Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nguyễn Khắc Trường là nhà văn quân đội, bước vào làng văn từ những
năm ở tuổi 20, khi đó người đọc biết đến ông với bút danh Thao Trường- một
cái tên rất quân đội. Đó là đầu những năm 70, từ người lính kĩ thuật của binh
chủng Phòng không - Không quân, Thao Trường trở thành phóng viên mặt
trận viết cho tờ in của báo binh chủng này, rồi ông viết đều đều cho tạp chí
Văn nghệ quân đội. Ông thuộc số những nhà văn trưởng thành từ cuộc kháng
chiến chống Mĩ cứu nước, nhiều năm Thao Trường là tác giả bút kí, truyện
ngắn viết về chiến tranh, hậu phương quân đội và nông thôn. Năm 1986, ông
được trao giải nhất cuộc thi bút kí của tuần báo Văn nghệ và Đài Tiếng nói
Việt Nam phối hợp tổ chức. Sau này cũng tạp chí văn nghệ giới thiệu ông đi
học trường Viết văn Nguyễn Du (khoá 1) cho đến năm 1983.
Ở độ tuổi 44, cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma được
hoàn thành khi tác giả có độ chín nhất định về cảm nhận đời sống và nghề
văn. Đề tài và những vấn đề cuốn sách đặt ra không thật mới, vẫn là cuộc
tranh chấp quyền lực và ruộng đất ở nông thôn, vẫn là cuộc đấu tranh giữa cái
thiện và cái ác, nhưng điều tác giả quan tâm ở đây là cuộc sống ở nông thôn
thời kì đổi mới, ý thức dòng họ, gia tộc đang gây trở ngại cho sự nghiệp xây
dựng xã hội mới - xã hội dân chủ, cần đấu tranh một cách kiên định và quyết
liệt hơn. Tiểu thuyết này được trao giải A của hội nhà văn Việt Nam năm
1991 (cùng với hai cuốn tiểu thuyết Bến không chồng của Dương Hướng và
Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh). Mảnh đất lắm người nhiều ma từ khi
mới xuất hiện đã được giới nghiên cứu phê bình và bạn đọc quan tâm chú ý,
được dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài, và đặc biệt được chuyển thể thành
kịch bản phim “Đất và người” năm 2001.
nhiều khả năng và vận động theo quy luật nội tại nhất định. Soi chiếu vào
sáng tác từ góc độ chỉnh thể trên cơ sở thế giới nhân vật, ta sẽ có cơ hội nắm
bắt được đối tượng nghiên cứu trong tính đa diện, đa tầng của nó. Bởi
vậy những công trình nghiên cứu về nhân vật cũng như thế giới nhân vật
được giới nghiên cứu phê bình đào xới một cách kĩ lưỡng.
Là một tác phẩm xuất sắc đạt giải cao của Hội nhà văn Việt Nam, tiểu
thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma nhận được sự quan tâm, đánh giá
của
Nguyễn Thị Thủy K32A
2
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
các nhà nghiên cứu, phê bình. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu, các
bài viết sau:
Bài “Nguyễn Khắc Trường và…”, Trần Đăng Khoa đã rất sáng tạo khi
dựng nên một cuộc đối thoại giữa người và ma, khéo léo chỉ ra những
ưu điểm và hạn chế của cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma.
Theo Trần Đăng Khoa, điều đáng ghi nhận ở cuốn tiểu thuyết này là nhà văn
đã có vốn sống, sự am hiểu sâu sắc về đời sống nông thôn, ở nghệ thuật miêu
tả tâm lí nhân vật và ngôn ngữ của nó. Một nhược điểm dễ nhận thấy là
kết cấu truyện lỏng lẻo, bố trí sự xuất hiện nhân vật có phần gượng ép.
Trong bài viết “Thế giới kì ảo trong Mảnh đất lắm người nhiều ma từ
cái nhìn văn hoá” Lê Nguyên Cẩn đưa ra lời nhận định “cái tạo ra giá trị của
4
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
“bộ đội” được sử dụng linh hoạt làm cho lời trần thuật tươi tắn và có duyên.
Đồng thời GS cũng chỉ ra mặt hạn chế còn tồn tại của cuốn sách: Xung đột
mâu thuẫn chưa quyết liệt, cách xử lý, lối trần thuật quá thiên về hài, cái
bi chưa được khám phá tận đáy”[16;12].
Nhận xét về nghệ thuật Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nguyễn Đăng
Mạnh cho rằng “đây là một cuốn truyện hấp dẫn nhờ nghệ thuật kể
chuyện. Sự dẫn dắt tình tiết, sự tổ chức các tình huống đã tạo được
nhiều bất ngờ. Các nút truyện thắt vào, cởi ra, lại thắt vào, cởi ra, người đọc
khó đoán trước được. Nhiều đoạn rất có không khí nông thôn với những
phong tục tưởng rất cổ xưa mà té ra là của hôm nay. Tác giả cũng tạo ra
được nhiều nhân vật tuy không thật sâu sắc nhưng cũng có nét cá tính gây
được ấn tượng đậm nét đối với người đọc, đặc biệt là những nhân vật ma
quái, dị dạng hoặc những con người bị ma chê, quỷ ám như anh em lão Hàm,
chị Bé, bà Son [16;18]
Trong báo Giáo dục và thời đại, ngày 27/5/1991 tác giả Ngọc Anh đưa
ra lời nhận định cho cuốn tiểu thuyết “Nguyễn Khắc Trường tỏ ra vững vàng,
từ việc dựng truyện, xây dựng nhân vật, đến sử dụng ngôn ngữ. Trong
tác phẩm của anh, sự việc nọ nối tiếp sự việc kia, bi kịch này kéo theo bi
kịch khác, nhiều sự kiện rối rắm phức tạp, nhưng tác giả đã nhìn vào bản
chất của sự việc, giải quyết thấu đáo cứ như sự việc đúng như nó phải xảy
ra như thế (…) phải công nhận rằng tác giả Nguyễn Khắc Trường am hiểu
nhiều ma làm phạm vi nghiên cứu.
4. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường nhằm mục đích
sau:
Nắm vững hiểu biết lí luận về nhân vật, thế giới nhân vật trong văn học,
các biện pháp nghệ thuật thể hiện…
Vận dụng những kiến thức lí luận trên vào tiểu thuyết Mảnh đất lắm
người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường để làm nổi bật giá trị nội dung và
đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở về đối tuợng và phạm vị nghiên cứu nêu trên chúng tôi
sẽ kết hợp vận dụng một số phuơng pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Nguyễn Thị Thủy K32A
6
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
5.1 Phương pháp thống kê
5.2 Phương pháp phân tích tổng hợp
5.3 Phương pháp nghiên cứu lịch sử
5.4 Phương pháp phân loại thống kê
5.5 Phương pháp so sánh hệ thống
6. Đóng góp của khoá luận
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 . Quan niệm về nhân vật
1.1.1. Khái niệm về nhân vật và thế giới nhân vật
1.1.1.1. Khái niệm về nhân vật
Về mặt thuật ngữ:
Hiểu theo nghĩa rộng,“Nhân vật” là khái niệm không chỉ được dùng
trong văn chương mà còn ở nhiều lĩnh vực khác. Theo bộ Từ điển tiếng Việt
thì nhân vật là khái niệm hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, Nhân vật là đối tượng (thường là con người) được miêu
tả, thể hiện trong tác phẩm văn học. Thứ hai, đó là người có một vai trò nhất
định trong xã hội [12;881] Tức thuật ngữ “nhân vật” được dùng phổ biến ở
nhiều mặt, cả đời sống xã hội, đời sống nghệ thuật lẫn đời sống sinh
hoạt hàng ngày… Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận, chúng tôi
chỉ đề cập tới khái niệm nhân vật theo nghĩa thứ nhất mà bộ Từ điển
tiếng Việt định nghĩa như vừa trích dẫn ở trên, tức là nhân vật trong tác
phẩm văn chương.
Với ý nghĩa như thế của khái niệm nhân vật, ta sẽ trở lại xuất xứ của
thuật ngữ này.
Trong tiếng Hy Lạp cổ, “nhân vật” ( được gọi với cái tên persona) lúc
đầu mang ý nghĩa chỉ cái mặt nạ của diễn viên trên sân khấu. Theo thời gian,
chúng ta đã sử dụng thuật ngữ này với tần số nhiều nhất, thường xuyên
nhất để chỉ đối tượng mà văn học miêu tả và thể hiện.
Đến cuốn Lí luận văn học, Phương Lựu đã định nghĩa khá kĩ về khái
niệm nhân vật văn học: Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được
Nguyễn Thị Thủy K32A
8
chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử,
nghề nghiệp, tính cách…và cần chú ý thêm một điều: Thực ra khái niệm nhân
vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, đó không
chỉ là những con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc
hoạ sâu đậm hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể
là sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách con người…
Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể, mà chỉ là
một hiện tượng về con người hoặc liên quan tới con người, được thể hiện
nổi bật trong tác phẩm [6; 102].
Khái niệm nhân vật văn học còn được định nghĩa trong cuốn Từ điển
thuật ngữ Văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
với nội dung cơ bản giống với định nghĩa trong cuốn lí luận văn học đã nêu:
Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm Cám, Chị Dậu, Anh Pha) cũng có
thể không có tên riêng. Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như
Nguyễn Thị Thủy K32A
1
0
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng
nổi
Nguyễn Thị Thủy K32A
là điển hình [2;105] và tính cách cũng tự nó cũng bao hàm những thuộc tính
như có nét cụ thể, độc đáo của một con người cá biệt nhưng lại mang cả
những nét chung, tiêu biểu cho nhiều người khác ở một mức độ nhất
định đồng thời cũng có một quá trình phát triển hợp với logíc khách quan
của đời sống.
Như vậy, nhân vật có hạt nhân là tính cách. Trong tác phẩm văn
chương, có nhân vật được khắc hoạ tính cách nhiều hay ít nhưng cũng
có nhân vật không được khắc hoạ tính cách.
Nguyễn Thị Thủy K32A
1
2
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.1.2. Khái niệm thế giới nhân vật
Nguyễn Thị Thủy K32A
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
1
3
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thủy K32A
10
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
những không giống với con người trong thực tại về tâm lí, hoạt động mà
còn có ý nghĩa khái quát, tượng trưng.
Trong thế giới nhân vật, người ta có thể phân chia thành các kiểu loại
nhân vật nhỏ hơn (nhóm nhân vật) dựa vào những căn cứ, tiêu chí nhất định.
Nhiệm vụ của người tiếp nhận văn học là phải tìm ra chìa khoá để bước vào
cánh cửa và khám phá thế giới nhân vật đó. Do đó nghiên cứu thế giới
nhân vật cũng khác với phân tích hình tượng thế giới nhân vật. Trong lịch
sử văn học, có thể nói, mỗi tác giả lớn đều có thế giới nhân vật riêng. Mỗi
thể loại văn học cũng có thế giới nhân vật với quy luật riêng của nó.
1.1.2. Vai trò của nhân vật văn học
Có thể nói rằng nhân vật văn học chính là hình ảnh thu nhỏ của
con người trong đời sống. Dưới lăng kính chủ quan của nhà văn, tính cách
nhân vật được nhào nặn ở mức độ nào đó, nhân vật sẽ trở thành hình tượng
về con người và cao hơn, nếu tính cách được khắc hoạ ở những nét điển
hình thì nhân vật sẽ trở thành điển hình của con người. Theo Bêlinxki, “nhà
triết học tư duy bằng phép tam đoạn luận, còn nhà thơ tư duy bằng hình
tượng cụ thể của một bức tranh”. Nói rộng ra tức là văn học phản ánh cuộc
sống bằng hình tượng, bằng những nhân vật cụ thể. Do đó vai trò, chức
năng đầu tiên, trọng yếu nhất của nhân vật là làm phương tiện để nhà văn
nhiệm vụ cụ thể hoá sự thực hiện chủ đề, tư tưởng tác phẩm, tức thông qua
sự vận động và mối liên hệ giữa các tính cách, người đọc sẽ đi đến một sự
khái quát hoá về nhận thức tư tưởng. Về mặt hình thức, nhân vật với tính
cách của nó đã quyết định phần lớn các yếu tố của hình thức như kết cấu,
biện pháp thể hiện nghệ thuật, lời nói nghệ thuật… Bàn về luận điểm này,
Hêghen cũng từng khẳng định: Tính cách là điểm trung tâm của mối quan
hệ nội dung và hình thức. Ta cũng cần lưu ý rằng: Tính cách nhân vật
mang tính lịch sử, nghĩa là tương ứng với mỗi thời đại lịch sử, các tính cách
được tôn vinh hay coi nhẹ là khác nhau, có thể trong thời này tính cách
được tôn sùng nhưng thời sau thì không, đôi khi tính cách ấy còn bị phủ
định.
Trên đây là một số vai trò, chức năng cơ bản của nhân vật trong
tác phẩm văn chương. Và dường như ở bất cứ tác phẩm nào cũng hội tụ
đầy đủ vai trò, chức năng cơ bản đó của nhân vật.
1.1.3. Các loại nhân vật văn học cơ bản
Nhân vật văn học là một thế giới vô cùng phong phú và đa dạng. Nhân
vật văn học càng độc đáo thì hầu như không có sự lặp lại cho nên bộ mặt
nhân vật là rất phong phú. Song nhìn nhận ở phương diện tổng thể trong tác
phẩm văn học, các nhà nghiên cứu lí luận, các nhà nghiên cứu văn học đã
chia thế giới nhân vật văn học thành các kiểu loại khác nhau để dễ tiếp nhận,
dễ phân tích, đánh giá theo những tiêu chí như: nội dung, cấu trúc, vai trò,
chức năng
… của nhân vật.
Thứ nhất, dựa vào vai trò của nhân vật với nội dung và hình thức của
tác phẩm có nhân vật trung tâm, nhân vật chính, nhân vật phụ. Nhân vật
chính đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều và liên quan đến các sự kiện chủ
yếu trong tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình.
Trong nhân vật chính lại nổi lên nhân vật trung tâm xuyên suốt từ đầu đến
13
án và phủ định.
Thứ ba, dựa vào sự phân chia loại thể theo truyền thống của Aristôt thì
gồm có nhân vật trữ tình, nhân vật tự sự, nhân vật kịch. Trong đó nhân vật trữ
tình được thể hiện chủ yếu qua thế giới tinh thần, nội tâm và cảm xúc phong
phú. Nhân vật trữ tình thường không thể hiện qua hành động hoặc nếu có
xuất hiện hành động thì hành động đó đóng vai trò khơi gợi tính cảm
xúc chứ không có tác dụng thúc đẩy thành xung đột. Nhân vật tự sự là nhân
vật xuất hiện trong các tác phẩm tự sự (truyện, tiểu thuyết, kí…) nó thường
hiện lên đầy đủ từ ngoại hình, cử chỉ, ngôn ngữ đến nội tâm bên trong. Nhân
vật tự sự là con người đời thường tham gia vào các tình huống khác nhau
của đời sống để tạo thành chuỗi các tình tiết xung đột trong tác phẩm. Bên
cạnh đó nhân vật kịch là loại nhân vật hiện lên chủ yếu qua hành động, ngôn
ngữ, cử chỉ, lời nói và xung đột, ít được miêu tả cụ thể về ngoại hình.
Ngoài các tiêu chí phân chia nhân vật ở trên còn có một tiêu chí nữa, đó
là dựa vào cấu trúc của nhân vật người ta phân loại thành: Nhân vật
chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng.
Nguyễn Thị Thủy K32A
15
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Nhân vật chức năng: Là nhân vật xuất hiện để thực hiện một số chức
năng nào đó. Loại nhân vật này thường có đặc điểm, tính cách ổn định với
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
Như đã khẳng định ở trên, trong tác phẩm văn chương nghệ thuật,
nhân vật là yếu tố quan trọng hàng đầu. Nhân vật văn học là sự thể hiện
quan niệm
Nguyễn Thị Thủy K32A
17
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
nghệ thuật của nhà văn về con người. Tiểu thuyết ngoài khả năng tái hiện bức
tranh toàn cảnh của đời sống xã hội còn có khả năng đi sâu khám phá số
phận con người. Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố chi phối các
yếu tố khác của nghệ thuật biểu hiện. Quan niệm nghệ thuật về con người
gắn liền với đời sống văn học của mỗi giai đoạn lịch sử.
Văn học Việt Nam sau 1986 có sự chuyển biến từ tư duy sử thi sang tư
duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời
tư. Tiểu thuyết đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực
con người trong giai đoạn mới một cách nhanh chóng và sắc bén.
Sang thế kỉ 20, khi các tiểu thuyết gia hiện đại phương Tây, đặc biệt là
ở Pháp không chú trọng đến nhân vật, họ cho rằng tiểu thuyết của các
nhân vật đã thuộc về quá khứ. Khi hoàn cảnh xã hội đã đổi khác, trong bối
Khoa Ngữ văn
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2
của chủ nghĩa cực đoan, phủ nhận mọi nền tảng đạo đức đã được thiết
lập không chịu sự tác động của xã hội. Mà ở đây số phận cá nhân được giải
quyết thoả đáng trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng xã hội. Đằng sau
mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của thời đại.
Các tác giả tiểu thuyết đã nhìn nhận con người như một cá thể bình
thường trong những môi trường đời sống bình thường. Nhân vật trong tiểu
thuyết là những con người với trăm ngàn mảnh đời khác nhau: “đầy
những vết dập xoá trên thân thể” các nhà văn đã thể hiện thành công bi kịch
cá nhân của con người qua nhân vật Giang Minh Sài trong Thời Xa Vắng, Vạn
trong Bến Không Chồng….
Tiểu thuyết Việt Nam những năm đổi mới không chỉ đi sâu vào thân
phận con người mà còn đề cập tới khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về
tình yêu đôi lứa. Các tác giả đã khai thác con người tự nhiên trước nhu
cầu của hạnh phúc đời thường, của cuộc sống riêng tư, khi con người đã trở
về với cuộc sống đời thường trong hàng loạt tác phẩm của Lê Lựu, MaVăn
Kháng,…đã thể hiện được sự gắn bó giữa sự nghiệp chung với hạnh phúc
riêng, giữa con người cá nhân và con người xã hội.
Các cây bút tiểu thuyết những năm đổi mới đã có ý thức đi sâu vào thế
giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằm nhận diện con người đích
thực. Sự xuất hiện con người tâm linh biểu hiện sự đổi mới trong quan niệm
nghệ thuật về con người của văn học. Tiểu thuyết đã bắt đầu tiếp cận với
đằng sau thế giới hiện thực, đó là thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức…