Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Bán hàng đóng vai trò rất quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi
doanh nghiệp mà với cả sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Đối với doanh nghiệp, hoạt động bán hàng chính là điều kiện tiên quyết giúp
cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển, thông qua hoạt động bán hàng doanh
nghiệp có được doanh thu, nhanh chóng thu hồi vốn kinh doanh đồng thời tạo
ra lợi nhuận. Còn đối với nền kinh tế quốc dân thì việc thực hiện tốt khâu bán
hàng là điều kiện để kết hợp chặt chẽ giữa lưu thông hàng hóa và lưu thông
tiền tệ, thực hiện chu chuyển tiền mặt, ổn định và củng cố giá trị đồng tiền, là
điều kiện để ổn định và nâng cao đời sống người lao động nói riêng và của
toàn xã hội nói chung. Vậy vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để thực hiện tốt
quá trình bán hàng, rút ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa từ đó nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Một trong những biện pháp được đưa ra là
tổ chức tốt công tác kế toán bán hàng. Kế toán bán hàng là phần hành kế toán
chủ yếu trong công tác kế toán của doanh nghiệp, có vai trò hết sức quan
trọng góp phần đắc lực trong hoạt động bán hàng của mỗi doanh nghiệp, cung
cấp thông tin nhanh chóng để từ đó các nhà quản trị phân tích đánh giá lựa
chọn phương án đầu tư có hiệu quả.
Ngày nay khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) đã mở ra cho các doanh nghiệp rất nhiều cơ hội
nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít những thách thức to lớn. Từ khi tham
gia vào một tổ chức lớn như vậy nước ta đã có những thay đổi về đường lối
và chính sách nhằm phù hợp với sự phát triển chung của thế giới. Hệ thống
chuẩn mực của nước ta ra đời cũng nhằm mục đích hoàn thiện hơn công tác
kế toán tại mỗi doanh nghiệp. Tuy nhiên hệ thống chuẩn mực vẫn đang trong
1
Luận văn tốt nghiệp
quan trong quá trình bán. Tìm hiểu rõ bản chất của kế toán tìm ra những tồn
tại và nguyên nhân của tồn tại đó từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác kế toán bán hàng.
Mục tiêu cụ thể:
Về lý luận: Thông qua các quy định trong chuẩn mực và chế độ làm rõ
hơn bản chất của kế toán bán hàng.
Về thực trạng: Thông qua tìm hiểu thực tế khảo sát kế toán bán hàng tại
công ty, tác giả tìm ra những ưu điểm của doanh nghiệp và những bất cập còn
tồn tại và những nguyên nhân của bất cập đó trong hệ thống kế thống kế toán
bán hàng. Từ việc phân tích những bất cập còn tồn tại tác giả đưa ra các giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng tại đơn vị thực tập.
1.4. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về kế toán nghiệp vụ bán hàng ở tại công ty
Tư vấn đầu tư và Thương Mại – Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Số
liệu nghiên cứu tập trung ở trong tháng 1 năm 2009. Đề tài chỉ giới hạn ở
nhóm sản phẩm dây chuyền thiết bị còn các sản phẩm khác không thuộc đối
tượng nghiên cứu của đề tài.
1.5. Kết cấu luận văn.
Với phạm vi của đề tài nghiên cứu nêu trên thì ngoài các phần lời cám
ơn, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ hình vẽ, danh mục từ viết
3
Luận văn tốt nghiệp
tắt, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn của em có kết cấu gồm
4 chương sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài.
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán nghiệp vụ bán hàng.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng kế toán nghiệp vụ bán
hàng tại Công ty tư vấn đầu tư và thương mại.
Chương 4: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán nghiệp vụ bán
và phí thu thêm ngoài giá bán nếu có.
Trong quá trình bán hàng do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan có
thể phát sinh trường hợp làm giảm trừ doanh thu như chiết khấu thương mại,
giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thanh toán.
Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho
khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.
Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém
phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
Giá trị hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là
tiêu thụ bị khách hàng trả lại hoặc từ chối thanh toán.
Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua
do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn hợp đồng.
2.2. Lý thuyết cơ bản về kế toán bán hàng.
2.2.1. Chứng từ kế toán.
Các doanh nghiệp khác nhau thì có các phương thức bán hàng khác nhau,
tùy vào mỗi phương thức sẽ có các chứng từ phù hợp.
Đối với doanh nghiệp chuyên bán buôn thì sử dụng các chứng từ như:
Hóa đơn giá trị gia tăng (đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng
theo phương pháp khấu trừ), hóa đơn bán hàng thông thường (đối với doanh
nghiệp nộp thuế theo phương pháp trực tiếp hoặc doanh nghiệp kinh doanh
những mặt hàng không chịu thuế giá trị gia tăng), phiếu xuất kho, các chứng
từ phản ánh tình hình thanh toán, các chứng từ về chi phí phát sinh trong quá
trình bán hàng, hợp đồng kinh tế với khách hàng ....
Đối với doanh nghiệp chuyên bán lẻ thì sử dụng các chứng từ sau:
6
Luận văn tốt nghiệp
Bảng kê bán lẻ hàng hóa hoặc hóa đơn giá trị gia tăng, phiếu xuất kho,
các chứng từ phản ánh tình hình thanh toán, các chứng từ về chi phí phát sinh
trong quá trình bán hàng ...
quan trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành.
- Khi người mua có quyền hủy bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó
được nêu trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả
năng hàng bán có bị trả lại hay không.
Những lợi ích mà doanh nghiệp sẽ đạt được là khoản tiền thu được từ
việc bán hàng hóa hoặc lợi nhuận ước tính từ việc sử dụng hàng hóa, thu nhập
ước tính từ sự tăng giá trị hàng hóa.
Khi doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn những rủi ro và những lợi ích
kể trên thì mới có thể được xác định doanh thu tiêu thụ.
* Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người
sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
Trong hầu hết các trường hợp thì thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro
trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp
hoặc quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua. Tuy nhiên trong một số
trường hợp lại có sự tách rời hai quyền này. Ta có thấy rõ nhất trong trường
hợp mua bán hàng trả góp, lúc này quyền quản lý và quyền kiểm soát đã được
chuyển giao nhưng quyền kiểm soát chưa được chuyển giao. Điều này có
nghĩa là phần lớn rủi ro và lợi ích của việc sở hữu hàng hóa gắn liền với
quyền kiểm soát quản lý được chuyển giao cho người mua mặc dù quyền sở
8
Luận văn tốt nghiệp
hữu hợp pháp thuộc về người bán. Người bán chỉ thực sử trở thành chủ sở
hữu khi đã hoàn thành xong nghĩa vụ thanh toán.
* Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
Doanh nghiệp cần xác định được giá trị tương đương của khoản đã thu
hoặc sẽ thu được trong tương lai.
* Doanh thu đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch
bán hàng.
Doanh thu chỉ được ghi nhận khi đã tương đối chắc chắn rằng doanh
dịch vụ khác không tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó được
coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác
định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều
chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi
không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì
doanh thu được xác định được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa dịch
vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả
thêm hoặc thu thêm. Khi doanh nghiệp nhận hàng trước rồi mới trả hàng sau
thì hàng hóa coi như mua chịu, kế toán sẽ phản ánh giá trị của hàng hóa nhận
về trước vào tài khoản 156. Khi trả hàng kế toán mới ghi nhận doanh thu theo
giá trị hợp lý của hàng hóa đem trao đổi vào tài khoản 511. Còn đối với
trường hợp doanh nghiệp giao hàng trước rồi mới nhận hàng về sau thì hàng
hóa coi như bán chịu. Khi giao hàng kế toán phản ánh doanh thu theo giá trị
hợp lý của hàng đem trao đổi vào tài khoản 511 sau khi nhận hàng thì kế toán
ghi nhận vào tài khoản 156 theo giá hợp lý của hàng hóa nhận về theo giá
chưa thuế giá trị gia tăng.
10
Luận văn tốt nghiệp
Khi doanh nghiệp áp dụng phương thức gửi hàng thì khi xuất hàng đem
gửi thì kế toán theo dõi trên tài khoản 157. Khi hàng gửi bán xác định là tiêu
thụ đã thỏa mãn điều kiện ghi nhận doanh thu thì mới được phản ánh vào tài
khoản 511.
Trong các trường hợp doanh nghiệp xuất đi gửi bán nhưng lại thừa so với
hợp đồng thì kế toán ghi nhận vào tài khoản 338 (3381), còn trường hợp xuất
hàng thiếu thì kế toán ghi nhận vào tài khoản 138 (1381). Đối với doanh
nghiệp gửi bán đại lý thì chi phí hoa hồng đại lý kế toán hạch toán vào tài
khoản 641 là số phần trăm hoa hồng phải trả cho bên nhận đại lý. Các chi phí
phát sinh trong quá trình gửi hàng đại lý nếu doanh nghiệp phải chịu thì hạch
toán vào tài khoản 641 còn nếu doanh nghiệp chỉ chi hộ cho bên nhận đại lý
doanh nghiệp đem xuất bán nhưng do một lý do nào đó khách hàng không
chấp nhận và trả lại hàng bán thì hạch toán vào tài khoản 531. Cuối kỳ phải
có bút toán kết chuyển các khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và
chiết khấu thương mại về tài khoản 511 để xác định doanh thu trong kỳ.
2.2.3. Tổ chức sổ kế toán.
Khi các nghiệp vụ phát sinh kế toán mở các sổ kế toán tổng hợp và sổ kế
toán chi tiết theo dõi doanh thu và giá vốn. Tùy theo mỗi hình thức kế toán thì
kế toán phải mở các sổ khác nhau phù hợp với quy định của chế độ.
2.3. Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Bán hàng có vai trò quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi doanh
nghiệp mà với cả sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội. Nhận
biết được vai trò và tầm quan trọng của bán hàng nhiều nhà nghiên cứu đã có
12
Luận văn tốt nghiệp
những công trình tìm hiểu về đề tài này. Song đối với mỗi tác phẩm nghiên
cứu thì tác giả lại đề cập đến vấn đề này ở các góc độ khác nhau.
Với đề tài “Kế toán bán hàng ở công ty cổ phần Tràng An trong điều
kiện vận dụng chuẩn mực kế toán 14 Doanh thu và thu nhập khác” tác giả
Hoa Phong Lan (Trường Đại học Thương Mại) – 2006. Sau khi đã đưa ra
những tồn tại của doanh nghiệp, tác giả đã có một số đề xuất sau:
Do doanh nghiệp khi xuất hàng bán đã không sử dụng phiếu xuất kho mà
sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng thay cho phiếu xuất vì vậy tác giả đã đề nghị
phải sử dụng thêm cả phiếu xuất kho cho mỗi nghiệp vụ bán hàng. Bên cạnh
đó tác giả còn đưa ra mẫu phiếu xuất kho để doanh nghiệp có thể áp dụng,
biện pháp này đưa ra rất phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp. Nhưng tác
giả mới chỉ đưa ra mẫu phiếu mà không chỉ rõ rằng phiếu này sẽ gồm mấy
liên và quá trình luân chuyển chứng từ xuất kho được như thế nào.
Doanh nghiệp có tồn tại trong việc vận dụng tài khoản không đúng so
với chế độ. Như khi khách hàng trả tiền hàng sớm thì kế toán hạch toán vào
thị trường không là nhân tố chính tác động đến việc trích lập dự phòng. Việc
lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho khi hàng hóa ở doanh nghiệp luôn ở tình
trạng ứ đọng. Nếu hàng hóa của doanh nghiệp luôn được luân chuyển một
cách liên tục thì việc lập dự phòng là việc không cần thiết. Bên cạnh đó, tác
giả cần phải đưa ra quy định về lập dự phòng như thế nào và việc trích lập dự
phòng phải được theo dõi chi tiết cho từng mặt hàng và lập bảng kê tổng hợp
kèm theo các bằng chứng giảm giá của giá trị thuần để làm chứng từ khi trích
lập. Đồng thời kế toán phải theo dõi trên sổ chi tiết của từng mặt hàng để
tránh nhầm lẫn với giá vốn của hàng sản xuất được.
14
Luận văn tốt nghiệp
Với luận văn tốt nghiệp “Hoàn thiện kế toán bán hàng ở công ty vật tư
bưu điện” tác giả Nguyễn Thị Thanh Hoa (Trường Đại học Thương Mại ) -
2006. Đề tài này tác giả đã tìm hiểu và hoàn thiện phương pháp kế toán bán
hàng nên sau khi tìm hiểu về thực trạng của doanh nghiệp tác giả đã đưa ra
một số kiến nghị như sau:
Thực trạng của doanh nghiệp cũng tồn tại vấn đề về việc sử dụng chứng
từ, khi xuất kho hàng bán cho khách hàng công ty đã lập phiếu xuất kho kiêm
vận chuyển nội bộ mà không sử dụng phiếu xuất kho để phản ánh lượng hàng
hóa xuất ra. Doanh nghiệp đã không sử dụng đúng chứng từ phản ánh nghiệp
vụ xuất kho để bán nên tác giả đã đề nghị phải sử dụng thêm phiếu xuất kho.
Việc lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ là không chính xác so với
quy định của chế độ, các trường hợp sử dụng phiếu xuất kho kiêm vận chuyển
nội bộ như: Xuất hàng hóa bán hàng lưu động; các cơ sở sản xuất kinh doanh
xuấ điều chuyển hàng hóa cho các cơ sở hạch toán phụ thuộc như các chi
nhánh, cửa hàng ... ở khác địa phương để bán hoặc xuất điều chuyển giữa các
chi nhánh, đơn vị phụ thuộc về cơ sở kinh doanh; hàng hóa điều động nội bộ
từ kho này sang kho khác; xuất hàng hóa đến dự hội chợ triển lãm; xuất hàng
hóa từ công ty đến các văn phòng đại diện của công ty tại các địa phương
mới chỉ đưa ra các giải pháp mang tính chung chung mà chưa giải quyết vấn
đề một cách triệt để. Tác giả mới chỉ ra phương pháp kế toán, cách hạch toán
các nghiệp vụ mà chưa đi sâu về phần chứng từ sử dụng và cách vào sổ kế
toán. Các biện pháp trên chỉ mới chỉ giải quyết được phần nào trong công việc
của kế toán. Vì vậy trong đề tài nghiên cứu của mình, em sẽ dựa vào thực
trạng của đơn vị đang thực tập và các biện pháp trên để hoàn thiện hơn các
giải pháp đó để nó có thể mang tính áp dụng cao.
16
Luận văn tốt nghiệp
2.4. Phân định nội dung.
Các vấn đề liên quan đến kế toán bán hàng đã được quy định trong các
chuẩn mực chế độ nhưng chưa phủ đầy tất cả các nội dung. Do đó mỗi doanh
nghiệp có cách hiểu khác nhau nên việc vận dụng giữa các doanh nghiệp là
khác nhau.
Về chứng từ sử dụng.
Khi bán hàng, các doanh nghiệp đều phải lập các chứng từ bắt buộc theo
quy định của Bộ Tài Chính nhưng còn về chứng từ hướng dẫn là tùy từng mỗi
doanh nghiệp sẽ có cách làm khác nhau. Vì vậy việc sử dụng chứng từ hướng
dẫn là không đồng nhất giữa các doanh nghiệp. Các công trình nghiên cứu
trước mà em tìm hiểu cũng có đề cập đến vấn đề này nhưng hầu hết là chỉ đưa
ra mẫu chứng từ sử dụng mà chưa giải quyết triệt để tới quá trình luân chuyển
chứng từ. Do đó, thông qua đề tài nghiên cứu của mình em làm rõ hơn về các
loại chứng từ hướng dẫn này về khía cạnh: cách lập và trình tự luân chuyển
chứng từ.
Tài khoản sử dụng và sổ kế toán.
Thông thường trong chế độ quy định hầu hết các tài khoản chỉ được chi
tiết đến cấp 2 nhưng do yêu cầu quản lý và để phù hợp với công tác kế toán
mà ta có thể chi tiết tài khoản cấp 3 hoặc cấp 4 điều đó tùy thuộc vào đặc thù
kinh doanh của từng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các nghiệp vụ bán hàng đều