ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
HÀ THỊ THÊM
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG HỘI CHỨNG VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ, MẤT
SỮA TRÊN ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI NGÔ HỒNG GẤM HUYỆN LƢƠNG
SƠN TỈNH HÒA BÌNH VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 – 2016
THÁI NGUYÊN, 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------
HÀ THỊ THÊM
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG HỘI CHỨNG VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ, MẤT
SỮA TRÊN ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI NGÔ HỒNG GẤM HUYỆN LƢƠNG
SƠN TỈNH HÒA BÌNH VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Hà Thị Thêm
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái ....................................... 35
Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 38
Bảng 4.3. Số lượng đàn lợn nái của trại trong ba năm.................................... 38
Bảng 4.4: Tỷ lệ lợn nái mắc theo tháng điều tra ............................................. 39
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của nhiệt độ
, đô ẩm
M .... 42
̣ đến tỷ lệ lợn mắc hội chứng.M.A
Bảng 4.6: Tỷ lệ lợn nái mắc hội chứng M.M.A theo lứa đẻ ........................... 42
Bảng 4.7: Mô ̣t số ch ỉ tiêu lâm sàng của lợn nái bình thường và lợn nái mắc
hội chứng M.M.A .............................................................................. 43
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của hội chứng M.M.A đến năng suất sinh sản của lợn
nái ...................................................................................................... 44
Bảng 4.9: Hiệu quả điều trị hội chứng M.M.A theo hai phác đồ điều trị ....... 46
Bảng 4.10: Kết quả thử nghiệm phòng hội chứng M.M.A ở lợn nái .............. 51
iii
DANH MỤC HÌNH
Folliculo Stimulin Hormone
GSH:
Gonado Stimulin Hormone
LH:
Lutein Stimulin Hormone
LMLM:
Lở mồm long móng
M.M.A:
Metritis mastitis agalactia
Nxb:
Nhà xuất bản
PGF2α :
Prostaglandin F2α
STH:
Somato Tropin Hormone
vi
2.3.3. Tử cung (Uterus) ................................................................................... 17
2.3.4. Âm đạo (Vagina) ................................................................................... 18
2.3.5. Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis) ............................... 19
2.3.6. Âm vật (Clitoris) ................................................................................... 19
2.3.7. Âm hộ (Vulva) ...................................................................................... 19
2.3.8. Cấu tạo của tuyến vú ............................................................................ 19
2.4. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái ..................................................... 21
2.4.1. Sự thành thục về tính............................................................................. 21
2.4.2. Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp .................................... 22
2.4.3. Khoảng cách giữa các lứa đẻ ................................................................ 27
2.4.4. Sinh lý đẻ............................................................................................... 28
2.4.5. Sinh lý tiết sữa của lợn nái .................................................................... 31
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
............................................................................................................... 32
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 32
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................. 32
3.3. Nô ̣i dung nghiên cứu ................................................................................ 32
3.3.1. Xác định tỷ lệ mắc hội chứng M.M.A ở đàn lợn nái tại trang trại........ 32
3.3.2. Xác định sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của lợn nái mắc hội
chứng M.M.A (nhiệt độ, màu sắc, dịch viêm…) .................................. 32
3.3.3. Ảnh hưởng của hội chứng M.M.A đến năng suất sinh sản của lợn nái .... 32
3.3.4. Thử nghiệm điều trị hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất sữa
(M.M.A) bằng các phác đồ khác nhau và theo dõi khả năng sinh sản sau
khi khỏi bệnh của từng phác đồ điều trị. ............................................... 32
3.3.5. Xây dựng quy trình phòng hội chứng viêm vú, viêm tử cung, mất
sữa (M.M.A) ........................................................................................ 32
1.1. Đặt vấn đề
Từ bao đời nay, nhân dân ta đã có tập quán chăn nuôi lợn, con lợn luôn
giữ vị trí hàng đầu về tỷ trọng và giá trị trong các loài vật nuôi. Với chức năng
vừa là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho tiêu dùng trong nước và xuất
khẩu, vừa là nguồn cung cấp phân bón, tạo điều kiện cho ngành trồng trọt
phát triển, chăn nuôi lợn đã góp phần quan trọng trong việc tăng thu nhập, cải
thiện và nâng cao đời sống của người nông dân.
Để tạo ra được nhiều thịt lợn phục vụ cho nhu cầu thực phẩm trong
nước và xuất khẩu, việc nâng cao năng suất sinh sản của đàn lợn nái luôn là
mối quan tâm, mục tiêu hàng đầu của các nhà chăn nuôi và các nhà khoa học.
Trong những năm gần đây, năng suất sinh sản của lợn nái ở nước ta đã có
nhiều cải thiện nhờ chất lượng con giống được nâng cao và chọn lọc tốt, kỹ
thuật chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái dần được hoàn thiện và ứng dụng rộng rãi.
Do đó, đã góp phần nâng cao số lứa đẻ của nái/năm từ 1,7-2 lứa/nái/năm lên
2,0-2,45 lứa/nái/năm. Bình quân số lợn con cai sữa/nái/năm xấp xỉ 13 con/nái.
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực đặc biệt đối với các nước chăn nuôi
tiên tiến thì năng suất sinh sản của lợn nái nội nước ta còn thấp.
Trong những năm gần đây thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng - vật nuôi, từ đó chăn
nuôi lợn đã phát triển khá nhanh. Muốn có con giống đảm bảo bảo chất
lượng, đàn lợn nái phải khỏe mạnh, không mắc bệnh đặc biệt là bệnh về
sinh sản.
Một số bệnh ở lợn nái đã có vacxin phòng bệnh và phương pháp điều
trị đạt kết quả tốt, tuy nhiên bệnh ở đường sinh sản vẫn đang là mối đe dọa
lớn cho người chăn nuôi lợn nái. Mặc dù, các hộ chăn nuôi đã sử dụng
2
kháng sinh điều trị và các biện pháp phòng bệnh bằng chăm sóc, nuôi dưỡng,
3
bộ như: bầu vú vị viêm, cứng và có biểu hiện đau, âm đạo chảy ra chất dịch
lợn cợn, có mùi hôi, nếu bị viêm nặng sẽ chảy ra dịch có lẫn mủ, lợn con theo
mẹ không có sữa bú, kêu la, da khô, lông dựng và hầu hết bị tiêu chảy.
Hội chứng M.M.A làm tăng tỷ lệ sảy thai, thai chết lưu, tỷ lệ lợn con
nuôi sống thấp, số lượng lợn con sinh ra/lứa, trọng lượng sơ sinh/con, số con
sống sót sau cai sữa/lứa thấp… dẫn đến tăng chi phí về thức ăn, chẩn đoán và
điều trị bệnh, gây thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi, hội chứng M.M.A
làm cho con vật kéo dài thời gian động dục trở lại, giảm tỷ lệ thụ thai, giảm số
lượng con sinh ra trong một lứa, giảm số lứa trên năm, giảm khối lượng sơ
sinh… dẫn đến hậu quả nái sinh sản phải bị loại bỏ sớm.
Hiện nay, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về hội chứng M.M.A
xảy ra trên đàn lợn nái, qua điều tra và thực tế sản xuất, đồng thời để góp
phần vào việc hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra, đảm bảo sản xuất chăn nuôi
lợn nái nội phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Thực trạng hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa
trên đàn lợn nái tại trại Ngô Hồng Gấm huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình
và biện pháp điều trị.”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng hội chứng M.M.A (viêm tử, viêm vú, mất
sữa) ở đàn lợn nái tại trại Ngô Hồng Gấm huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Đánh giá được ảnh hưởng của hội chứng M.M.A đến năng suất sinh
sản của lợn nái.
1.3. Ý nghĩa đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Thông qua nghiên cứu làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng, chống
bệnh hiệu quả.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn nái nuôi theo mô hình trang trại.
2.1.1.1. Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung
Theo Đào Trọng Đạt và cs (2000) [8], bệnh viêm tử cung ở lợn nái
thường do các nguyên nhân sau:
5
Thao tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng
phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn
tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử
cung lợn nái gây viêm.
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật
hoặc mang vi khuẩn từ những lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo
truyền sang cho lợn khoẻ.
- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm
mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.
- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau, xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm
tử cung.
- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm,
phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm.
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau
đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để
xâm nhập vào gây viêm.
Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng
nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động
đực (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường
máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung.
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một
cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa
phối nhưng đã bị viêm tử cung.
với một trại có nhiều lợn nái có biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc
kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu
sinh dục. Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để
chẩn đoán cho chính xác.
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ
ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái, để hạn chế tối thiểu
7
hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ
đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất,
thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất.
Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục
bộ cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân, có thể dựa vào các chỉ
tiêu ở bảng sau:
Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung
TT
1.
2.
Các chỉ tiêu để
Viêm cơ
Sốt nhẹ
Sốt cao
Sốt rất cao
rất yếu
mất hẳn
Bỏ ăn hoàn
Bỏ ăn hoàn
toàn
toàn
phân biệt
Sốt
Dịch viêm
Màu
Mùi
3.
4.
Trắng xám,
trắng sữa
Bỏ ăn một
5.
Viêm tƣơng
nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa nếu vắt mạnh sữa
chảy ra có nhiều lợn cợn lẫn máu, sau 1- 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn
hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,50C.
Tùy số lượng vú bị viêm, lợn nái có biểu hiện khác nhau: nếu do nhiễm
trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm;
tuy vậy lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa liên tục đòi bú, kêu
rít; đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu
chảy toàn đàn. Trường hợp viêm tử cung có mủ dẫn đến nhiễm trùng máu, thì
toàn bộ các bầu vú đều bị viêm, đây là thể bệnh điển hình của hội chứng
M.M.A. Trường hợp này cần ghép bầy con và loại thải lợn nái.
2.1.3. Mất sữa (Agalactia)
Mất sữa thường gặp ở lợn nái sau khi đẻ với những biểu hiện đặc trưng:
núm vú bị teo dần và cứng lại, lợn con bị đói sữa kêu rít, liên tục đòi bú, thể
trạng gầy sút, da khô, lợn mẹ không có sữa nằm sấp xuống để giấu bầu vú
không cho con bú.
Chứng mất sữa thường do các nguyên nhân sau: Lợn mẹ sót nhau, nhau
còn sót tồn tại trong tử cung từ đó luôn tiết ra Folliculin ngăn trở sự phân tiết
Prolactin là cho tuyến vú không sinh sữa. Chứng mất sữa thường đi kèm trong
các bệnh gây sốt cao như: Viêm tử cung có mủ, các trường hợp sốt do nguyên
nhân bệnh khác như bệnh truyền nhiễm, viêm phổi, viêm vú… cũng gây mất
9
sữa hoàn toàn. Do lợn mẹ bị sụt canxi huyết. Do đẻ khó làm quá trình sinh đẻ
kéo dài tiêu hao nhiều năng lượng mà năng lượng ấy lại được lấy từ chất bột
đường, chất bột đường không được chuyển hoá thành đạm, từ đạm thành sữa,
do khẩu phần ăn thiếu chất bột đường nên khi chất bột đường bị cạn thì tuyến
vú căng nhưng không có sữa. Thiếu vitamin C để đồng hoá chất bột đường
thành đạm, gây viêm vú và mất sữa. Thời tiết quá nóng lượng nước uống
Theo Bilkei và cs (1991) [26], dùng Ampicillin phòng ngừa hội chứng
M.M.A trên 3 nhóm lợn: nhóm 1 tiêm bắp 50mg/kg thể trọng/ngày trong 3
ngày liên tục sau khi sinh, nhóm 2 dùng liều tương tự nhưng được cấp bằng
đường thụt rửa, nhóm 3 sử dụng liều 200 mg cấp bằng đường thụt rửa. Tác
giả kết luận liều 200 mg Ampicillin cấp qua đường thụt rửa có kết quả
phòng ngừa hội chứng M.M.A tốt nhất.
Theo Mendler và cs (1997) [33]
sử dụng Enrofloxacin với liều
2,5mg/kg thể trọng trong 3 ngày liên tục sau khi sinh. Tác giả cho biết
Enrofloxaxin có tác dụng làm giảm tỷ lệ mắc hội chứng M.M.A và tiêu chảy
lợn con theo mẹ.
Theo Nguyễn Như Pho (2002) [16] nhận xét sử dụng viên kháng sinh
Sulfamethoxazole và Trimethoprime đặt tử cung sau khi sinh đã cho biết có
tác dụng làm giảm bớt hội chứng M.M.A trên lợn nái.
Theo F. Madec và C. Neva (1995) [9], ảnh hưởng rõ nhất trên lâm sàng
mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn viêm tử cung lúc sinh đẻ
là: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn. Các quá trình bệnh lý xảy ra lúc sinh đẻ ảnh
hưởng rất lớn tới năng suất sinh sản của lợn nái sau này, tỷ lệ phối giống
không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ, hiện tượng
viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân
làm giảm độ mắn đẻ. Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên
nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống
thấp, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang còn ảnh hưởng tới hoạt
động của buồng trứng.
Gardner và cs (1990) [29] nhận xét: Về sử dụng kích thích tố
Thyroprotein có tác dụng kích thích sản xuất sữa trên cơ sở làm tăng toàn
12
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử
cung tiết nhiều Prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở
buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng, làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng, giảm lưu lượng máu đi đến
thể vàng, thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone, do đó hàm lượng
Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung
tăng nên gia súc nái có chửa dễ bị sảy thai.
Như vậy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để giảm tỷ lệ mắc bệnh,
người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh, từ đó tìm ra biện
pháp đề phòng và điều trị hiệu quả.
Theo Khuất Văn Dũng (2005) [7], viêm nội mạc tử cung là viêm lớp
niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng
sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong
các bệnh của viêm tử cung. Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia
súc sinh đẻ, nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử
cung bị tổn thương, tiếp đó các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus,
E.coli, Salmonella, C.pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas foetus…
xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm.
Theo Nguyễn Hữu Ninh và cs (2000) [15], bệnh viêm nội mạc tử cung
có thể chia 2 loại:
- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở
niêm mạc tử cung.
- Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử,
tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm
hoại tử.
Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis
Puerperalis); Lợn bị bệnh này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm, vật
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], khi gia súc bị bệnh viêm tử
cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng
14
các chất sát trùng với thể tích lớn. Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co
bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu cữu trong đó làm cho
bệnh nặng thêm. Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin hoặc PGF2α kết hợp
với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ.
Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã sử
dụng các kháng sinh: Streptomycin phối hợp với Penicillin, Chloramphenicol tiêm
một lần ngay trước khi sinh hoặc Tetracycline cho ăn liên tục 3 ngày trước khi
sinh hoặc đặt viên kháng sinh vào tử cung trong 3 ngày sau khi sinh đã cho biết
kết quả tốt trong việc phòng ngừa hội chứng M.M.A.
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], viêm tử cung là một quá trình
bệnh lý thường xảy ra ở gia súc nái sinh sản sau đẻ, quá trình viêm phá huỷ
các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở
gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia
súc nái.
Theo Đặng Đình Tín (1985) [22], viêm tương mạc tử cung thường kế
phát từ viêm cơ tử cung, ở thể thể cấp tính, viêm cục bộ, toàn thân xuất hiện
những triệu chứng điển hình và nặng; lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu
hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng, sau đó các tế bào
bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết, nếu bị viêm nặng, nhất là viêm
có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình
trạng viêm mô tử cung (thể Paramestritis), thành tử cung dày lên, có thể kế
phát viêm phúc mạc.
2.3. Cấu tạo cơ quan sinh sản của lợn
Bộ phận sinh dục của lợn nái được chia thành bộ phận sinh dục bên
nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng
trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bao chín sẽ nổi
lên bề mặt buồng trứng (Trích dẫn bởi Khuất Văn Dũng, 2005) [7]).
16
Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: Noãn nang nguyên thủy nhỏ
nhất và được bao bọc bởi lớp tế bào vảy. Noãn nang nguyên thủy phát triển
thành noãn nang bậc một, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô hình
lập phương (tế bào nang). Khi được sinh ra buồng trứng đã có sẵn hai loại
noãn nang này. Noãn nang bậc một có thể bị thoái hóa hoặc phát triển thành
noãn nang bậc hai. Noãn nang bậc hai có hai hoặc nhiều lớp tế bào nang
nhưng không có xoang nang (là khoảng trống chứa dịch nang). Noãn nang có
xoang được xem như noãn nang bậc ba, chứa dịch nang và có thể trở nên trội
hẳn để chuẩn bị xuất noãn (nang Graaf). Noãn nang có xoang bao gồm 3 lớp:
lớp bao ngoài, lớp bao trong và lớp tế bào hạt. Lớp bao ngoài là mô liên kết
lỏng lẻo. Lớp bao trong sản xuất Androgen dưới tác dụng của LH. Lớp tế bào
hạt tách rời lớp bao trong bởi màng đáy mỏng.
Tế bào hạt sản xuất nhiều chất sinh học và trên bề mặt tế bào có thụ thể
(receptor) tiếp nhận kích thích tố LH. Những chất quan trọng được sản xuất
bởi tế bào hạt là Estrogen, Inhibin và dịch nang.
Khi nang Graaf xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất
huyết tại chỗ. Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết
xuất huyết được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều
lần. Sau đó tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để
tạo nên thể vàng, (Trần Thị Dân, 2004) [3].
2.3.2. Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo. Phễu
mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp