I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao tiếp trong mối quan hệ liên nhân
được thể hiện dưới rất nhiều hình thức; ngôn
ngữ viết, ngôn ngữ nói, ngôn ngữ cử chỉ, cơ
thể, ngôn ngữ của ánh mắt, khoảng cách, của
giọng nói, thái độ, v.v... Thậm chí, một
khoảng lặng trong một lần giao đáp cũng có
thể nói lên rất nhiều điều. Người có khả năng
giao tiếp tốt là người nắm bắt được tất cả
những yếu tố thuộc về ngôn ngữ và phi ngôn
ngữ, biết cách cân bằng, điều hòa các yếu tố
này sao cho phù hợp với từng đối tượng trong
từng ngữ cảnh giao tiếp. Và đó là quá trình
học hỏi, tích lũy lâu dài, có khi cả một đời
người.
Trong phạm vi của bài báo này, tác giả
chỉ giới hạn nội dung ở những kỹ năng đàm
thoại trong ngữ cảnh giao tiếp thông thường
hàng ngày, với các yếu tố liên quan đến ngôn
ngữ nói, nhất là từ góc độ lớp vỏ ngôn ngữ và
những tầng nghĩa phái sinh có thể có. Nói một
cách đơn giản, tác giả cố gắng trình bày bản
chất của vấn đề ‘ý tại, ngôn ngoại’ là gì. Qua
đó, những mẹo vặt, bài học rút ra được sẽ giúp
độc giả củng cố thêm kỹ năng giao tiếp của
mình trong đời sống hàng ngày. Đây cũng là
một phần nội dung chương trình tập huấn về
Kỹ năng đàm thoại mà tác giả có dịp được
tham gia tại RELC, Singapore.
KỸ NĂNG ĐÀM THOẠI TRONG TIẾNG ANH
NHỮNG KINH NGHIỆM HỮU ÍCH CHO GIAO TIẾP HÀNG NGÀY
khác nhau; giao dịch công việc, chuyện
phiếm, thăm hỏi, phỏng vấn, v.v… Và do đó,
phong cách thể hiện cũng rất khác nhau, sử
dụng loại ngôn ngữ nói thay đổi cách thức từ
rất xã giao, trịnh trọng (very formal) đến mức
độ thân tình, thậm chí suồng sã (very
informal). Bài báo này giới hạn vấn đề tìm
hiểu ở mục đích đàm thoại quanh các chủ đề
giao tiếp thông thường như thăm hỏi, chuyện
phiếm… giữa những người quen biết nhau,
trong những mối quan hệ liên nhân như bạn
bè, đồng nghiệp, láng giềng, bạn học, … Do
vậy, loại ngôn ngữ nói được sử dụng ở đây
thuộc về phong cách thân mật, không xã giao
(formal).
• Ngữ dụng (pragmatics): Theo
Hornby (2000:990), ‘ngữ dụng’ được định
nghĩa là “việc nghiên cứu cách thức ngôn ngữ
được sử dụng để diễn tả điều người ta thực sự
muốn nói trong một hoàn cảnh cụ thể, nhất là
khi những lời được thốt ra có vẻ như lại mang
một ý nghĩa khác”.
Bài báo trình bày vấn đề đàm thoại hàng
ngày từ góc độ phân tích ngữ dụng là nhằm
mục đích chỉ ra những yếu tố liên quan mà khi
giao tiếp, chúng ta không để ý, hoặc coi nhẹ.
Đây chính là một trong những nguyên nhân
chính của việc hiểu nhầm nội dung giao tiếp,
dẫn đến hiểu sai về nhau, hay thực hiện khác
Ví dụ: a table (cái bàn) trong nhóm đồ
đạc nội thất có nghĩa rất khác với a table (một
bảng/ biểu) trong thuật ngữ tin học hay tài
chính, kế toán.
Tương tự như vậy, bát tiết (play truant) là
từ sinh viên, học sinh thường nói với nhau khi
chúng bỏ giờ học, trốn tiết. Nhưng giáo viên
khi báo về cho phụ huynh chỉ có thể nói là
con em họ đã bỏ giờ (miss a lesson/ play
truant), chứ không thể dùng từ bát tiết.
Phương ngữ (dialect) và cách phát âm
của từng vùng miền (accent) cũng có thể đạt
được sự chính xác trong cùng một cộng đồng,
nhưng lại gây khó khăn cho người nghe đến từ
cộng đồng khác, từ vùng dân cư khác. Điều
này đặc biệt thấy rõ trong cách phát âm của
người Hà Nội vùng Sơn Tây, Ba Vì, hay so
với giọng phát âm, cách dùng từ của người dân Quảng Trị, Quảng Nam.
Một vài ví dụ trên cho thấy là tính chính
xác khi nói không bao trùm sự chính xác về
phát âm, từ vựng và ngữ pháp chung cho mọi
đối tượng nói và nghe, ở mọi vùng miền.
Chừng nào người nói chuyển tải được thông
điệp họ muốn nói tới người nghe (get the
message across) thì đã có thể coi là thông tin
được truyền đi chính xác.
3.2. Tính trôi chảy
tiếp hàng ngày dành cho người học Tiếng
Anh. Nhưng loại sách tương tự dành cho
người học Tiếng Việt thì chưa thấy phổ biến
bằng. Nếu có, đây sẽ là một nguồn tham khảo
hữu ích cho những ai, dù là người Việt, muốn
trau dồi, phát triển hơn nữa khả năng giao tiếp
của mình. Tuy vậy, chúng ta cũng có thể tham
khảo loại sách song ngữ về đàm thoại Tiếng
Anh bằng cách xem phần dịch Tiếng Việt.
Một cách tham khảo hiệu quả hơn là chú ý
học cách diễn đạt, ứng xử khi giao tiếp từ
chính các cuộc đàm thoại hàng ngày của
chúng ta và rèn luyện, vận dụng các kỹ năng
này vào thực tế cuộc sống.
3.3. Phân tích ngữ dụng
Trong nhiều trường hợp khi người nói đã
phát âm rất chuẩn xác, sử dụng đúng từ, đúng
ngữ pháp, người nghe vẫn có thể không hiểu
hoàn toàn thông điệp của người nói, thậm chí
còn hiểu sai. Vì sao vậy?
Theo Tiến sĩ Lim, B.S., RELC, đàm thoại
trên thực tế diễn ra đồng thời ở hai lớp nghĩa:
- Lớp thứ nhất, từ những âm tiết phát ra
(articulation), người ta hiểu được ngữ nghĩa
của các âm tiết đó (comprehension);
- Lớp thứ hai, từ việc phân tích ngữ nghĩa
của các từ trong ngữ cảnh (pragmatics), người
ta phiên dịch được ý của người nói
(interpretation), mà không phải lúc nào người
nói cũng muốn nói rõ, hoặc có khả năng diễn
độ hành vi ngôn trung, hay xa hơn nữa là hành
vi mượn lời. Trừ trường hợp các phát ngôn
chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin, thì
hành vi ngôn ngữ có thể dừng ở cấp độ hành
vi tạo lời.
Ví dụ: A: Where are you from? (A: Anh
quê ở đâu? (Anh từ đâu đến?))
B: Hoa Binh. (B: Tôi người Hòa Bình.
(Hòa Bình)).
Với đặc thù về văn hóa và ngôn ngữ của
Tiếng Việt, các hành vi ngôn ngữ trong giao
tiếp đồng thời xảy ra ở cả ba cấp độ là chuyện
rất thường xuyên. Vì lẽ đó, trên thực tế, chúng
ta vẫn gặp những trường hợp phản ứng quá
mức từ phía người nghe, hay sự “bằng mặt mà
không bằng lòng”, một phần cũng là do sự
nhạy cảm quá mức khi giao tiếp hay phiên
dịch không sát ý người nói.
Trong ngữ dụng học, các nhà nghiên cứu
như Austin (1962) hay Searle (1968) có
những quan điểm khác nhau về hành vi ngôn
ngữ. Searle tuy đồng tình với Austin, nhưng
đã có một bước phát triển hiện đại, thông
thoáng hơn khi ông cho rằng không cần phải
phân biệt giữa hành vi tạo lời và hành vi ngôn
trung bởi vì trên thực tế giao tiếp, hai hành vi
này hầu như luôn đồng thời xảy ra. Searle
phân loại các hành vi ngôn ngữ khi giao tiếp
theo các nhóm chức năng sau đây:
• Thể hiện, miêu tả (Representatives):
dinner sometime. (Anh hứa lúc nào đó sẽ đưa
em đi ăn tối).
• Tuyên bố (Declarations): là việc
người nói tuyên bố những điều sẽ có thể gây
ra những thay đổi lập tức về tình trạng, cải
thiện mối quan hệ (VD 1), hay việc người nói
có quyền lực nhất định để thực hiện tuyên bố
đã phát ra (VD 2).
VD 1: I did say I loved you. (Anh đã nói
yêu em rồi mà).
VD 2: I hereby declare you man and wife.
(Sau đây tôi xin tuyên bố hai người là vợ chồng).
• Diễn cảm (Expressives): là việc
người nói giãi bày, thổ lộ trạng thái tình cảm,
tâm lý.
VD: I am troubled by what has
happened. (Tôi áy náy vì việc đã xảy ra).
I love Martha. (Mình yêu Martha).
(Tất cả những ví dụ trên đây được dẫn từ
các bài giảng của tiến sĩ Lim, B.S. giảng viên
của Trung tâm Tiếng Anh khu vực, Singapore
và của thạc sĩ Hoàn Xuân Thơm, giảng viên
đại học Ngoại ngữ, ĐH Quốc gia Hà Nội.)
Bàn về kỹ năng đàm thoại, ngoài những
điều trình bày ở trên còn có rất nhiều vấn đề
liên quan, chẳng hạn; những điều kiện
(Felicity) để các phát ngôn có nghĩa (making
sense) và có giá trị (valid), những hành vi gây
mất thể diện (Face Threatening Acts), hay lý
thuyết về hàm ý, hàm ngôn (Conversational
I want to tell you that … (Tôi muốn nói
với chị là …).
Còn khi người nghe không nghe rõ, hay
không hiểu hết ý của người nói thì cần hỏi lại
cho rõ nghĩa:
You mean …? Is that right that…? (Có
phải anh định nói là …? Có đúng là…?).