VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM - Pdf 60

Giáo dục Việt Nam: những vấn đề căn bản
Trong suốt hơn một thập niên qua, những vấn đề giáo dục của Việt Nam
thường là những đề tài gây tranh luận trên báo chí. Hầu hết đều ghi nhận
truyền thống hiếu học của học trò Việt Nam và sự hy sinh của bố mẹ cho
việc giáo dục con cái. Sinh viên Việt Nam tốt nghiệp ở các trường giỏi trong
nước khi ra nước ngoài tiếp tục học ở các trường cấp trên thường đạt thành
công không mấy khó khăn. Thế nhưng, khi nhìn vào chương trình giáo dục
của Việt Nam hiện nay và theo dõi báo động của các nhà giáo dục trong
nước, khó có thể phủ nhận một thực tế là giáo dục tại Việt Nam đang có
vấn đề, ở mức độ khủng hoảng. Khủng hoảng hiện diện trong rất nhiều lãnh
vực khác nhau của giáo dục. Tình trạng bất cập, yếu kém trong chất lượng
giáo dục và việc xem nhẹ hình thành nhân cách cũng đã được ghi nhận
trong một báo cáo thẩm tra của Quốc hội
[1]
. Vấn đề còn lại là làm sao giải
quyết những khủng hoảng đó dựa trên điều kiện thực tế của Việt Nam.
Bài viết này chú trọng đến những vấn đề liên quan đến mục tiêu căn bản
của giáo dục. Ðể có được một cái nhìn bao quát và khách quan, trước hết
tác giả xét đến kinh nghiệm của một vài nước Á Châu đã từng có những
điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tương tự. Tiếp đó, tác giả liên hệ đến
trường hợp Việt Nam và phân tích những sai lầm căn bản trong giáo dục
hiện thời, nói chung, và trong chương trình giáo dục trung tiểu học cũng
như ở đại học, nói riêng. Sau cùng, tác giả đưa ra một số đề nghị giải quyết
những sai lầm đó.
Giáo dục tại một số nước ở Á Châu
Singapore, Ðại Hàn, Ðại Loan là một số nước Á châu đã từng trải qua
những kinh nghiệm tương đối giống Việt Nam. Nhìn quá trình phát triển
giáo dục của họ trong nửa thế kỷ qua, ta có thể bắt gặp những vấn đề giáo
dục tương tự. Tuy nhiên, những vấn đề đó của họ xẩy ra ở những thời điểm
sớm hơn. Ta cũng có thể nhìn thấy cách giải quyết của họ khác Việt Nam
và quyết tâm của họ cũng khác. Bên cạnh, cũng có những vấn đề rất giống

[2]

Ðiều cần ghi nhận trong giáo dục toàn diện, không riêng gì cho Singapore,
là phần đức dục phải bao hàm tính trung thực, trong sáng, hồn nhiên; phần
trí dục phải bao hàm khả năng suy tư độc lập và tôn trọng sự khác biệt;
phần mỹ dục phải bao hàm khả năng sáng tạo và khả năng làm đẹp cuộc
đời; và phần giáo dục tính xã hội phải bao hàm khả năng biết tôn trọng tính
đa dạng của cộng đồng và xã hội. Chúng ta sẽ trở lại những điều ghi nhận
này khi bàn về những vấn đề căn bản trong giáo dục của Việt nam.
Dành nỗ lực triệt để nhất cho giáo dục là Ðại Hàn
[3]
. Những vấn đề về giáo
dục luôn là đề tài sôi nổi của giới truyền thông và hầu hết dân chúng tin
tưởng rằng tài nguyên quí báu nhất của họ là nguồn nhân lực được đào tạo
qua hệ thống giáo dục. Những thành tựu của Ðại Hàn trong bốn thập niên
qua đã chứng minh lòng tin tưởng và quyết tâm của họ có cơ sở vững chắc.
Hệ thống giáo dục của họ giúp đất nước phát triển nhanh vượt bực, nhưng
sự phát triển nhanh vượt bực này ngược lại đòi hỏi những cải cách thích
nghi của giáo dục, tạo nên những chính sách không ngừng đổi thay. Chỉ
riêng về chế độ thi vào đại học, họ đã thay đổi ít nhất 20 lần kể từ 1945 đến
nay.
Ðể có một cái nhìn cụ thể về quyết tâm của họ, ta thử nhìn vào vài sự kiện
và vài con số. Sau đệ nhị thế chiến, quốc gia Triều Tiên thoát được sự đô hộ
của Nhật nhưng lại bị chia làm hai, dọc vĩ tuyến 38. Ðại Hàn là tên mới của
phần đất phía nam, lúc đầu đạt một nền độc lập không trọn vẹn, theo chế độ
cộng hòa, phụ thuộc lực lượng chiếm đóng Hoa Kỳ về quân sự và cả về
ngân sách. Ðến năm 1948, Ðại Hàn vẫn chưa đủ tiền để thực hiện cưỡng
bách giáo dục quá bậc tiểu học. Năm 1975, dù đang trong tình trạng bị đe
dọa bởi một cuộc tấn công bằng quân sự từ phía bắc, họ đã dành 13.9 %
ngân sách quốc gia cho giáo dục. Ðến năm 1986, tỉ lệ này tăng lên 27.3 %.

công lớn cho xã hội. Một chính sách cải tổ được đề xuất vào khoảng giữa
thập niên 80, ngăn cản và trừng phạt việc dạy kèm đồng thời tăng lương
giáo chức. Ðến cuối thập niên 80, hiện tượng dạy kèm gần như biến mất.
Ðại Hàn chủ trương một chính sách tiếp thu giáo dục nước ngoài một cách
cởi mở và bạo dạn. Con số du sinh tăng 20 lần từ 1971 đến 1999, từ 7.632
người lên 154.219 người. Cũng vào năm đó, 130 trong tổng số 156 đại học
bậc bốn năm đã kết nghĩa với 2.130 đại học nước ngoài thuộc 110 quốc gia
khác nhau. Trong số này, 640 là các đại học ở Hoa Kỳ.
Sinh viên đại học không chịu sự kiểm soát về chính trị của bộ giáo dục.
Ngay từ thời tổng thống Lý Thừa Vãn, mà nhiều người vẫn coi như một nhà
độc tài của Ðại Hàn, sinh viên vẫn thường xuyên biểu lộ phản ứng chính trị
của họ. Chính nhờ sự độc lập về chính trị này cùng với những trang bị cao
về chuyên môn mà sinh viên Ðại Hàn có những suy nghĩ độc lập, lòng tự
tin và niềm kiêu hãnh đáng nể. Ngày nay đại học Ðại Hàn đang tiến dần
đến sự tự trị hoàn toàn, giống như đại học của các nước phương Tây, đặc
biệt là Hoa Kỳ.
Khủng hoảng giáo dục của Việt Nam hiện nay
Nhìn toàn thể, trường học Việt Nam đào tạo khá tốt về các môn khoa học tự
nhiên và một số ngành kỹ thuật. Khuyết điểm, nếu có, trong các lãnh vực
này, có thể được khắc phục tương đối dễ dàng. Khủng hoảng căn bản của
giáo dục Việt Nam nằm ở mô thức giáo dục và những chính sách liên quan
đến mục tiêu hàng đầu là phát triển con người toàn diện. Nói khác đi, nó
liên hệ đến mục tiêu phát triển những giá trị chính như sự trong sáng, khả
năng sáng tạo, tư duy độc lập, và ý thức tôn trọng sự khác biệt, v.v.
Một nền giáo dục thực sự phát triển con người toàn diện không thể là một
nền giáo dục nhằm phục vụ một chế độ, một quan điểm chính trị, một tập
thể lãnh đạo, một giai cấp, một tôn giáo, v.v. Lỗi lầm quan trọng nhất trong
giáo dục Việt Nam lại nằm ở điểm này. Ở miền Bắc trước khi chiến tranh
chấm dứt, và ở cả nước trong khoảng gần 20 năm tiếp theo đó, nó là một
nền giáo dục của xã hội chủ nghĩa, nó không chấp nhận những mô hình xã

Dùng phương pháp áp đặt như một mô thức chính cho giáo dục như trong
trường hợp Việt Nam hiện nay hoàn toàn không hợp lý cho sự phát triển
một nền giáo dục tiên tiến trong điều kiện toàn cầu hóa và thời đại của bùng
nổ thông tin. Ngược lại, nó đang biến nền giáo dục này trở thành lạc hậu, dù
nhìn trên mặt nổi, lượng thông tin trong các chương trình học ở Việt Nam
nhiều hơn chương trình giáo dục của nhiều quốc gia tiên tiến. Theo Hà Thư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status