Tiếp cận ý định khởi nghiệp bằng mô hình thái độ về khởi nghiệp và xem xét tác động của giáo dục và nguồn vốn nghiên cứu thực nghiệm tại việt nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN QUANG LONG
TIẾP CẬN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP BẰNG MÔ HÌNH THÁI
ĐỘ VỀ KHỞI NGHIỆP VÀ XEM XÉT TÁC ĐỘNG CỦA
GIÁO DỤC VÀ NGUỒN VỐN: NGHIÊN CỨU THỰC
NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số:
9340101
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN HÀ MINH QUÂN

TP. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2018



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ kinh tế “Tiếp cận ý định khởi nghiệp bằng mô
hình thái độ và xem xét tác động của giáo dục và nguồn vốn: Nghiên cứu thực
nghiệm tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.

Nghiên cứu sinh

TRẦN QUANG LONG

Danh mục hình vẽ
Tóm tắt

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU .............................................. 1
1.1 Giới thiệu: ...................................................................................................1
1.2 Sự cần thiết của nghiên cứu ........................................................................1
1.2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về khởi nghiệp ................................ 1
1.2.2. Tính cấp thiết của nghiên cứu ............................................................. 6
1.3 Mục tiêu của nghiên cứu ............................................................................9
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..............................................................9
1.5 Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................10
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu ............................................................................10
1.7 Cấu trúc của luận án .................................................................................11

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT ................................................... 12
2.1. Giới thiệu chương 2 ..................................................................................12
2.2. Lý thuyết về khởi nghiệp ..........................................................................12
2.2.1. Các quan điểm về khởi nghiệp ....................................................... 12
2.2.2. Các phương pháp nghiên cứu về khởi nghiệp. ............................... 14
2.3. Lý thuyết về ý định khởi nghiệp (Entrepreneurial intention – EI) ...........19
2.3.1. Khái niệm về ý định khởi nghiệp.................................................... 19
2.3.2. Các mô hình nghiên cứu ý định khởi nghiệp .................................. 21
2.4. Các thành phần của mô hình thái độ về khởi nghiệp ...............................26
2.4.1. Tự trọng (Self_esteem_SE) ............................................................ 26
2.4.2. Sáng tạo (Innovation_INN) ............................................................ 27
2.4.3. Thành tích (Achievement_ACH) .................................................... 28
2.4.4. Kiểm soát bản thân (Personal Control_PC) .................................... 29
2.5. Lý thuyết về giáo dục khởi nghiệp ...........................................................30



3.6. Phương pháp nghiên cứu: .........................................................................75
3.6.1. Phương pháp phân tích EFA ........................................................... 75
3.6.2. Phương pháp hồi qui bội ................................................................. 76
3.6.3. Phương pháp ANOVA một chiều và hậu ANOVA ........................ 77
3.7. Tóm tắt chương 3......................................................................................78

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ .............. 79
4.1. Giới thiệu chương 4 ..................................................................................79


4.2. Kết quả thống kê mô tả .............................................................................79
4.2.1. Giới tính .......................................................................................... 79
4.2.2. Độ tuổi ............................................................................................ 80
4.3. Phân tích đánh giá thang đo......................................................................81
4.3.1. Đánh giá độ tin cậy của thang đo.................................................... 81
4.3.2. Kiểm định thang đo bằng phương pháp EFA ................................. 89
4.4. Mô hình nghiên cứu chính thức................................................................94
4.5. Kiểm định mô hình nghiên cứu ................................................................96
4.5.1. Kiểm định giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5: mối quan hệ giữa thái
độ về khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp ...................................... 97
4.5.2. Kiểm định giả thuyết H6: Phương pháp giáo dục tác động đến thái
độ về việc khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp. ............................. 101
4.5.3. Kiểm định giả thuyết H7: thời lượng đào tạo tác động đến thái độ
về khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp. ......................................... 105
4.5.4. Kiểm định giả thuyết H8: trình độ học vấn có tác động đến thái độ
về khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp. ......................................... 110
4.5.5. Kiểm tra giả thuyết H9: nguồn vốn tác động điều tiết đến mối quan
hệ giữa thái độ về khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp. ............... 115
4.6. Tóm tắt chương 4....................................................................................120


KẾT QUẢ ONEWAY ANOVA: Phương pháp giảng dạy

D.

KẾT QUẢ ONEWAY ANOVA: Thời lượng đào tạo

E.

KẾT QUẢ ONEWAY ANOVA: Trình độ học vấn

F.

KẾT QUẢ HỒI QUI NGUỒN VỐN VỚI BIẾN DUMMY

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
EAO: Entrepreuerial Atittude Orientation
TPB: Theory Planned Behavior
EEM: Entreprenuership Event Model
EI: Entreprenuerial Intention
EB: entrepreneurial behaviour
DNKN: Doanh nghiệp khởi nghiệp
SE: Self-esteem (Sự tự trọng)
ACH: Achievement (Thành tích)
INN: Innovation (Sáng tạo)
PC: Personal control (Kiểm soát bản thân)
COG: Cognation (Nhận thức, niềm tin / suy nghĩ)

Bảng 4.8: Độ tin cậy thang đo chính thức cảm xúc kiểm soát bản thân……..80
Bảng 4.9: Độ tin cậy thang đo chính thức cảm xúc thành tích…………….. 81
Bảng 4.10: Độ tin cậy thang đo chính thức ý chí thành tích………………. 81


Bảng 4.11: Độ tin cậy thang đo chính thức nhận thức thành tích………….. 81
Bảng 4.12: Độ tin cậy thang đo chính thức cảm xúc sáng tạo……………… 82
Bảng 4.13: Độ tin cậy thang đo chính thức ý chí sáng tạo………………… 82
Bảng 4.14: Độ tin cậy thang đo chính thức nhận thức sáng tạo……………..83
Bảng 4.15: Độ tin cậy thang đo chính thức ý định khởi nghiệp……………..83
Bảng 4.16: Kết quả phân tích EFA………………………………………… 86
Bảng 4.17: Bảng trọng số hồi qui mô hình nghiên cứu……………………. 93
Bảng 4.18: So sánh ANOVA phương pháp giảng dạy…………………….. 95
Bảng 4.19: Kiểm định tính đồng nhất phương sai………………………… 96
Bảng 4.20: Bảng so sánh Cảm xúc tự trọng và Cảm xúc sáng tạo giữa các nhóm
bằng LSD………………………………………………………………….. 97
Bảng 4.21: So sánh ANOVA cho thời lượng đào tạo……………………… 99
Bảng 4.22: Kiểm định tính đồng nhất của phương sai (Leneve)……............100
Bảng 4.23: Bảng so sánh cảm xúc sáng tạo giữa các nhóm bằng phương pháp
Tamhane

………………………………………….……………………..100

Bảng 4.24: Bảng so sánh Cảm xúc kiểm soát thành tích bản thân giữa các nhóm
bằng phương pháp LSD……………………………..……………………….101
Bảng 4.25: Bảng so sánh Ý định khởi nghiệp giữa các nhóm bằng phương pháp
LSD ………………………………………………………………………..102
Bảng 4.26: So sánh ANOVA trình độ học vấn…….…………………..........103
Bảng 4.27: Kiểm định sự đồng nhất của phương sai (Leneve)………...........104
Bảng 4.28: Bảng so sánh giữa các nhóm bằng phương pháp LSD………….104

khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp, đồng thời kiểm tra vai trò điều tiết của nguồn vốn
lên mối quan hệ này. Ngoài ra nghiên cứu cũng kiểm tra vai trò kiểm soát của các
yếu tố giáo dục đến thái độ và ý định về khởi nghiệp của người Việt Nam. Qua đó
nhằm phát triển và kiểm định thang đo lường và xây dựng mô hình lý thuyết cũng
như đóng góp những hàm ý quan trọng cho các nhà làm chính sách.
Qui trình nghiên cứu được tiến hành gồm hai bước chính: một là, nghiên cứu
sơ bộ gồm định tính và định lượng được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm
điều chỉnh, bổ sung các biến quan sát của thang đo; hai là, nghiên cứu chính thức với
cở mẫu 337 để kiểm định lại thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết
nghiên cứu.
Kết quả cho thấy các thành phần thang đo “Thái độ về khởi nghiệp” có tác
động đáng kể đến ý định khởi nghiệp. Tuy nhiên, có điểm khác biệt so với thang đo
gốc với sự xuất hiện của thành phần thứ năm là “kiểm soát thành tích cá nhân”. Ngoài
ra, nguồn vốn được tìm thấy có vai trò điều tiết đến mối quan hệ này. Cuối cùng, các
yếu tố của giáo dục cũng có tác động kiểm soát đến thái độ và ý định về khởi nghiệp.
Kết quả nghiên cứu này góp phần bổ sung vào lý thuyết về thái độ và ý định
về khởi nghiệp, trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam. Các đóng góp về hàm ý cũng
giúp các nhà quản trị hiểu rõ hơn về cơ chế hình thành cũng như những yếu tố tác
động đến ý định khởi nghiệp. Qua đó, họ sẽ có những chính sách hiệu quả hơn trong
việc khuyến khích khởi nghiệp.


1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu:
Nghiên cứu này nhằm khám phá phương pháp dự báo ý định khởi nghiệp cũng
như kiểm tra vai trò điều tiết của các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp, cụ thể
là giáo dục và nguồn vốn. Chương một, người viết sẽ trình bày sự cần thiết của nghiên
cứu, mục tiêu, phương pháp và phạm vi tiến hành nghiên cứu, ý nghĩa, đóng góp của

cách giải quyết vấn đề, tính chấp nhận sự mơ hồ và đề cao giá trị. Vì vậy, họ nỗ lực
xây dựng nên một danh mục các đặc điểm doanh nhân để dự báo hiện tượng khởi
nghiệp. Trường phái thứ ba quyết định khởi nghiệp xuất phát từ ý định của một cá
nhân, do đó, phụ thuộc vào thái độ của người đó về vấn đề khởi nghiệp. Trường phái
này tiếp cận theo hướng tâm lý học nhằm dự báo hành vi khởi nghiệp (như Rosenberg
và Hovland, 1960; Shaver, 1987; Ajzen, 1991; Shapero và Sokol, 1982; P. Robinson,
1991; Fayolle và DeGeorge 2006; Kolvereid 1996; Krueger và cộng sự, 2000). Cả ba
trường phái đều có nhiều đóng góp to lớn vào hệ thống khoa học về khởi nghiệp, tuy
nhiên vẫn còn những tranh cãi kéo dài về việc dự báo khởi nghiệp. Cho đến nay, có
rất nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình mô hình “Lý thuyết hành vi dự định” của Ajzen
(1991), “ Mô hình sự kiện khởi nghiệp” của Shapero và Sokol (1982) để dự báo ý
định khởi nghiệp (và sau đó là hành vi khởi nghiệp). Cả hai mô hình này đều có hai
thế mạnh: một là, cả hai mô hình đã được kiểm chứng rất nhiều lần và kết quả thống
kê cũng hỗ trợ mạnh mẽ cho cả hai mô hình (Krueger Jr và cộng sự, 2000). Hai là, cả
hai có ưu điểm là các yếu tố ngoại sinh được kiểm soát trong các khái niệm thái độ,
do đó không ảnh hưởng đến ý định (Souitaris và cộng sự, 2007; Tkachev và cộng sự,
1999)
Tuy nhiên, cả hai mô hình vẫn tồn tại một số bất cập: thứ nhất, trong mô hình
TPB, Ajzen vẫn giữ quan điểm thái độ là một cấu trúc đơn và được biểu hiện qua
phản ứng tình cảm đơn lập (Fishbein và Ajzen, 1975). Theo nghĩa này, hành vi kinh
doanh là một chức năng của thái độ của một người đến giá trị, lợi ích của khởi nghiệp
và chủ yếu được đại diện bởi phản ứng tình cảm đơn lập (Robinson và cộng sự, 1991a;
Dömötör và Hader, 2007). Ngoài ra, TPB là mô hình ban đầu được xây dựng để dự
đoán một hành vi nói chung trong tâm lý học và sau đó được áp dụng vào nghiên cứu


3

ý định khởi nghiệp, trong khi ý định khởi nghiệp là một lĩnh vực đặc thù, chỉ diễn ra
khi ý định đã được cân nhắc kỹ lưỡng, nghiêm túc. Hơn nữa, trong mô hình TPB, giả


và Gibson, 2008). Ý định hành vi khởi nghiệp là một chức năng của bốn thành phần
của mô hình trong ba khía cạnh thái độ: cảm xúc, nhận thức và ý chí hành vi. Sự kết
hợp của ba chiều này thúc đẩy một người trở thành doanh nhân. Mặt khác, theo cách
phản biện của Bagozzi (1992) “TPB không mô tả quá trình tạo ra động lực” thì nhu
cầu thành tích của EAO có thể được xem là động lực để hình thành ý định hành vi.
Ngoài ra, yếu tố sáng tạo trong mô hình EAO được cho là rất quan trọng và gắn liền
với hành vi khởi nghiệp (Hmieleski và Corbett, 2006; Hamidi và cộng sự, 2008;
Bowen và cộng sự, 2010), tuy nhiên không hiện diện trong mô hình TPB và EEM.
Vì thế, mô hình EAO được cho là “được thiết kế dành riêng và phù hợp hơn cho
nghiên cứu khởi nghiệp” (Huefner và cộng sự, 1996). Mô hình này cũng đã được sử
dụng trong một số nghiên cứu để đo lường các quan điểm về tinh thần khởi nghiệp
(Stimpson, Huefner, Narayanan và Shanthakumar, 1993; Boshoff và Scholtz, 1995;
Wyk và Boshoff, 2004; Harris và Gibson, 2008; Sharif và Saud, 2009; Soomro và
Shah, 2015).
Tuy vậy, mô hình EAO lại chưa được kiểm chứng rộng rãi ở các nền văn hóa
khác nhau cũng như tại Việt Nam. Hơn nữa, các nghiên cứu hiện có dựa trên mô hình
này lại cho các kết quả nghiên cứu thiếu tính nhất quán. Cho đến nay, các nhà khoa
học vẫn chưa thể khằng định được đâu là mô hình tối ưu để dự báo ý định và hành vi
khởi nghiệp và họ kêu gọi có nhiều hơn nữa những nghiên cứu sử dụng các mô hình
khác nhau ở những bối cảnh kinh tế xã hội và văn hóa khác nhau để làm giàu thêm
hệ thống lý thuyết.
Một luồng nghiên cứu khác tiếp cận theo hướng xem xét các yếu tố tác động đến
ý định khởi nghiệp. Yếu tố môi trường kinh doanh như thuế, thất nghiệp, cạnh tranh,
mức độ phát triển kinh tế (Leff, 1979). Nguồn vốn con người: kinh nghiệm (Cooper
và Park, 2008), kiến thức, kỹ năng (Kor và cộng sự, 2007), tầm nhìn, khả năng xữ lý
công việc (Douglas và Shepherd, 2005), chấp nhận sự mơ hồ (Koh, 1996); chấp nhận
rủi ro (Gurol và Atsan, 2006), gia đình (Matthews và Moser 1996), giáo dục (G.
Gorman, D. Hanton và W. King, 1997; L. Kolvereid và H. Matlay, 2012; McMullan


các giai đoạn khởi nghiệp (Maurya, 2012; Marmer, Hermann và Berman, 2011). Tuy
nhiên, trong hệ thống tài liệu, vẫn chưa làm rõ vai trò tác động của từng loại hình


6

nguồn vốn đến mối quan hệ giữa thái độ và ý định về khởi nghiệp. Hơn nữa, một khi
EAO được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ là phù hợp để đo lường ý định khởi nghiệp,
thì việc xem xét tác động của các yếu tố giáo dục và nguồn vốn thông qua EAO là rất
cần thiết.
1.2.2. Tính cấp thiết của nghiên cứu
Tại Việt Nam, khởi nghiệp đang là chủ đề thu hút quan tâm rất nhiều từ cơ
quan chính phủ đến các quỹ đầu tư, các trường Đại học, và đặc biệt là tầng lớp thanh
niên. Theo báo cáo GEM (Global Entreprenuership Monitor_Chỉ số khởi nghiệp toàn
cầu), tỷ lệ người trưởng thành nhận thức về cơ hội kinh doanh ở Việt Nam năm 2015
là 56,8%, tăng mạnh so với năm 2014 ở mức 39,4% và năm 2013 ở mức 36,8%. Tỷ
lệ này trung bình ở các nước phát triển dựa trên nguồn lực là 53,8%. Tỷ lệ người
trưởng thành ở Việt Nam có ý định khởi sự trong kinh doanh trong vòng ba năm tiếp
theo là 22,3%, tăng so với năm 2014 là 18,2%, tuy nhiên vẫn thấp hơn tỷ lệ trung
bình 36,5% của các nước cùng nhóm. Theo thống kê 2015, Việt Nam có hơn 1500
dự án khởi nghiệp, tuy còn nhỏ về qui mô vốn và nhân lực nhưng được kỳ vọng sẽ
đóng góp đáng kể vai trò động lực của nền kinh tế trong tương lai gần. Vì vậy, các
nhà khoa học và các nhà làm chính sách rất quan tâm đến việc dự báo cũng như những
yếu tố tác động đến việc hình thành ý định khởi nghiệp để có thể khuyến khích khởi
nghiệp.
Trong khoa học, như đã trình bày ở mục 1.2.1, nhiều nhà nghiên cứu đã cố
gắng để xác định nguyên nhân của ý định kinh doanh với hàng ngàn nghiên cứu của
nhiều trường phái được tiến hành trong những thập kỷ qua. Mặc dù có những đóng
góp đáng ghi nhận, hệ thống lý thuyết vẫn tồn tại nhiều tranh cãi không ngừng về một
phương pháp dự báo ý định khởi nghiệp phù hợp và tối ưu. Trong khi hai mô hình

2012; Marmer, Hermann và Berman, 2011). Theo đó, tương ứng với từng giai đoạn,
doanh nghiệp sẽ có thể huy động một loại hình nguồn vốn khác nhau. Vấn đề đặt ra
rằng liệu một nguồn vốn tài chính dồi dào và dễ tiếp cận có làm tăng quyết tâm khởi
của các cá nhân hay không? Tại các quốc gia khởi nghiệp, các nhà đầu tư, tài trợ sẽ
hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN) bằng rất nhiều hình thức như cho vay, đặt
hàng, mua hoặc tài trợ ý tưởng, giám sát và hỗ trợ các dự án khởi nghiệp. Hiện nay ở
nước ta đã xuất hiện hoạt động này tuy chưa nhiều. Một phần do sản phẩm ý tưởng


8

của ta chưa đạt tầm vóc sáng tạo, mặt khác có quá ít quỹ đầu tư mạo hiểm lớn như
IDG Ventures VietNam, CyberAgent Ventures, DFJ Vinacapital, Sumitomo...mặc dù
họ đã góp phần tạo nên tên tuổi một số doanh nghiệp trong lĩnh vực game, internet
và e-commerce. Thực tế để có thể thuyết phục các Quỹ này đầu tư là không dễ dàng
do quy trình chọn lựa dự án của họ rất khắt khe, tuy nhiên cũng đã từng có những dự
án được tài trợ (vexere.com, vatgia, foody.vn….). Các bạn trẻ khởi nghiệp không nên
chỉ biết dựa vào nguồn vốn từ gia đình, bạn bè, người thân vì không đáng kể và sẽ
thiếu tính dài hạn. Điểm quan trọng khi được tài trợ bởi các Quỹ là ngoài vốn họ còn
giúp DNKN định hướng sản phẩm, phát triển kế hoạch kinh doanh về lâu dài. Thiếu
và yếu về kế hoạch tài chính, hạn chế về nguồn vốn là một trong những nguyên nhân
thất bại chính của DNKN Việt Nam trong thời gian qua…Theo đánh giá chung của
IDG Ventures VietNam cho thấy, tỷ lệ thất bại của DNKN ở Việt Nam lên đến gần
80% trong ba năm đầu tiên tác động rất lớn đến thái độ của người khởi nghiệp. Vì
thế, yếu tố nguồn vốn có tác động đến thái độ và hình thành ý định khởi nghiệp hay
không là một vấn đề cần thiết phải được kiểm chứng. Đến nay, vẫn chưa tìm thấy
nghiên cứu nào thông qua mô hình EAO xem xét tác động của nguồn vốn đến mối
quan hệ giữa thái độ và ý định về khởi nghiệp.
Cuối cùng, như đề cập của Robinson: "Mô hình thái độ của khởi nghiệp, như
đã được thực nghiệm và trình bày khái niệm ở đây, có hướng đi cho các chương trình

cứu về địa lý được tiến hành ở ba địa phương lớn có làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ
ở Việt Nam, đó là TP. Hà Nội, TP. Đà Nẳng và TP. Hồ Chí Minh.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo hai bước: bước một là nghiên cứu sơ bộ và
bước hai là nghiên cứu chính thức. Trong phần nghiên cứu sơ bộ, người viết áp dụng
phương pháp định tính (thảo luận nhóm) nhằm điều chỉnh, bổ sung thang đo và
phương pháp định lượng để đánh giá độ tin cậy thang đo. Nghiên cứu định lượng sơ
bộ được thực hiện thông qua cuộc khảo sát và thu thập ý kiến với số mẫu là 44. Kết
quả thu được sẽ tiến hành xữ lý bằng phần mềm SPSS. Hệ số Cronbach alpha được
sử dụng để kiểm tra độ tin cậy thang đo. Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ được thực hiện
tại TP. Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp định lượng, thông qua cuộc khảo
sát phỏng vấn trực tiếp và Google docs, tại ba thành phố Hà Nội, Đà Nẳng và Hồ Chí
Minh. Dữ liệu thu được sẽ được phân tích bằng SPSS, thực hiện kiểm định lại thang
đo bằng phương pháp hệ số Cronbach alpha, kiểm định tính hội tụ và phân biệt bằng
EFA. Để kiểm định mối quan hệ giữa các thành phần của thái độ về khởi nghiệp và
ý định khởi nghiệp, người viết sử dụng mô hình hồi qui. Để kiểm định vai trò điều
tiết của nguồn vốn đến mối quan hệ giữa thái độ và ý định về khởi nghiệp, người viết
sử dụng phương pháp hồi qui với biến dummy và cuối cùng dùng phương pháp so
sánh ANOVA và kiểm định hậu ANOVA để kiểm tra vai trò kiểm soát của các yếu
tố giáo dục.
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện sẽ góp phần vào việc bổ sung hệ thống lý thuyết
về ý định khởi nghiệp bằng cách tiếp cận thái độ về khởi nghiệp, cũng như xem xét
một số yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp trong bối cảnh của một nền kinh tế
chuyển đổi – Việt Nam.


11


CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1.

Giới thiệu chương 2
Xuất phát từ định hướng nghiên cứu của đề tài, người viết tập trung tìm kiếm

và tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu về ý định khởi nghiệp cũng như những tác động
của giáo dục và nguồn vốn. Trong chương này sẽ mô tả tổng quan cơ sở lý thuyết làm
nền tảng để thực hiện đề án nghiên cứu. Thông qua việc hệ thống hoá cơ sở lý thuyết
về các khái niệm nghiên cứu, người viết sẽ phác thảo mô hình nghiên cứu ý định khởi
nghiệp từ phương pháp tiếp cận thái độ tại Việt Nam cũng như đánh giá vai trò tác
động của yếu tố giáo dục và nguồn vốn.
2.2.

Lý thuyết về khởi nghiệp
2.2.1. Các quan điểm về khởi nghiệp
Vào khoảng đầu thế kỷ 19, Richard Cantillon cho rằng một người khởi nghiệp

là một người "sẵn sàng mua ở một mức giá nhất định và bán lại tại một mức giá nào
đó" (Cantillon, 1931). Trong khi Jean Baptiste Say, cho rằng người khởi nghiệp là
một người chuyển những nguồn lực kinh tế từ một lĩnh vực có năng suất thấp hơn
vào một lĩnh vực khác có năng suất cao hơn để đạt kết quả tốt hơn (Dees và cộng sự
trích dẫn, 1998). Schumpeter (1934), một nhà nghiên cứu kinh tế học đã chứng minh
trong các nghiên cứu của mình rằng "người khởi nghiệp chính là tác nhân của sự thay
đổi bên trong một nền kinh tế và tăng trưởng kinh tế có thể đạt được là nhờ những
hoạt động của họ" (Swedberg, 2002). Bằng cách phân biệt sự khác nhau giữa đổi mới
và sáng chế, Schumpeter cho rằng khởi nghiệp phải bao gồm việc tạo ra sự đổi mới
và chỉ bằng cách đó, vai trò của người khởi nghiệp mới có thể được thể hiện trong
quá trình đổi mới. Cuối cùng ông kết luận rằng lý thuyết về tinh thần khởi nghiệp cần
phải được xây dựng dựa trên "các hoạt động thực tế của các người khởi nghiệp"


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status