i
LỜI CÁM ƠN
Sau những năm tháng học lý thuyết trên lớp thì không thể thiếu những
lần đi thực tế nhằm tích luỹ và củng cố thêm kiến thức đã học đó. Để không
ngừng tích luỹ thêm kinh nghiệm thì không thể không kể đến những năm
tháng thực tập tại các cơ sở thực tập đã được khoa và nhà trường tổ chức liên
kết nhằm tạo cho chúng em, những sinh viên đang cần quá trình học hỏi thực
tế nhằm nắm vững hơn những kiến thức đã học trên sách vở một môi trường
tốt để thực hiện.
Để hoàn thành tốt sáu tháng thực tập tai cơ sở em đã nhận được dạy bảo,
hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý rất nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn, bạn bè và
các cô (chú), anh (chị) tại cơ sở thực tập.
Với suy nghĩ và lòng biết ơn đó em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới
Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y, toàn thể
các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, các thầy cô giáo đã giảng dạy em trong suốt quá trình học và
thực tập.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới:
Cô giáo TS. Nguyễn Thị Ngân - giảng viên bộ môn Dược và Vệ sinh an
toàn thực phẩm, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi, dành nhiều thời gian, công sức để hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ cũng
như động viên và đóng góp những ý kiến quý báu cho em thực hiện và hoàn
thành bài khóa luận này.
Tiếp đến, em xin chân thành cảm ơn toàn thể ban lãnh đạo và các anh chị
kỹ thuật cũng như toàn thể các anh chị công nhân tại trại Ngô Thị Hồng Gấm,
huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình đã tạo mọi điều kiện và tận tình giúp đỡ em
trong suốt sáu tháng thực tập tại trang trại.
Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả bạn bè,
người thân những người đã luôn bên em, giúp đỡ, động viên và khuyến khích
em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình.
: Cộng sự
CP
: Charoen Pokphand
LH
: Luteinizing Hormon
LMLM
: Lở mồm long móng
LY
: Landrace x Yorkshire
MMA
: Hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa
Nxb
: Nhà xuất bản
PGF2α: Progesterol
PRRS
: Porcine reproductive and respiratory syndrome
3
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập ..............................................................................
3
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập ............................ 3
2.1.2. Đối tượng và kết quả sản xuất của cơ sở thực tập .................................. 4
2.2. Cơ sở khoa học............................................................................................
5
2.2.1 Cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục cái.......................................................
5
2.2.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục cái ................................................................ 9
2.2.3. Cơ sở khoa học về bệnh viêm tử cung trên lợn nái............................... 13
2.2.4. Giới thiệu một số thuốc dùng trong đề tài ............................................ 20
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ..............................................
22
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 22
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ..........................................................
24
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................... 26
3.1. Đối tượng và phạm vi tiến hành nghiên cứu .................................... 26
5
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu...............................................................
26
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi.......................................... 26
5
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Ở nước ta, nông nghiệp là một nghề truyền thống có từ lâu đời và
chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Trong đó, ngành chăn nuôi là
một ngành rất quan trọng và thu hút được nhiều lao động, vốn đầu tư từ trong
và ngoài nước. Đặc biệt, chăn nuôi lợn đã cung cấp một nguồn thực phẩm lớn
có giá trị dinh dưỡng cao cho con người, cung cấp phân bón cho ngành trồng
trọt, các phụ phẩm cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu thương phẩm.
Chính vì thế, tại các địa phương ngày càng đẩy mạnh phát triển chăn nuôi, tạo
điều kiện cho các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, tự túc truyền thống chuyển sang mô
hình chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp hiện đại.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai rộng lớn, có nguồn lao động
trẻ dồi dào, với nguồn thức ăn dư thừa hàng ngày rất lớn, cơ sở vật chất có
sẵn. Công tác tăng gia sản xuất phục vụ đời sống của nhân dân đặc biệt được
coi trọng và thúc đẩy. Các trại luôn áp dụng những tiến bộ khoa học, vào thực
tiễn sản xuất, để tạo ra những con giống cho năng suất cao, chất lượng
tốt,nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguồn thực phẩm tươi sống, an toàn vệ sinh ra
ngoài thị trường để tăng lợi nhuận kinh tế.
Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trại và nông hộ thì
việc phát triển đàn lợn nái sinh sản, nhất là đàn nái ngoại là vấn đề cần được
quan tâm. Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng
thích nghi của lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc biệt là bệnh ở
cơ quan sinh sản như: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm…
Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng
kém, thức ăn nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây
nên…Và một trong những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản có
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập
- Vị trí địa lý:
Trại lợn Ngô Thị Hông Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau, xã Hợp
Thanh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Trang trại là trại lợn gia công của
Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trại xây
dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đưa tới giống lợn, thức ăn, thuốc
thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ
trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách
nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại.
- Quy mô:
Trang trại có tổng diện tích 6 ha, trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà
ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh,cây ăn quả, ao hồ chiếm diện
tích 3 ha. Diện tích còn lại là đồi núi.
Khu chăn nuôi chia làm hay khu riêng biệt gồm chăn nuôi lợn và chăn
nuôi gà. Trong đó, khu chăn nuôi lợn chuyên chăn nuôi lợn nái sinh sản với
các giống sản xuất chính như: lợn nái lai giữa 2 dòng giống Landrace với
Yorshire.
Hiện nay, trại có hơn 1.321 con lợn nái, 18 con đực giống, 2.756 con
lợn cai sữa. Trại chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất. Khu điều
hành gồm nơi ăn, ở của công nhân và nơi làm việc của quản lý trại. Khu sản
xuất gồm 3 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 1 chuồng hậu bị, 1 chuồng cai sữa,
kho cám, kho thuốc, nhà điều hành, nhà sát trùng. Trong đó, trại luôn thực có
1 chuồng bầu nuôi tự động, 1 chuồng đẻ được thiết kế theo công nghệ của
Đan Mạch. Hệ thống chăn nuôi có silo cám tự động từ chuồng bầu, chuồng đẻ
tới chuồng cai sữa, tiết kiệm nhân lực, mang lại hiệu quả và năng xuất cao.
Trại luôn thực hiện tốt các quy trình chăm sóc, ứng dụng tốt các quy trình
2015
2016
Nái cơ bản
1.069
1.265
1.298
1.321
Nái hậu bị
120
150
165
180
Đực giống
17
20
4.275con, trong đó có: 1.321nái cơ bản, 180 nái hậu bị, 18 đực giống, 2.756
lợn cai sữa.
Từ năm 2014 đến năm 2017 số đầu lợn tăng lên, cho thấy quy mô chăn
nuôi lợn của trại có xu hướng phát triển theo hướng ổn định.Số nái sinh sản
của trại không có sự thay đổi không nhiều qua các năm do quy mô sản xuất
của trại là 1.200 nái đẻ. Hàng tháng vẫn có loại thải những con nái sinh sản
kém và thay vào đó là nái hậu bị được chuyển từ khu cách ly về.
2.2. Cơ sở khoa học
2.2.1 Cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục cái
Cơ quan sinh dục cái bao gồm:
- Cơ quan sinh dục bên ngoài: âm môn, âm vật và tiền đình.
+ Âm môn: hay còn gọi là âm hộ (vuhvae) nằm dưới hậu môn. Phía
ngoài âm môn có hai môi (labia pudenda). Hai môi được nối với nhau bằng
hai mép (rima vulae). Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có
nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi).
+ Âm vật (clitoris): âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn,
giống như dương vật của con đực được thu nhỏ lại. Về cấu tạo, âm vật cũng
có các thể hồng như con đực.
+ Tiền đình (vestibulum): tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo.
Trong tiền đình có dấu vết màng trinh, phía trong là âm đạo, phía ngoài có lỗ
niệu đạo. Màng trinh có các sợi cơ đàn hồi giữa và do hai lá niêm mạc gập
thành một nếp. Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về
âm vật, chúng có chức năng tiết dịch nhầy (Nguyễn Mạnh Hà và cs, 2003)[7].
- Cơ quan sinh dục bên trong: âm đạo, tử cung, buồng trứng, ống dẫn
trứng.
+ Âm đạo: âm đạo có chức năng chứa cơ quan sinh dục đực khi giao
phối đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là
ống thải các chất dịch từ tử cung ra ngoài. Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ
ngoài, giữa hai tầng cơ chứa tổ chức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản
đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn, ngoài ra các bó sợi cơ trơn đan vào nhau
theo mọi hướng làm thành mạch vừa dày vừa chắc. Cơ trơn là lớp cơ dày và
khỏe nhất trên cơ thể.
Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc mầu hồng được phủ bởi một lớp
tế bào biểu mô hình trụ xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung nhiều
tế bào biểu mô kéo dài thành lông nhung, khi lông dung động thì gạt những
chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung. Trên niêm mạc có các nếp gấp. Lớp niêm
mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát
triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn
trứng. Dưới sự ảnh hưởng của oestrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp
màng nhầy xâm nhập vào lớp dưới màng nhầy và cuộn lại tuy nhiên các tuyến
chỉ đạt được khả
năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của progensterone. Sự phân tiết của
tuyến tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục.
+ Buồng trứng: buồng trứng nằm trong xoang chậu, gồm một cặp, thực
hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormon sinh
dục cái). Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai, hình dáng và
kích thước của buồng trứng biến đổi theo giai đoạn của chu kỳ sinh dục và
chịu ảnh hưởng của tuổi, đặc điểm cá thể, chế độ dinh dưỡng…
Buồng trứng được bao bọc từ phía ngoài bởi một lớp màng liên kết sợi.
Phía trong buồng trứng được chia thành hai miền là miền vỏ và miền tủy.
Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng.
Miền vỏ bao gồm ba phần: tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào
hình hạt. Tế bào trứng nguyên thủy hay còn gọi là trứng non
(fulliculloophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng. Khi noãn nang
chín, các tế bào nang bao quanh tế bào trứng phân chia thành nhiều tế bào
hình hạt (strarum glannulosum). Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào
Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có
tuổi động dục lần đầu khác nhau. Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu
vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire,
Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi.
Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc vào mùa vụ. Lợn cái hậu bị được sinh
vào mùa Thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa Xuân (Nguyễn Tuấn
Anh và cs, 1998) [1].
Lê Xuân Thọ và cs (1979) [28], đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau cai
sữa chậm động dục, tiêm huyết thanh ngựa chửa có thể gây động dục.
+ Tuổi phối giống lần đầu:
10
Phạm Hữu Doanh và cs (2003) [4] cho rằng: không nên phối giống ở
chu kì động dục đầu tiên vì ở giai đoạn này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ,
chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn
chỉnh. Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái lâu bền cần bỏ qua
1- 2 chu kỳ động dục rồi mới cho phối giống.
Lợn nội thường phối giống lần đầu lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi khối lượng
đạt 40 - 50 kg, lợn lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không dưới 65 - 70 kg,
nái ngoại vào lúc 9 tháng tuổi.
Nếu phối giống quá sớm sẽ ảnh hưởng đến tầm vóc và sức khỏe của
lợn mẹ. Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ lãng phí về kinh tế, ảnh
hưởng đến sinh sản của lợn.
+ Tuổi đẻ lứa đầu: lợn ỉ, Móng Cái cho đẻ lứa đầu vào 11 - 12 tháng
tuổi, lợn nái lai, ngoại vào 12 tháng tuổi (Lê Hồng Mận, 2004) [13].
+ Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau khi đẻ.
Chu kỳ tính dục của lợn nái thường khoảng 19 - 21 ngày. Thời gian
động dục thường kéo dài 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn
thời điểm thích hợp.
+ Quá trình mang thai và đẻ:
Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) [27] cho biết, thụ thai là sự kết
hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình
đồng hoá giữa tinh trùng và trứng. Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2
nguồn gen khác nhau. Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày. Khi
mang thai thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố Progesterone ức chế sự phát triển
của bao noãn. Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng.
Thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kỳ:
Chửa kì I: là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên.
Chửa kì II: là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ.
12
Theo Trương Lăng (2003) [11], trong thời kỳ lợn chửa có thể xuất hiện
hai tai biến: toàn bộ các thai chết gây sẩy thai hoặc một phần thai chết và có
thể bị đẩy ra ngoài, còn các thai khác tiếp tục phát triển xen kẽ không bị đẩy
ra ngoài.
+ Giai đoạn tiết sữa nuôi con:
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng, thức
ăn, giống lợn, số lượng lợn con.Lượng sữa mẹ tiết ra nhiều nhất vào tuần thứ
2-3. Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích của
bầu vú gây ra, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ
trước ra sau. Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa. Khi lợn
con thúc bú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại truyền
xuống vùng hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên,
tuyến yên tiết ra kích tố oxytocin. Theo Trương Lăng (2003) [11], vú nằm ở
phía trước ngực có lượng sữa tiết nhiều hơn. Trong chu kỳ tiết sữa, lợn con bú
ở vú sau được 32-39kg thì lợn con bú ở vú trước được khoảng 36-45kg sữa, vì
vào điều kiện vệ sinh môi trường, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y.
- Nguyên nhân gây bệnh:
Nguyễn Xuân Bình (1996) [2] cho biết: bệnh thường xảy ra vào thời
gian 1 - 10 ngày sau khi đẻ.
Lê Văn Năm (1999) [17] cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại
cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng
dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhầy các cơ
quan sinh dục bị phá huỷ hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng
bất hợp lí, thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con.
Đây là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh. Biến
chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian
động đực (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật (dụng cụ
dẫn tinh làm tổn thương niêm mạc tử cung).
Các nguyên nhân bao gồm: dụng cụ truyền tinh gây xây xát âm đạo, tử
cung, tinh dịch bị nhiễm khuẩn, dụng cụ thụ tinh không được vô trùng hoặc
do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật (Trương Lăng, (2000) [10]).
Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [5] cho biết: nguyên nhân gây ra
bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus)
14
liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,
Klebriella, dung huyết E.coli, còn có thể do trùng doi (Trecbomonas fortus)
và do nấm Candda albicans.
Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp,
niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền
nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử
cung, âm đạo.
- Triệu chứng :
cung bị hoại tử, những vết thương đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và
chuyển thành hoại tử. Thân nhiệt lên cao, ăn uống, lượng sữa giảm hoặc mất
hẳn, âm hộ chảy ra nước màu đỏ nhạt hoặc nâu lẫn mảnh tổ chức hoại tử.
- Viêm cơ tử cung (thể vừa: ký hiệu ++): thường phát triển từ viêm nội
mạc tử cung thể màng giả. Thân nhiệt cao, con vật mệt mỏi, ăn uống giảm,
lượng sữa giảm hoặc mất hẳn. Gia súc luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn
liên tục, từ cơ quan sinh dục luôn chảy ra hỗn dịch có màu nâu đỏ kèm những
mảng hoại tử, tổ chức thối rữa nên có mùi tanh thối, kiểm tra qua âm đạo
bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung mở và hỗn dịch càng chảy ra nhiều hơn, phản xạ
đau đớn càng rõ hơn.
- Viêm tương mạc tử cung (thể nặng: ký hiệu +++): con vật ủ rũ, đại
tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn, vật luôn biểu hiện trạng thái đau
đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, từ âm hộ luôn chảy ra những hỗn dịch lẫn
mủ và các tổ chức hoại tử có mùi thối khắm. Nếu một số vùng tương mạc
dính với một số bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện trạng thái thay đổi về
vị trí và hình dáng của tử cung có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng
trứng.
- Bệnh tích :
Bệnh tích viêm tử cung dựa theo các thể viêm tử cung. Có các thể
viêm như sau:
- Viêm tử cung thể cata gồm: viêm tử cung cata cấp và viêm tử cung
cata mãn tính :
+ Viêm tử cung cata cấp trong tử cung: đặc trưng bằng quá trình viêm
niêm mạc và lớp dưới niêm mạc. Niêm mạc tử cung bở trắng ra hay hơi xanh
tím, vách tử cung không dày thêm nhưng nói chung hơi phồng.
+ Viêm cata mãn tính trong tử cung: vách tử cung dày lên, niêm mạc
trắng nhợt, phù, bở, đôi khi có những vết tròn và loét. Trong xoang tử cung
16
Lê Thị Tài và cs (2002) [21], cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở
gia súc cái. Nếu không được chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng
thụ thai và sinh sản sau này.
Theo Trần Thị Dân (2004) [3], lợn nái bị mắc bệnh viêm tử cung mạn
tính sẽ không có khả năng động dục trở lại. Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì
sự phân tiết PG giảm, do thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone.
progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết LH, do đó ức chế sự phát triển
của noãn bao trong buồng trứng nên lợn nái không thể động dục trở lại được
và không rụng trứng.
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn mang thai là do biến đổi bệnh lý
trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa
niêm mạc...) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và tử cung cho nên
qua các chỗ tổn thương vi khuẩn hay độc tố của vi khuân tiết ra sẽ làm chết
bào thai hay bào thai phát triển không bình thường.
- Chẩn đoán:
Trực tiếp kiểm tra mức độ mắc bệnh bằng các biện pháp sau:
Dùng mắt thường đánh giá qua biểu hiện lâm sàng (biểu hiện triệu
chứng bên ngoài) như trạng thái cơ thể, bộ phận sinh dục ngoài, nước và dịch
chảy ra, màu sắc, mùi của dịch nhờn.
Dùng mỏ vịt kiểm tra khi quan sát triệu chứng lâm sàng không rõ,
không xác định được mức độ viêm nhiễm ở mức độ nào (+, ++, +++).
Kiểm tra đường sinh dục bằng mỏ vịt như sau: đưa mỏ vịt vào âm môn,
chiếu đèn pin soi (vệ sinh sạch dụng cụ trước khi làm). Thường thấy các trạng
thái sau:
+ Trạng thái bình thường: vùng âm đạo, tử cung sạch, không có váng,
niêm mạc khô đều, cổ tử cung kín, có màu hồng đều.
+ Trạng thái viêm: xảy ra ở 3 thể
19
Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ
sinh sạch sẽ.
Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để
nhiễm khuẩn.
Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực
tiếp hoặc lấy tinh.
Phòng bệnh truyền nhiễm leptospirosis, brucellosis…. bằng cách dùng
vaccine đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những
trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai.
- Điều trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái :
- Điều tri cục bộ:
+ Thụt rửa tử cung bằng dung dịch natri clorit 0.9%mỗi ngày thụt từ 1 2 lít dung dịch đã pha (thụt 3 ngày liên tiếp).
+ Tiêm thuốc hạ sốt analgin C 1ml/10kg P tiêm bắp thịt ngày tiêm một
lần tiêm dưới da.
+Tiêm oxytocin 20 - 40 UI/nái/ngày để tử cung co bóp đẩy hết dịch
trong tử cung ra ngoài.
+Thuốc bổ trợ: Vitamin C, Bcomplex..
- Điều trị toàn thân: tiêm kháng sinh Đối với thể viêm trung bình và
nặng: kết hợp cả điều trị cục bộ và toàn thân. Điều trị theo các phác đồ sau:
- Phác đồ 1:
Sử dụng thuốc Pendistrep L.A tiêm bắp thịt với liều lượng 1ml/15kg
TT/ngày.
Điều trị liên tục trong 3 ngày
- Phác đồ 2:
Sử dụng thuốc Amoxinject L.A tiêm bắp thịt với liều lượng
1ml/15kg
TT/ngày