ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ LAN MINH
PHẠM TRÙ LỄ CỦA KHỔNG TỬ VÀ Ý NGHĨA CỦA
NÓ ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC
SINH VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 80
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ TRỌNG HANH
HÀ NỘI - 2012
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, tư tưởng của Khổng Tử có một vị
trí rất đặc biệt. Sự đặc biệt ấy không chỉ bởi những giá trị đặc sắc trong
nội dung tư tưởng và tầm ảnh hưởng của nó đối với thời đại nó ra đời
mà còn bởi tư tưởng Khổng Tử đã sống một cuộc sống lâu bền và rất
riêng, vượt qua khuôn khổ một thời đại, một quốc gia. Tư tưởng Khổng
Tử nói riêng và tư tưởng nho giáo nói chung đã trở thành hệ tư tưởng
của giai cấp phong kiến trong suốt tiến trình phát triển qua các triều đại
phong kiến ở Trung Hoa và nhiều nước Á Đông khác trong đó có Việt
Nam.
Với một hệ thống những quan điểm về thế giới và đặc biệt là quan
điểm nhân sinh thể hiện trong quan niệm về chính trị xã hội và luân lý
đạo đức, Khổng Tử là người đã đặt nền móng cho sự phát triển của Nho
học trong lịch sử Trung Hoa. Quan điểm về Lễ là một trong những nội
dung chủ yếu trong quan niệm về chính trị xã hội, luân lý đạo đức của
Khổng Tử. Trong học thuyết về chính trị - xã hội của Khổng Tử, Lễ
được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau nhưng dù ở khía cạnh nào nó
cũng không vượt ra khỏi mục đích tối cao nhằm giải quyết một vấn đề
lớn của thời đại ông là bình ổn xã hội. Khổng Tử muốn khôi phục Lễ để
Tư tưởng của Khổng Tử nói chung và quan điểm về Lễ nói riêng có
ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay.
Với những giá trị đã được thẩm định, phát triển qua thực tiễn nhiều
thế kỷ cùng với sự tiếp biến linh hoạt và cho vào Lễ một hơi thở của
thời đại thì nó hoàn toàn có thể giúp khôi phục và định hình một nhân
cách chuẩn đối với học sinh, đặc biệt là với một bộ phận học sinh lệch
chuẩn hiện nay ở nước ta.
Với những suy nghĩ đó, tôi đã làm luận văn cao học với đề tài:
“Phạm trù Lễ của Khổng Tử và ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục
đạo đức cho học sinh Việt Nam hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu
Nho giáo nói chung và phạm trù Lễ trong triết học của Khổng Tử
nói riêng là đối tượng nghiên cứu đang thu hút nhiều ngành khoa học
nghiên cứu trong nhiều thế kỷ qua cho tới hiện nay, như: triết học, văn
2
hóa học, sử học, tôn giáo học, giáo dục học, đạo đức học… Có thể khái
quát kết quả nghiên cứu đó theo ba hướng sau:
Hướng thứ nhất, các công trình nghiên cứu về Khổng Tử trong tổng
thể nền văn hóa Trung Quốc. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có
thể kể đến các tác phẩm như: “Sử ký” của Tư Mã Thiên, Nxb Văn học,
Hà Nội, xuất bản năm 1988; “Lịch sử văn minh và các triều đại Trung
Quốc”, được biên soạn năm 2004 bởi TS. Dương Ngọc Dũng - Nhà
nghiên cứu Anh Minh, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh; “Lịch
sử văn minh Trung Hoa” của sử gia lớn nhất thời hiện đại Will Durant,
Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội (dịch giả Nguyễn Hiến Lê), 2004;
“Đại cương triết học sử Trung Quốc”, của nhà triết học Phùng Hữu
Lan (Fung Yu-Lan), Nxb Thanh niên, Trung tâm nghiên cứu quốc học,
Hà Nội (người dịch Nguyễn Văn Dương), xuất bản năm 1999; “Nho
giáo Trung Quốc” của tác giả Nguyễn Tôn Nhan, Nxb Văn hóa thông
tin, năm 2005; “Lịch sử triết học phương Đông”, của GS. Nguyễn
Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết của
các tác giả chuyên nghiên cứu, dịch thuật và giới thiệu riêng về Lễ
trong triết học Khổng Tử, như: “Lễ Ký - kinh điển về việc lễ” của tác
giả Nhữ Nguyên, Nxb Đồng Nai, Biên Hòa, 1996; “Kinh lễ”, do
Nguyễn Tôn Nhan biên dịch và giới thiệu, Nxb Văn học, năm 1996;
“Tứ Thư”, Dịch giả Đoàn Trung Còn, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2006;…
Những công trình nghiên cứu này biên dịch phần nguyên bản chữ Hán,
đồng thời các nhà nghiên cứu, dịch thuật cũng cố gắng bằng kiến thức
uyên thâm của mình phân tích, thuyết minh một số nội dung nhằm giúp
độc giả hiểu được phần lớn tinh thần của tác phẩm.
Nhìn chung, mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận theo một hướng
khác nhau, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào được coi là có cái
nhìn toàn diện về phạm trù Lễ trong triết học của Khổng Tử, chưa có
công trình nào nghiên cứu riêng biệt hoặc trình bày một cách có hệ thống
nội dung của Lễ, chưa có công trình nào đánh giá hết những giá trị, hạn
chế của tư tưởng về Lễ của Khổng Tử, cũng như đề ra phương pháp vận
dụng những bài học lịch sử đó vào việc hoạch định chính sách, biện pháp
giáo dục đạo đức học sinh hiện nay.
Để có cái nhìn toàn điện về đạo đức, lối sống của thanh niên Việt
Nam hiện nay, trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng và quan điểm của Đảng,
4
tác giả tham khảo, kế thừa những công trình khảo sát, thống kê, nghiên
cứu về thanh niên, về đạo đức, lối sống của thanh thiếu niên Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay. Những công trình này đã phản ánh thực trạng
về tình hình đạo đức, lối sống của thanh thiêu niên Việt Nam trong bối
cảnh kinh tế thị trường đang phát triển. Có thể khẳng định đây là những
công trình nghiên cứu chuyên sâu của những nhà khoa học, những công
dân đang trăn trở về những biến động trong lối sống, đạo đức, chuẩn
giá trị xã hội. Có thể kể đến:
“Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện nay”, do Nguyễn
Một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ triết học đã được bảo vệ xoay
quanh vấn đề con người, mẫu người, đạo làm người và vấn đề giáo dục
đào tạo con người theo những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức của nho
giáo như: “Tìm hiểu mẫu người quân tử qua hai tác phẩm “Luận Ngữ” và
“Mạnh Tử” của Nguyễn Xuân Lộc, “Quan niệm của Nho giáo nguyên
thủy về con người qua các mối quan hệ thân - nhà - nước- thiên hạ” của
Trần Đình Thảo, “Quan niệm của Khổng Tử về giáo dục” của Nguyễn
Bá Cường, “Quan niệm của Khổng Tử về con người và giáo dục đào tạo
con người” của Nguyễn Thị Tuyết Mai… Mặc dù các luận văn, luận án
đều có phạm vi nghiên cứu cụ thể của từng đề tài xong các tác giả ở
những mức độ nhất định đã đề cập đến tư tưởng về lễ trong quan hệ mật
thiết với các phạm trù đạo đức khác góp phần hình thành nên tính toàn
vẹn của mẫu người lý tưởng mà Nho giáo muốn xây dựng.
Với thái độ trân trọng những thành tựu nghiên cứu của các học giả
đi trước đã cung cấp nhiều kiến thức về phạm trù Lễ cũng như đạo đức,
lối sống xã hội vô cùng bổ ích và có giá trị, tôi đã tham khảo, kế thừa
có chọn lọc và trung thực nguồn tư liệu quý báu đó trong quá trình thực
hiện luận văn của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Từ việc nghiên cứu có hệ thống tư tưởng của khổng Tử về Lễ, luận
văn đánh giá những giá trị, hạn chế và rút ra bài học lịch sử của nó cùng
những kiến nghị đối với sự nghiệp giáo dục đạo đức học sinh Việt Nam
hiện nay.
6
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nêu trên luận văn sẽ giải quyết một số nhiệm vụ
sau:
- Trình bày cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
- Phân tích phạm trù Lễ và các phạm trù trong mối tương quan với
riêng.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng
dạy triết học và đạo đức trong các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp
chuyên nghiệp, Trung học phổ thông… ở nước ta hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận
văn bao gồm 2 chương, 7 tiết:
Chương 1: Quan niệm Lễ của Khổng Tử
Chương 2: Ý nghĩa của Lễ trong việc giáo dục đạo đức cho học
sinh Việt Nam hiện nay.
8
Chương 1
QUAN NIỆM LỄ CỦA KHỔNG TỬ
1.1. Cơ sở hình thành quan niệm Lễ của Khổng Tử
1.1.1. Khổng Tử cuộc đời và sự nghiệp
Khổng Tử là người ấp Châu, làng Xương Bình, nước Lỗ nay là
huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Khổng Tử sinh vào mùa
đông tháng 10 năm Canh Tuất là năm thứ 21 đời vua Linh Vương nhà
Chu, tức là năm 551 trước Công Nguyên. Bà Nhan thị có lên cầu tự trên
núi aNi Khâu, cho nên khi sinh ra ông mới nhân điềm ấy mà đặt tên
ông là Khâu, tên tự là Trọng Ni. Có sách chép rằng trán ông cao và gồ
lên cho nên mới đặt tên là Khâu. Khâu nghĩa là cái gò.
Khổng Tử tôn phù nhà Chu để giảm bớt cái quyền các nước Chư
hầu, giữ quyền vua Chư hầu mà bớt quyền các quan Đại phu. Vì vậy
cho nên ông đi chu du khắp thiên hạ mà không tìm được chỗ nào để thi
hành cái đạo của mình.
Cũng bởi vậy nên ông đã chu du nhiều nước song không được
trọng dụng. Cuối đời, thấy thật sự bất lực việc làm chính trị ông về quê
dạy học, san định Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc của cổ nhân, viết sách
Xuân Thu để bộc lộ quan điểm của mình. Nhiều quan điểm của ông thể
luận lý chỉ sự kỷ luật về tinh thần: Người có lễ là người biết tự chủ khắc
kỷ
Khổng Tử chủ trương tòng Chu, giữ pháp điển lễ nhạc của Chu
Công thì tất nhiên rất trọng Lễ và buộc vua chúa phải trọng Lễ. Lễ để
duy trì trật tự xã hội, có trật tự đó thì vua mới được tôn, nước mới được
trị, nếu vua không trọng lễ thì còn bắt ai trọng nó được nữa.
Chính vì vậy trong việc trị nước cũng như tu thân học đạo, sửa
mình để đạt đức “Nhân” thì “Lễ” là một trong những yếu tố được
Khổng Tử rất mực coi trọng. Điều này được thể hiện rõ trong cuốn
Luận ngữ.
Quan niệm về Lễ không chỉ dừng ở Khổng Tử mà nó đã được phát
triển và mang những hàm nghĩa khác nhau trong quan niệm của một số
triết gia khác như Mạnh Tử, Tuân tử hay trong cả Lễ Ký - một tập sách
do nhiều nho gia thời Hán viết ra.
10
Nói tóm lại dù Lễ có được hiểu ở những khía cạnh nào và ở các nhà
Nho khác nhau, ở những giai đoạn lịch sử khác nhau song vẫn lấy tư
tưởng Lễ của Khổng Tử làm tiền đề lý luận bởi mục đích của Nho gia
nói chung và Khổng Tử nói riêng là nhằm ổn định trật tự xã hội và giáo
hóa con người. Và chúng ta không thể phủ nhận phạm trù Lễ của
Khổng Tử đã ít nhiều thực hiện được mục đích đó trong lịch sử xã hội
Trung Hoa.
1.2.2. Các phạm trù trong mối tương quan với phạm trù Lễ
1.2.2.1. Mối quan hệ giữa Lễ và Nhân
Trong Luận Ngữ khái niệm Nhân được Khổng Tử nhắc tới nhiều
lần tùy từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà Nhân được hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau. Theo nghĩa rộng nhất Nhân là nguyên tắc đạo đức.
Theo Khổng Tử Nhân là nội dung, Lễ là hình thức của Nhân và Chính
danh là con đường để đạt đến điều Nhân.
Để đạt được đức Nhân con người phải có Lễ, Lễ là hình thức biểu
Lễ và Nhạc đều dùng để sửa đổi tâm tính cho ngay chính hay nói
cách khác Lễ và Nhạc đều là phương tiện nhằm giáo hóa con người góp
phần ổn định trật tự xã hội.
1.2.2.5. Mối quan hệ giữa Lễ và Hòa
Việc thực hiện Nhân và khôi phục Lễ là Hòa. Tuy nhiên quan điểm
Hòa của Khổng Tử còn có phần hạn chế đó là thủ tiêu sự đấu tranh bởi
theo ông người nghèo vùng lên đấu tranh là không nên, người quân tử
cũng vậy họ chỉ biết nên tranh việc thi bắn mà thôi.
1.3. Một số nội dung cơ bản của Lễ
1.3.1. Lễ là những quy định về nghi thức tế lễ
Lễ bái là việc mang ý nghĩa tôn giáo nhưng nó không chỉ là những
nghi thức có tính hình thức.
Với Khổng Tử, khi tế lễ phải kính cẩn nghiêm túc ông nói “Cư
thượng bất khoan, vi lễ bất kính, lâm tang bất ai, ngô hà dĩ quan tri
tạng” nghĩa là ở bậc trên mà không khoan nhượng, làm lễ mà không
nghiêm túc sẽ gặp việc tang mà không bi thương hạng người đó còn gì
cho ta xem xét nữa.
12
Ngoài ra Khổng Tử còn quan tâm tới cả nghi thức, nghĩa vụ, bổn
phận của mỗi con người khi tế lễ. Điều đó nghĩa là khi tế lễ phải đúng
danh phận của mình, đúng những nghi thức, quy định mà xã hội đã đặt
ra thì không được vi phạm nếu vi phạm thì sẽ là người thất lễ, tiếm lễ,
tiếm quyền.
Khổng Tử không chỉ quy định địa vị cho mỗi con người khi tế lễ
mà còn quy định cả cách ăn mặc khi tế lễ. Cách ăn mặc trong lúc tang
chế, ở chỗ triều đường hay khi đi trận mạc phải theo Lễ cũng là có ý để
gây nên những tình cảm cho xứng đạo nhân.
Trong những quy định của Lễ trong việc tế lễ tang ma còn có cả
thời gian để tang và cư tang.
Ngoài thời gian cư tang còn quy định cách thức cư tang nhất là đối
chi giáo hóa giã vi, kỳ chỉ tà giả ư vị hình, sử nhân nhật tỷ thiện, viễn
tộ, nhi bất tự tri giã: sự giáo hóa của lễ rất cơ màu, khăn cấm điều bậy
ngay lúc chưa hình ra khiến người ta ngày ngày đến gần điều thiện
tránh xa điều tội mà tự mình không biết”.
Kết luận chương 1
Lễ là một trong những phạm trù đạo đức có ý nghĩa rất phổ biến
trong đời sống văn hóa tinh thần của người Trung Quốc; và cũng là một
trong năm đức cơ bản nhất của con người trong thuyết “ngũ thường”
của Nho gia là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Lễ là phạm trù xã hội tổng hợp, bao gồm những nghi thức trong tế
lễ, những nguyên tắc về tổ chức và hành động chính trị, những chuẩn
mực về tư tưởng và hành vi của con người nhằm bảo đảm trật tự và sự
yên bình của xã hội phong kiến Tông pháp Trung Quốc đương thời.
Lễ còn được coi là đường lối chính trị gọi là “Lễ trị” xã hội có trật
tự được xem là xã hội có lễ, con người có đạo đức được đánh giá là con
người có lễ: Hiểu lễ là điều kiện để hiểu được thực chất các phạm trù và
các khái niệm khác của học thuyết Khổng Tử.
14
Chương 2
Ý NGHĨA CỦA LỄ TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Khái quát quá trình du nhập Lễ của Khổng giáo ở Việt
Nam
Một dân tộc tiếp thu tư tưởng văn hóa của một dân tộc khác là một
việc làm thường thấy trong lịch sử. Việt Nam tiếp thu Khổng giáo trong
lịch sử cũng là một việc làm khách quan.
Lễ được du nhập vào nước ta lúc đầu không phải là kết quả của sự
trao đổi văn hóa giữa hai quốc gia, hai dân tộc. Nó cũng không phải là
quá trình “gặp gỡ” tự phát hay tự giác nào mà là sự xâm nhập của một
nền văn hóa nước lớn đối với một nước nhỏ bị gọi là “Man di”. Sự du
phát triển, giáo dục và đào tạo đang đứng trước nhiều thách thức lớn.
Thứ hai, bên cạnh việc chưa thực sống trong môi trường sư phạm
nhân văn thì một bộ phận học sinh khi về nhà lại phải sống trong môi
trường dạy dỗ bạo lực.
Thứ ba, những tác động tiêu cực từ xã hội đó là tác động của phim
ảnh, sách báo, trò chơi bạo lực, phản giáo dục cũng như do ảnh hưởng
của công nghệ thông tin, đặc biệt là do ảnh hưởng của mạng intenet.
2.3. Một số giải pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Việt Nam
hiện nay
2.3.1. Phạm trù Lễ trong triết học Khổng Tử với việc giáo dục
đạo đức học sinh Việt Nam hiện nay
Phạm trù Lễ trong triết học Khổng Tử là phạm trù nếu gạt bỏ
những yếu tố mâu thuẫn, những hạn chế về mặt lịch sử, những ràng
buộc bởi lợi ích giai cấp thì có thể vận dụng vào nhiều môi trường như
học đường, gia đình, xã hội để góp phần vào việc khắc phục những diễn
biến phức tạp của đạo đức trong xã hội, hàm dưỡng những phẩm chất
tốt đẹp, lương thiện làm cho con người ngày càng hoàn thiện hơn.
Với nội dung Lễ của Khổng Tử chúng ta có thể vận dụng những nội
dung phù hợp với điều kiện của từng địa phương, của từng chủ thể đạo
đức cho phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả chiến lược giáo dục toàn
diện.
16
Dùng Lễ để góp phần bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tự giác làm
điều thiện, đề cao thực hành đạo đức, tu dưỡng đạo đức cá nhân
Việc dùng Lễ để giáo dục học sinh là biện pháp để nuôi dưỡng
những tình cảm tốt đẹp, cổ động những hành vi đạo đức, uốn nắn
những hành vi chưa thật sự phù hợp, phòng ngừa những mầm họa,
những hành vi quá khích, quá lố, cự đoan.
Dùng Lễ để rèn luyện năng lực tiết chế cảm xúc, hành vi trước
những tác động của ngoại cảnh, góp phần điều chỉnh các mối quan
Bên cạnh việc học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà trường còn tạo
điều kiện cho các em học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh. Từ đó, dần dần trang bị cho mình những chuẩn mực đạo
đức cách mạng.
Song song với quá trình trang bị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho
học sinh của mình, nhà trường cần tạo cho học sinh môi trường học
đường an toàn.
Nhằm tạo sự chuyển biến nhận thức của học sinh về vấn đề đạo
đức, lối sống, nhà quản lý giáo dục, và người trực tiếp làm công tác
giáo dục phải hiểu đối tượng được giáo dục là ai, có đặc trưng gì,
thường có biểu hiện gì…
Phải hiểu tâm lý, tính cách của đối tượng học sinh được giáo dục
Nhà giáo dục vĩ đại người Nga Usinxki nói rằng: Muốn giáo dục
con người về mọi mặt thì phải hiểu con người về mọi mặt. Phải hiểu
tâm lý, tính cách thanh thiếu niên, phải tạo điều kiện để thanh thiếu
niên được học hành, tu dưỡng, tự rèn luyện. Do đó, không thể xem nhẹ
việc giáo dục đạo đức, không thể coi giáo dục đạo đức là kết quả đương
nhiên của dạy trí. Muốn vậy, phải coi giáo dục đạo đức là một khoa học
thực sự, có đối tượng, có nội dung, có phương pháp đặc thù.
Để hiểu tâm lý các em, giáo viên cần thường xuyên cập nhật những
tài liệu chuyên về tâm lý của từng lứa tuổi, lối sống của giới trẻ, những
thay đổi của xã hội. Khi xã hội thay đổi, điều kiện kinh tế xã hội thay
đổi thì tâm sinh lý của trẻ em cũng có nhiều biến đổi mà các tài liệu ở
giảng đường đại học chưa thể dự biến được. Để tạo điều kiện cho giáo
18
viên nâng cao sự hiểu biết về tâm lý học sinh, ngành giáo viên cần tổ
chức các lớp bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ cho giáo viên.
Kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục của các tổ chức thanh niên,
nhà trường, các đoàn thể xã hội với quá trình tự tu dưỡng, tự rèn
luyện của thanh niên
bạn bè, thầy cô, cha mẹ, ông bà, anh chị em, những người xung quanh.
Tăng cường hoạt động ngoại khoá, hoạt động ngoài giờ lên lớp
theo nội dung phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực”
Trong giờ học chính khoá, cả giáo viên và học sinh đều hết sức
căng thẳng để hoàn thành đủ chương trình giáo khoa. Do đó, giáo viên
khó có thể tổ chức các hoạt động giáo dục tăng cường kỹ năng sống cho
học sinh. Nhà trường cần phối hợp cùng giáo viên bộ môn, giáo viên
chủ nhiệm, các tổ chức đoàn thể để tăng cường hoạt động ngoại khoá,
hoạt động ngoài giờ lên lớp theo nội dung phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm đảm bảo tính linh hoạt
về hình thức dạy học, hình thức kiểm tra, đánh giá, rèn luyện kỹ năng
sống và kỹ năng hoạt động xã hội cho học sinh.
Kết luận chương 2
Hồ Chí Minh, một nhà giáo dục, một người thực hành đạo đức rất
trân trọng trí tuệ, con người và nhân cách của Khổng Tử. Hồ Chí Minh
đánh giá cao quan điểm đề cao sự “tu thân”, tự rèn luyện, tu dưỡng đạo
đức cá nhân của Khổng Tử. Bác luôn nhắc nhở con cháu phải luôn ý
thức việc thực hành, rèn luyện đạo đức cách mạng, kêu gọi mọi người
cùng tu dưỡng đạo đức.
Nhằm vận dụng những bài học bổ ích từ phạm trù lễ, cần phải có
một số điều kiện nhất định từ phía nhiều phía, nhiều ban ngành. Song, ở
đây chỉ đề cập đến những giải pháp trong phạm vi nhà trường: thứ
nhất, phải hiểu tâm lý, tính cách của đối tượng học sinh được giáo dục;
thứ hai, tăng cường công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho
học sinh, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội trong nhà trường; thứ
ba, kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục của các tổ chức thanh niên, nhà
trường, các đoàn thể xã hội với quá trình tự tu dưỡng, tự rèn luyện của
học sinh; thứ tư, phải coi giáo dục Lễ như một môn khoa học về đạo
làm người; thứ năm, tăng cường giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống
của phạm trù Lễ vẫn có ý nghĩa đem đến sự hoà hợp cho môi trường sư
phạm, góp phần đem lại thái bình thịnh trị cho xã hội. Như vậy, Lễ của
Khổng Tử có sự giao thoa với những quy tắc xử sự trong xã hội và
được xem như một phần của văn hóa nhân loại. Vì thế, những giá trị
tích cực của phạm trù Lễ đáng được trân trọng và kế thừa trong xây
dựng con người đạo đức hoàn thiện.
22