Đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại lợn của bà ngô thị hồng gấm huyện lương sơn tỉnh hòa bình - Pdf 50

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------

TRỊNH ĐÌNH LÂM
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA ĐÀN LỢN NÁI NGOAI
NUÔI TẠI TRẠI LỢN CỦA BÀ NGÔ THỊ HỒNG GẤM
HUYỆN LƢƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành/ngành

: Chăn nuôi Thú y

Khoa

: Chăn nuôi Thú y

Khóa học

: 2013 - 2017

Thái Nguyên - năm 2017




Thái Nguyên - năm 2017


i
LỜI CẢM ƠN
Qua một thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên và 6 tháng thực tập tốt nghiệp đại học tại trại lợn của bà Ngô
Thị Hồng Gấm huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình, đến nay em đã hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp. Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính
trọng tới Ban Giám Hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ban
chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa
Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thời gian
học tập tại trường.
Đặc biệt em xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo TS. Hồ Thị
Bích Ngọc, người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn em trong suốt thời gian thực
hiện đề tài và hoàn thành khóa luận này.
Cũng qua đây em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trại chăn nuôi
lợn của bà Ngô Thị Hồng Gấm huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình, cùng toàn
thể anh chị em công nhân viên đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho em thực hiện
chuyên đề tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề.
Một lần nữa em xin gửi tới các thầy cô giáo, các bạn bè đồng
nghiệp cùng gia đình lời cảm ơn sâu sắc và lời chúc sức khỏe cùng mọi
điều may mắn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, Ngày….tháng... năm 2017
Sinh Viên

Trịnh Đình Lâm


D

: Duroc

ĐVT

: Đơn vị tính

HĐND

: Hội đồng nhân dân

Y

: Yorkshire

KCLĐ

: Khoảng cách lứa đẻ

KLSS

: Khối lượng sơ sinh

KLCS

: Khối lượng cai sữa

KHKT


TPGLĐ

: Tuổi phối giống lần đầu

UBND

: Uỷ ban nhân dân


iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC HÌNH .......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài .................................................................. 2
1.2.1. Mục đích.................................................................................................. 2
1.2.2. Yêu cầu.................................................................................................... 2
PHẦN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU....................................................... 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập. ...................................................................... 3
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 3
2.1.2. Tình hình sản xuất và cơ sở vật chất của trang trại................................. 7
2.2. Cơ sở khoa học ......................................................................................... 11
2.2.1. Đặc điểm sinh sản của lợn nái............................................................... 14
2.2.2. Tình hình nghiên trên thế giới và Việt Nam ......................................... 25
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ..29
3.1.Đối tượng nghiên cứu: .............................................................................. 29

1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực quan trọng của nền nông nghiệp,
nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của
mọi người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của hàng
triệu người dân hiện nay. Đặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa quan trọng đối
với nước ta khi có tới hơn 70% dân số sống dựa vào nông nghiệp.
Nước ta là một nước nông nghiệp, bên cạnh trồng trọt, ngành chăn nuôi
nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân. Chăn nuôi cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng cho con
người, ngoài ra còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và
một số sản phẩm phụ cho ngành công nghiệp chế biến.
Chăn nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình từ lâu đã gắn bó với người nông
dân Việt Nam. Từ lâu con lợn được xem là biểu tượng cho sự dành dụm của
người nông dân. Những năm gần đây, các trung tâm giống và các công ty liên
doanh đã có nhiều nỗ lực trong việc nhập khẩu các giống lợn ngoại có năng
suất cao để cải thiện đàn lợn hiện có ở nước ta. Rất nhiều trại chăn nuôi lợn
kiểu công nghiệp đã được hình thành, tạo nên các vùng chăn nuôi. Nhiều tiến
bộ khoa học kỹ thuật về thức ăn, giống, chăm sóc quản lý, chuồng trại đã
được áp dụng thành công.
Trong ngành chăn nuôi lợn, lợn nái có vai trò rất quan trọng, nhất là
nuôi lợn nái để có đàn con nuôi thịt lớn nhanh, nhiều nạc. Đồng thời cung cấp
con giống cho các khu vực lân cận. Để có thể giúp các gia đình cũng như các
trang trại có ý muốn nuôi lợn nái quy mô nhỏ đến quy mô lớn hơn những kiến
thức cần thiết về khoa học công nghệ chăn nuôi và một số biện pháp chính
quản lý kinh tế sao cho có lợi em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả


huyện Kỳ Sơn; phía nam giáp các huyện Kim Bôi và Lạc Thủy; phía đông
giáp các huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ; phía bắc giáp huyện Quốc Oai (thành
phố Hà Nội).
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện 36.488,85 ha, được chia thành 20
đơn vị hành chính, bao gồm 19 xã và 1 thị trấn (Cao Răm, Cư Yên, Hòa Sơn,
Hợp Hòa, Lâm Sơn, Liên Sơn, Nhuận Trạch, Tân Vinh, Thành Lập, Tiến Sơn,
Trường Sơn, Trung Sơn, Tân Thành, Cao Dương, Hợp Châu, Cao Thắng,
Long Sơn, Thanh Lương, Hợp Thanh và Thị trấn Lương Sơn). Trung tâm
huyện đóng tại thị trấn Lương Sơn - là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa
của huyện; cách Thủ đô Hà Nội khoảng 40 km về phía Tây và cách thành phố
Hòa Bình khoảng 30 km về phía Đông. Có đường quốc lộ số 6A, đường Hồ
Chí Minh đi qua, có tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào.
Lương Sơn có lợi thế về vị trí địa lí, là đầu mối giao lưu kinh tế, văn
hóa - xã hội giữa miền núi Tây bắc với vùng đồng bằng sông Hồng (cũng như
Thủ đô Hà Nội).


4

* Điều kiện tự nhiên
Về địa hình: Huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du - nơi chuyển tiếp
giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng. Địa hình đồi núi thấp
có độ cao sàn sàn nhau khoảng 200- 400m được hình thành bởi đá macma, đá
vôi và các trầm tích lục nguyên; có mạng lưới sông, suối khá dày đặc.
Khí hậu: Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông
lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 23,3oC. Lượng mưa bình quân từ 1.520,7- 2.255,6 mm/năm, nhưng phân bố
không đều trong năm và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường.
Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố tương đối đồng đều trong
các xã. Con sông lớn nhất chảy qua huyện là sông Bùi, bắt nguồn từ dãy núi
Viên Nam cao 1.029m thuộc xã Lâm Sơn, dài 32 km. Đầu tiên sông chảy theo

trại rừng đã góp phần đem lại thu nhập cao cho người dân và góp phần bảo vệ
môi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực.
Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn huyện có các loại khoáng sản trữ
lượng lớn đó là đá vôi, đá xây dựng, đất sét, đá bazan và quặng đa kim.
Tài nguyên du lịch: Với vị trí thuận lợi gần Thủ đô Hà Nội và địa hình
xen kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng phẳng, kết hợp với hệ thống sông, suối,
hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống rừng… đã tạo cảnh quan thiên nhiên
và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn phát triển du lịch sinh thái, nghỉ
dưỡng, sân golf. Trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ
khảo cổ học, hệ thống hang động, núi đá tự nhiên như: Hang Trầm, hang
Rồng, hang Tằm, hang Trổ… động Đá Bạc, động Long Tiên… đây là những
tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với
nghỉ dưỡng.
Ngoài ra Lương Sơn cũng là huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn
hóa vật thể và phi vật thể.


6

*Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân số toàn huyện 98.856 người gồm 3 dân tộc chính là Mường, Dao,
Kinh, trong đó người Mường chiếm khoảng 70% dân số. Lực lượng lao động
đông, số lao động phi nông nghiệp ngày càng gia tăng, tỷ lệ lao động qua đào
tạo chiếm 55%, điều này cho thấy huyện có thế mạnh về nguồn lực lao động.
Năm 2016, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức song dưới sự lãnh
đạo của Huyện ủy, giám sát của HĐND, sự chỉ đạo điều hành của UBND
huyện và nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, cộng
đồng các doanh nghiệp, nền kinh tế - xã hội của huyện Lương Sơn tiếp tục
được duy trì ổn định và phát triển. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 1930 tỷ
đồng; thu ngân sách Nhà nước được 183,2 tỷ đồng, tăng 21,5% so với dự toán;

Hòa Bình trong chiến lược phát triển Thủ đô.
Với những lợi thế về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và dân số, sự quan
tâm chỉ đạo của tỉnh Hòa Bình, trong những năm qua huyện Lương Sơn đã
thu hút được 151 dự án trong và ngoài nước đến đầu tư vào địa bàn, trong đó
có 17 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký
276 triệu USD; 134 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng kí 14.467 tỷ
đồng, nhờ vậy đã tạo nhiều việc làm cho người lao động, góp phần tăng
nguồn thu ngân sách cho địa phương và thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát
triển mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn,
từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực nâng cao tỷ trọng
Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp, tiếp đến là Thương mại- Dịch vụ và giảm
dần tỷ trọng Nông- Lâm- Ngư nghiệp, tiến tới xây dựng huyện Lương Sơn
sớm trở thành hạt nhân vùng động lực kinh tế của tỉnh Hòa Bình.
2.1.2. Tình hình sản xuất và cơ sở vật chất của trang trại
2.1.2.1 Quá trình thành lập
Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau- xã Hợp
Thanh- huyện Lương Sơn- tỉnh Hòa Bình. Là trại lợn gia công của Công ty


8

Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở
vật chất, thuê công nhân, công ty cung cấp con giống, thức ăn, thuốc thú y,
cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ, cán
bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát
mọi hoạt động của trang trại.
2.1.2.2.Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức: Gồm 3 nhóm
+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại, 1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản
chung của trại.

để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu để làm nơi thụ
tinh nhân tạo cho lợn nái.
+ 1 chuồng đực giống: Bao gồm 24 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai
thác tinh.
+ 2 chuồng cách ly: Dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia
công lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, trong thời gian
3 tháng sau khi đã làm vắc xin đầy đủ và trước khi được đưa lên giống mỗi
chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị.
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ
thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện
chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng
mát về mùa hè ấm áp vào mùa đông bằng cách điều chỉnh quạt, giàn mát và
bóng đèn sưởi ấm trong chuồng. Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để
tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ
thống thoát phân và nước thải. Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng làm
tinh lợn, với đầy đủ tiện nghi như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống
tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường
đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu
nước sát trùng. Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý,
thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn cho các dãy chuồng.


10

Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi trại có xây dựng 5 phòng tắm sát
trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1
kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân.
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: Tủ lạnh bảo quản vắc
xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho
xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài

nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống
rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại
được quét dọn và rắc vôi theo quy định. Công nhân, kỹ sư, khách tham quan
trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo
bảo hộ lao động.
Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các
chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi
bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại
cổng vào. Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện
nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật. Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm
riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con. Lợn được tiêm vắc xin ở trạng
thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền
nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất
cho đàn lợn. Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%.
Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn
lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên
phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả
từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn. Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số
lượng và chất lượng đàn gia súc.
2.2. Cơ sở khoa học
2.2.1.: Đặc điểm một số giống lợn ngoại
* Giống lợn Yorkshire
- Nguồn gốc: Giống lợn Yorkshire được hình thành ở Yorkshire của
nước Anh.


12

- Đặc điểm ngoại hình: Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (cũng có
một số con đốm đen), đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai

Lợn đực Landrace x lợn F1 (YR x MC) lấy con lai F2 ¾ máu ngoại
(50%LR, 25%YR, 25%MC) , nuôi thịt cho khối lượng lúc 6 tháng tuổi đạt
100kg, tỷ lệ nạc đạt 46-48%.
* Giống lợn Duroc
- Nguồn gốc: Xuất xứ từ Mỹ
- Đặc điểm ngoại hình: có thân hình vững chắc, lông có màu nâu vàng
nhạt đến nâu sẫm, bốn chân to khỏe, vững chấc, ngực sâu, rộng, mông vai
phát triển và cân đối, mõm thẳng, tai to ngắn, ở phần tai trước cụp, gập về
phía trước, chất lượng thịt tốt (thịt mềm do mô nạc xen lẫn với mô mỡ dắt), tỷ
lệ nạc cao (56-58%), thịt nạc màu đỏ đậm, khả năng tăng trọng nhanh, tiêu
tốn thức ăn/kg tăng trọng thấp, đẻ ít con, tiết sữa kém.
- Khả năng sinh sản: Lợn trưởng thành, con đực nặng 300- 370kg, con
cái nặng 250- 280kg. Mỗi lứa đẻ được 7- 8 con. Tăng khối lượng nhanh: 0,770,80kg/ngày. Nuôi 6 tháng đạt được 105- 125kg, tỷ lệ nạc 58- 60,4%.
* Giống lợn pietrain
- Nguồn gốc: Xuất xứ từ Bỉ
- Đặc điểm ngoại hình: Màu lông da trắng đan xen lẫn từng đám đen
trắng không đồng đều trên cơ thể, tai thẳng đứng, đầu to vừa phải, mõm
thẳng, 4 chân thẳng, mông nở, lưng rộng, đùi to, có tỷ lệ nạc cao nhất trong
các giống lợn ngoại (60-62%). Thích nghi kém ở khí hậu nhiệt đới nóng ẩm.
Lợn Pietrain có nhược điểm tim yếu vì có tỷ lệ gen Halothane cao khi hoạt
động mạnh dễ bị vỡ tim (chết đột tử, khả năng chịu đựng kém, nhạy cảm với
stress. Lợn Pietrain thường sử dụng lai với Duroc để tạo đực cuối cùng nhằm
nâng cao năng suất thịt mông và tỷ lệ nạc.


14

- Khả năng sinh sản: Lợn đực trưởng thành nặng 270- 350kg/con, lợn
cái nặng 220- 250kg/con. Mỗi lứa đẻ 8-10 con. Tăng trọng nhanh, nuôi 6
tháng tuổi đạt 100kg/con. Tỷ lệ nạc 60- 62%.

suốt là 8 - 12 micro. Thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng, đường
kính 10 - 15 mm (Hoàng Văn Tiến và cs (1995) [17].
Ống dẫn trứng có thể chia thành 4 đoạn chức năng: Tua diềm: Có hình
giống như tua, diềm; Phễu: Có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng;
Phồng ống dẫn trứng: Là đoạn ống dẫn rộng xa tâm; Eo: Là đoạn hẹp gần
tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung; Phồng ống dẫn trứng gồm một nửa
chiều dài của ống dẫn trứng, hòa vào phần co thắt eo của ống dẫn trứng. Ống
dẫn trứng có chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo
hướng ngược chiều nhau. Trứng được vận chuyển qua lớp nhầy, đi đến phần
phồng của ống dẫn trứng, ống dẫn trứng cung cấp một ngoại cảnh thuận lợi
nhất cho sự hợp nhất của tinh trùng và trứng.
Tử cung gồm: 2 sừng tử cung, thân và cổ tử cung. Ở lợn tử cung thuộc
loại hai sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại và có thể dài đến 1m, trong khi
đó thân tử cung lại ngắn. Độ dài của sừng tử cung thích hợp cho việc mang
nhiều thai. Ở lợn trung bình sừng tử cung dài 40 - 65cm, chiều dài thân tử
cung: 5cm, cổ tử cung có chiều dài 10m, đường kính ngoài từ 2 - 3cm.
Chu kỳ tính dục: Ở gia súc, việc giao phối bị hạn chế trong khoảng thời
gian chịu đực, trùng hợp với thời gian rụng trứng, vì vậy việc nghiên cứu chu
kỳ tính dục sẽ giúp cho chúng ta xác định được thời điểm phối giống thích
hợp, nâng cao được năng suất sinh sản của con cái. Trung bình ở lợn chu kỳ
động đực: 19 - 20 ngày, thời gian chịu đực: 48 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng:
35 - 45 giờ kể từ khi bắt đầu chịu đực. Cho phối giống quá sớm hay quá
muộn, đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ thụ thai và số con sinh ra/ổ (Hoàng Văn
Tiến và cs (1995) [17].


16

Đối với lợn nái có thể cho phối kép, tức là phối hai lần với hai lợn đực
giống khác nhau, khoảng cách giữa hai lần phối giống từ 12 - 14 giờ đối với lợn

Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [19], khả năng sản xuất của lợn nái chủ
yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm. Từ đó cho
thấy số lợn con cai sữa/nái/năm phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra và số
lứa đẻ/nái/năm.
Ngoài các chỉ tiêu quan trọng trên thì chỉ tiêu về số con đẻ ra còn sống
cũng là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan tro ̣ng trong chăn nuôi lợn nái . Chỉ tiêu
này được tính cho số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con cuối cùng,
không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg đối với lợn nội; 0,5 kg đối
với lợn lai và lợn ngoại. Chỉ tiêu này cho biết khả năng đẻ nhiều hay ít con
của lợn nái, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa, kỹ thuật thụ tinh
nhân tạo và chất lượng tinh dịch của lợn đực giống.
Tỷ lệ sống đến 24 giờ sau đẻ: Tỷ lệ này không đảm bảo đạt 100% do
nhiều nguyên nhân khác nhau như lợn con chết ngay khi đẻ ra, thai gỗ, thai non.
Số lợn con cai sữa/lứa: Đây là chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện trình độ
chăn nuôi lợn nái sinh sản. Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới
hiệu quả kinh tế của quá trình chăn nuôi lợn nái. Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào
trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh thú y, phòng
chống dịch bệnh. Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tuỳ thuộc kỹ thuật chăn nuôi lợn cái
nuôi con, kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa của
lợn mẹ và sức đề kháng và khả năng phòng chống bệnh của lợn con (Vũ Đình
Tôn, Võ Trọng Thành, (2006) [20].
Mặt khác số con cai sữa/lứa phụ thuộc vào số con để nuôi. Người ta có
thể tiêu chuẩn hoá số con để nuôi/lứa là từ 8 - 10 con. Nếu số con nhiều hoặc
ít hơn cần có sự điều phối giữa các lợn nái và phải làm muộn nhất là 48 giờ
sau khi đẻ. Đơn giản nhất là chuyển lợn từ ổ đông con sang ổ ít hơn 8 con,


18

cần ghi rõ số hiệu của mẹ nuôi. Khi lợn đạt 21 ngày tuổi cần ghi chép số con



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status