phần thắng cho hệ thống phân
phối của mình. Điều đó khiến cho vai trò của các nhà cung cấp dịch vụ marketing
tại điểm bán ngày càng trở nên quan trọng. Đặc biệt trong lĩnh vực điện tử, điện
máy, hình thức cung cấp dịch vụ marketing tại điểm bán điển hình là cung cấp các
dịch vụ thiết kế, lắp đặt các vật dụng trưng bày hàng hóa, biển hiệu, bảng hiệu, cột
hình ảnh nhằm tạo dấu ấn về sản phẩm, thương hiệu; cung cấp một số dịch vụ sau
lắp đặt nhằm duy trì hình ảnh trưng bày sản phẩm tại điểm bán một cách đúng quy
chuẩn nhất. Như vậy, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này cần có sự hiểu biết
không chỉ về sản phẩm và thương hiệu mà còn cả người mua sắm tại điểm bán.
Công ty Cổ phần thiết kế Lục Giác ra đời năm 2005, hoạt động trong lĩnh
vực kinh doanh dịch vụ Trade Marketing đến nay đã hơn 11 năm, là một trong
những doanh nghiệp nổi bật trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ marketing tại điểm
bán, đặc biệt với các mặt hàng điện tử, điện lạnh. Đứng trước sự cạnh tranh mạnh
mẽ trong ngành, công ty Lục Giác cũng gặp phải một số khó khăn, hạn chế trong
việc mở rộng thị trường, cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ cũng như chăm sóc

thức lý thuyết phù hợp.
Luận văn thạc sỹ:

• Phạm Thanh Phương (2013), Giải pháp hoàn thiện kinh doanh dịch vụ Mobile
Marketing tại Tổng công ty Viễn thông Viettel, Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh
doanh. Luận văn này đề cập đến việc kinh doanh một loại hình dịch vụ
marketing đặc thù tại một công ty cụ thể. Tác giả đã tham khảo cách thức mà
luận văn đưa ra vấn đề, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp để triển khai đề
tài của mình. Tuy nhiên, loại hình dịch vụ kinh doanh hoàn toàn khác nhau, và
đơn vị tổ chức kinh doanh hoàn toàn khác nhau.

• Hoàn thiện ứng dụng trade marketing vào hoạt động kinh doanh của công ty
Frieslandcampina Việt Nam giai đoạn 2010 – 2012, Luận văn thạc sỹ. Luận văn
này đề cập đến trade marketing và tầm quan trọng của nó đối với hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Tác giả đã tham khảo kiến thức này để hoàn thiện phần
lý thuyết trong bài nghiên cứu của mình.
Tài liệu, báo cáo nước ngoài:

• Mariana Manso (2015), Point of Sales Marketing Strategies, Luận văn thạc sỹ
Business Strategy, trường đại học quốc tế Laureate, Lisbon, Bồ Đào Nha. Tác
giả đã tham khảo cách mà luận văn đưa ra định nghĩa về trade marketing, tuy
nhiên chỉ dừng lại ở đó vì mục đích nghiên cứu của hai luận văn là khác nhau.

14


• Toby Desforges (2013), What is the difference between Trade Marketing and
Shopper Marketing? Trên thực tế, nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý đều đồng
nhất hai khái niệm marketing tại điểm bán và marketing hướng đến người mua
sắm. Tác giả đã tham khảo cách phân biệt sự khác nhau giữa hai khái niệm này

Cổ phần thiết kế Lục Giác trên địa bàn cả nước Việt Nam.

15


• Về mặt thời gian: thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ trade marketing của
công ty Cổ phần thiết kế Lục Giác giai đoạn 2010 – 2016 và định hướng cho
giai đoạn 2017 – 2020.

• Về mặt nội dung: các quyết định trong hoạt động kinh doanh dịch vụ trade
marketing (lĩnh vực điện tử, điện lạnh), không bao gồm kinh doanh online qua
mạng.

5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp luận thống kê, tổng hợp
và phân tích, so sánh và đối chiếu, phương pháp phỏng vấn các đối tượng liên quan
để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu.
Loại thông tin: thông tin sơ cấp, thông tin thứ cấp.
Nguồn thông tin:

• Nguồn thông tin sơ cấp bao gồm các kết quả phỏng vấn khách hàng, nhân viên
trong công ty về vấn đề đang nghiên cứu.

• Nguồn thông tin thứ cấp bao gồm: cơ sở lý thuyết (sách, giáo trình về hoạt động
kinh doanh, quản trị kinh doanh, marketing; các luận văn, tài liệu nghiên cứu,
báo cáo chuyên môn, tài liệu nghiên cứu được bộ ban ngành kiểm duyệt và phát
hành); thông tin về công ty Cổ phần thiết kế Lục Giác (lịch sử hình thành và
phát triển của công ty Cổ phần thiết kế Lục Giác, tầm nhìn và giá trị cốt lõi, sơ
đồ cơ cấu tổ chức, thông tin về quá trình hoạt động, khách hàng mục tiêu, các
loại hình dịch vụ cung cấp, báo cáo kết quả kinh doanh 2010 – 2016); thông tin



CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ
TRADE MARKETING
1.1. Giới thiệu chung về kinh doanh dịch vụ trade marketing
1.1.1. Khái niệm trade marketing
Theo Toby Desforgets – một chuyên gia marketing người Anh, trade
marketing hay còn gọi là marketing tại điểm bán đã ra đời khoảng 30 năm. Ban đầu,
nó được hình thành với chức năng tổ chức các chương trình xúc tiến bán hàng, phù
hợp với các khách hàng bán lẻ lớn. Vai trò của trade marketing trở nên ngày càng
quan trọng trong thập niên 90. Sự phân chia truyền thống, hợp nhất bán lẻ và sự gia
tăng các danh mục quản lý là nguyên nhân khiến nhiều công ty lớn kinh doanh
trong ngành hàng tiêu dùng nhanh nhận thấy rằng cần có sự hỗ trợ hơn nữa từ việc
quản trị phòng trade. Vì vậy, trade marketing – marketing tại điểm bán đã phát triển
thành một chức năng chuyên biệt để hỗ trợ cho hoạt động marketing và kinh doanh,
có trách nhiệm với sự phát triển và thực hiện các hoạt động tại điểm bán. So với
marketing nói chung, trade marketing là một khái niệm mới mà cho đến nay vẫn
chưa có một định nghĩa thống nhất về nó. Tại những thời điểm khác nhau, những
khu vực khác nhau lại có các quan điểm khác nhau về trade marketing.
Theo trang web trường Monash Business School, Úc, trade marketing là sự tập
trung các nỗ lực marketing của các nhà cung cấp vào kênh phân phối ("thương
mại"), chủ yếu là các chuỗi bán lẻ quy mô lớn nhằm thu hút, thúc đẩy người mua
sắm thực hiện hành vi mua hàng. Quan điểm này xác định được đối tượng chịu tác
động của trade marketing, tuy nhiên, người đọc chưa thể hiểu được cách thức diễn
ra hoạt động trade marketing như thế nào, các nỗ lực marketing ở đây là gì, và nó
diễn ra ở đâu.
Theo Thời báo kinh tế “The Economic Times” của Ấn Độ, khái niệm trade
marketing trở nên rõ ràng hơn. Nó được hiểu là một ngành marketing mở rộng với
mục đích làm tăng nhu cầu của các đối tác trong chuỗi cung ứng, ví dụ: các nhà bán
buôn, bán lẻ, nhà phân phối chứ không chỉ là cấp độ khách hàng. Theo đó, trade

Như vậy, một cách đơn giản và chính xác nhất, chúng ta có thể hiểu trade
marketing là một hình thức thực hiện các hoạt động marketing hướng đến các điểm
bán, các kênh phân phối, với mục tiêu là biến những người có ý định hoặc nhu cầu
mua hàng thành người mua thực sự hay nói cách khác, trade marketing là những
hoạt động thúc đẩy việc quyết định mua hàng tại điểm bán, điểm phân phối.
1.1.2. Vai trò của trade marketing
Vai trò ngày càng quan trọng của các điểm bán hàng và sự phát triển nhanh
chóng của chúng khiến cho vai trò của trade marketing cũng ngày càng được nâng

19


cao. Có ba đối tượng chính chịu tác động trực tiếp của trade marketing, đó là doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ trade marketing, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ trade
marketing và người tiêu dùng. Tương ứng với đó, vai trò của trade marketing cũng
có sự khác biệt với từng đối tượng.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trade marketing
Trade marketing ngày càng phát triển, nghĩa là các doanh nghiệp sẽ gia tăng
nhu cầu thực hiện hoạt động marketing tại điểm bán, phát triển nhiều hình thức để
tiếp cận khách hàng tại kênh phân phối hơn. Điều này làm phát sinh nhu cầu cần
được cung cấp các dịch vụ giúp thực hiện, triển khai các hoạt động đó, đồng nghĩa
với việc kinh doanh dịch vụ trade marketing cũng ngày càng phát triển theo.
Vai trò của trade marketing ở đây là giúp các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ trade marketing nắm được các thông tin, yêu cầu từ thị trường, khách hàng,
ngành hàng, các đối tượng mua sắm, tiêu dùng. Các doanh nghiệp sẽ biết được
khách hàng cần gì, mình có thể cung cấp gì cho họ. Cùng với sự phát triển không
ngừng, các doanh nghiệp sẽ biết được mình có thể thực hiện được các hoạt động
nào, thay đổi, bổ sung các loại hình dịch vụ nào cho phù hợp với nhu cầu của khách
hàng.
Đối với doanh nghiệp sử dụng dịch vụ trade marketing


Quản lý những mặt cốt yếu: công ty và khách hàng, công ty và người tiêu
dùng, khách hàng và người mua sắm.



Quản lý điểm mua sắm, bán hàng (Point of purchase – POP).



Quản lý nguồn lực bên trong.
Trade marketing có vai trò cung cấp thông tin một cách chính xác và kịp thời

cho bộ phận kinh doanh, marketing và toàn bộ công ty về ngành hàng, chỉ tiêu cũng
như tất cả các hoạt động hỗ trợ cho bộ phận kinh doanh để đạt được mục tiêu của
công ty và của từng ngành hàng.
Đối với người tiêu dùng, hay cụ thể hơn là người mua sắm tại các điểm bán
Thực tế là hiệu quả của các loại hình quảng cáo đối với khách hàng ngày một
giảm, trade marketing là một hình thức khác hỗ trợ cho nhãn hàng trong việc tác
động đến quá trình lựa chọn sản phẩm của khách hàng. Trade marketing sẽ thay mặt
công ty thuyết phục và cho các đối tượng mua sắm thấy những quyền lợi hữu hình
lẫn vô hình khi chọn sản phẩm của doanh nghiệp và làm cho khách hàng ngày càng
trung thành với sản phẩm và thương hiệu của doanh nghiệp hơn.
Vai trò cơ bản của trade marketing ở đây là phối hợp sử dụng các công cụ
marketing để chuyển đổi những đề xuất của người tiêu dùng vào những đề xuất của
người mua hàng tại kênh phân phối được xác định tùy theo mức độ của khách hàng.
Muốn thực hiện được điều này, trade marketing phải giữ vững vai trò chủ đạo của
mình với người mua hàng, tập trung nghiên cứu đối tượng mua hàng. Trade
marketing phải là người hiểu rõ hơn ai hết về hoạt động mua sắm từng loại sản


Từ khái niệm dịch vụ nói chung, kết hợp với khái niệm trade marketing, ta
có thể hiểu dịch vụ trade marketing là kết quả tạo ra do các hoạt động trước, trong
và sau quá trình tương tác giữa các doanh nghiệp có nhu cầu thực hiện trade
marketing với những đơn vị trực tiếp thực thi hoạt động trade marketing, tại những

22


cấp độ khác nhau, trong từng thời điểm nhất định. Mục đích cuối cùng của việc
tương tác này là thiết lập mối quan hệ giữa nhà cung cấp và kênh phân phối, thông
qua các chiến lược về sản phẩm, logistics và marketing tại điểm bán để tiếp cận
được khách hàng, thúc đẩy việc quyết định mua hàng tại điểm bán, điểm phân phối.
Dịch vụ trade marketing bản thân trong quá trình thực hiện nó vẫn mang tính
chất của một ngành sản xuất vật chất và nó là ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Tùy
theo những loại hình cụ thể mà có thể phân chia ra là hoạt động sản xuất thuần túy,
quá trình sản xuất tách rời quá trình tiêu thụ (sản xuất xong, tổ chức dịch vụ bán sản
phẩm); hoặc sản xuất đến đâu tiêu thụ đến đó (quá trình sản xuất gắn liền với quá
trình tiêu thụ - như là tổ chức dịch vụ tiêu thụ (bán hàng). Nếu như xét về tiêu thụ
thì ngành dịch vụ trade marketing giống như hoạt động dịch vụ, vì vậy người ta
dùng khái niệm dịch vụ ở đây. Lưu ý rằng, nói dịch vụ trade marketing không có
nghĩa nó thuộc ngành dịch vụ, không thuộc ngành sản xuất vật chất.
1.1.4. Các hình thức kinh doanh dịch vụ trade marketing theo từng giai đoạn
Quá trình kinh doanh dịch vụ trade marketing cũng là một ngành kinh doanh
vật chất vì cũng bao gồm 3 yếu tố (công cụ lao động, đối tượng lao động, và sức lao
động). Kinh doanh dịch vụ trade marketing là không thể thiếu được đối với việc
thực thi các hoạt động trade marketing, cũng như là cầu nối giữa việc sản xuất và
bán hàng. Song song với sự phát triển của trade marketing theo từng giai đoạn, thì
dịch vụ trade marketing và các hình thức kinh doanh dịch vụ này cũng ra đời và
phải triển theo từng giai đoạn để phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp, các nhãn
hiệu trong quá trình triển khai, thực hiện kế hoạch trade marketing, đạt được các

Giai đoạn tối ưu hóa, khi trade marketing lấy người mua sắm làm trọng tâm,
thì đối tượng chính của trade marketing giai đoạn này chính là người mua sắm. Với
nhiệm vụ là thúc đẩy quá trình ra quyết định mua hàng của khách hàng, trade
marketing vẫn thuộc phòng kinh doanh nhưng đỏi hỏi phải có hiểu biết về nghiên
cứu thị trường, quản trị thương hiệu, thấu hiểu POP và người mua sắm. Bởi vậy,
kinh doanh dịch vụ trade marketing giai đoạn này là tập trung vào thị trường, khách
hàng, cung cấp những thông tin hữu ích để các doanh nghiệp thực hiện kế hoạch
bán hàng một cách hiệu quả nhất. Ngoài việc ảnh hưởng đến các POP như nhiệm vụ
của giai đoạn cơ bản, giai đoạn này trade marketing phải ảnh hưởng đến người mua
sắm, nên việc kinh doanh dịch vụ trade marketing có thể diễn ra dưới các hình thức
như sau:

• Thiết kế các vật liệu quảng cáo trưng bày (POSM, display), thiết kế và triển khai
các giải pháp trưng bày sáng tạo;

• Thiết lập mô hình trưng bày sản phẩm tại POP;
• Xây dựng các hoạt động kích hoạt thương hiệu tại POP;

24


• Tư vấn về xây dựng thương hiệu cho POP.
Hoạt động kinh doanh dịch vụ trade marketing trở nên nâng cao và đòi hỏi
khắt khe hơn vì đối tượng của trade marketing giai đoạn này là những người mua
hàng, họ là người trực tiếp thanh toán nên họ luôn có nhiều yêu cầu, nhiều đòi hỏi
và khó thuyết phục hơn cả.
1.1.4.3. Hình thức kinh doanh dịch vụ trade marketing giai đoạn đột phá
Khi trade marketing phát triển sang giai đoạn đột phá, thì sẽ trở thành một bộ
phận độc lập. Ngoài các nhiệm vụ như ở giai đoạn cơ bản và tối ưu hóa, trade
marketing giai đoạn này tại các POP sẽ như là một kênh truyền thông quảng cáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status