Bẫy mậu dịch tự do và bẫy thu nhập trung bình đối với việt nam hiện nay - Pdf 23





 !"#$%&'($)*+,- !'#'"./#01
20'*3456454789:4709!
5$;<=
<5>?
5@A
BC$DE
F4:GHI#
Việt Nam đã và đang trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa, khu vực hóa
nền kinh tế. Quá trình toàn cầu hóa đã mở ra cho nước ta và các nước phát triển,
đang phát triển những cơ hội thúc đẩy kinh tế và tăng trưởng xã hội…Hội nhập
kinh tế quốc tế vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với nền kinh tế Việt
Nam hiện nay trong công cuộc tìm được chỗ đứng của mình trên thị trường
quốc tế. Việc nhìn nhận được những nguy cơ, thuận lợi, khó khăn, sẽ giúp cho
chúng ta rút ra những bài học bổ ích và tìm được lời giải đúng nhất trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên nhóm em đã chọn đề tài
tiểu luận -J !:"#K%&'8(K)*+,-J !8'#0'".8/#01J20'*H34+645478
9:'47009!. Bài viết của nhóm sẽ đề cập đến nguy cơ, thách thức và những
khó khăn trong nền kinh tế Việt Nam khi đối diện với hai cái bẫy trên, bên cạnh
đó nhóm cũng sẽ nêu lên nhưng cơ hội của Việt Nam trước mậu dịch tự do và
thu nhập trung bình. Bài tiểu luận của nhóm đã có sự tham khảo từ nhiều nguồn
thông tin. Tuy nhiên vì hạn chế về thời gian và không gian nghiên cứu nên đề
tài không thể tránh khỏi những sai sót, mong nhận được sự đóng góp của thầy.
L4K#01
'M&'8'N&H34+640O0P40'8Q54789:R
Nền kinh tế thế giới và toàn cầu hóa kinh tế đã và đang trải qua một thách
thức nghiêm trọng là cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

bùng nổ, trở thành tâm điểm của toàn cầu hóa kinh tế và HNKTQT. Xen lẫn với
các quá trình hội nhập đa phương, sự bùng nổ này đang đưa thế giới đến một
“cấu trúc ma trận” các FTA trên nhiều phương, nhiều tuyến và nhiều cấp độ,
tạo ra nhiều cơ hội và sức ép cho các nền kinh tế.
Dường như thách thức đang lớn hơn khi phân tích riêng trường hợp
Việt Nam với tư cách là thành viên tham gia ký kết các hiệp định tự do mậu
dịch giữa ASEAN và Trung Quốc (ACFTA). Việt Nam có nghĩa vụ phải cắt bỏ
dần hàng rào thuế quan đối với nhóm hàng hóa thông thường theo 8 giai đoạn
kể từ ngày 1/1/2005 đến ngày 1/1/2015. Đến thời điểm tháng 4/2010, lộ trình
cắt giảm đã trải qua 5 giai đoạn, số chủng loại hàng áp thuế còn lại rất ít.
Đặc biệt hiện nay cơ cấu mậu dịch giữa Việt Nam và Trung Quốc có
tính chất bắc nam, nghĩa là quan hệ giữa nước tiên tiến và nước chậm tiến,
trong đó Việt Nam xuất khẩu nguyên liệu thiên nhiên kể cả sản phẩm sơ chế và
nhập khẩu hàng công nghiệp.
Vấn đề nằm ở chỗ, thâm hụt mậu dịch trong quan hệ thương mại giữa
Việt Nam với Trung Quốc ngày càng tăng, cơ cấu hàng Việt Nam xuất khẩu
sang Trung Quốc chủ yếu là nông lâm và khoáng sản. “Điều này tương phản
với trường hợp của các nước ASEAN khác khi các thành viên ban đầu của
ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Philippine xuất khẩu chủ yếu hàng công
nghiệp sang Trung Quốc”, hiệu quả cắt giảm thuế quan đối với kích thích xuất
khẩu của Việt Nam là không cao.
Như vậy khi thực hiện hoàn toàn lộ trình đã cam kết trong ACFTA,
các ngành công nghiệp liên quan đến ô tô, tơ sợi, dệt vải… của Việt Nam sẽ
chịu thách thức rất lớn, thậm chí là nguy cơ phá sản khi lý do các ngành này tồn
tại được là nhờ mức thuế quan cao.
Đáng lo ngại là cơ cấu về lợi thế so sánh của Việt Nam (vốn đang bất
lợi khi Việt Nam chủ yếu xuất thô) sẽ khó thay đổi nếu không có một chiến
lược và kế hoạch hành động cụ thể.
“Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong năng lực xuất khẩu của Việt
Nam là do những hạn chế về sức cạnh tranh của công nghiệp, chất lượng doanh

khác trên thế giới đang trở thành vấn đề đặt ra. Cũng giống như các nước đang
vùng vẫy trong bẫy TNTB, thành tựu kinh tế mà Việt Nam đạt được trong
những năm gần đây là đáng khích lệ, nhưng chủ yếu dựa vào FDI, ODA, tài
nguyên thiên nhiên, các dự án lớn, sự phát triển của thị trường chứng khoán, thị
trường bất động sản cũng như lợi ích ban đầu từ tư nhân hóa, tự do hóa và xu
thế hội nhập quốc tế.
Nền sản xuất vẫn dựa nhiều vào lợi thế về giá nhân công rẻ nhưng thiếu
trình độ; phần lớn là lắp ráp, gia công đơn giản do thiếu công nghệ hoặc phụ
thuộc công nghệ nước ngoài, nên không tạo được giá trị gia tăng đáng kể. Tại
thời điểm này, Việt Nam mới chỉ đạt mức TNTB thấp (1.200 USD trong năm
2010) nên nguy cơ rơi vào bẫy TNTB chưa thực sự hiển hiện. Tuy nhiên theo
đánh giá của giới nghiên cứu, với nền tảng và các đặc điểm phát triển cơ bản
giống như các nước đi trước nhưng đang luẩn quẩn trong bẫy TNTB, Việt Nam
khó tránh khỏi cái bẫy này sau 10-15 năm nữa nếu từ bây giờ không nỗ lực tạo
ra những đột phá trong phát triển các nguồn lực cần thiết cho tăng trưởng có
chất lượng và phát triển bền vững.
Một thực tế chúng ta có thể thấy là hàng công nghiệp của Trung Quốc
đang tràn ngập thị trường Việt Nam, nhập siêu từ Trung Quốc cao ở mức dị
thường, vừa gây bất ổn kinh tế vĩ mô vừa cản trở khả năng chuyển dịch cơ cấu
công nghiệp của Việt Nam. Đặc biệt hiện nay cơ cấu mậu dịch giữa Việt Nam
và Trung Quốc có tính chất Bắc - Nam, nghĩa là một quan hệ mậu dịch giữa
nước tiên tiến và nước chậm tiến, trong đó Việt Nam xuất khẩu nguyên liệu
thiên nhiên kể cả sản phẩm sơ chế và nhập khẩu hàng công nghiệp.
Nhìn Việt Nam trong bối cảnh của vùng Đông Á, ta thấy thành quả phát
triển của mình còn rất khiêm tốn. Từ khi có đổi mới đến nay, khoảng cách phát
triển giữa Việt Nam so với Thái Lan chẳng hạn có rút ngắn nhưng không đáng
kể (GDP đầu người theo giá trị thực của Thái Lan gấp gần 5 lần Việt Nam vào
năm 1984 đến năm 2008 cũng còn tới 4 lần) và so với Trung Quốc thì khoảng
cách ngày càng mở rộng (GDP đầu người của Trung Quốc chỉ hơn Việt Nam
30% vào năm 1984 nhưng vào năm 2008 Trung Quốc cao gấp 3 lần Việt Nam).

Khó khăn trong việc thiết kế cấu trúc và cơ chế khuyến khích, phát huy
tính sáng tạo trong các nhà máy; trong lao động quốc gia và thị trường công
nghệ để khuyến khích, khen thưởng thành tích học tập xuất sắc. Khó khăn trong
nhu cầu và cung ứng lao động công nghiệp, việc kết hợp giáo trình trong trường
học với nhu cầu cụ thể của các công ty sử dụng sinh viên tốt nghiệp.
Vấn đề cũng đang xuất hiện là tình trạng thiếu hụt lao động. Việc tuyển
dụng lao động đã trở nên hết sức khó khăn không chỉ với lao động kỹ thuật mà
cả với lao động giản đơn. Sức ép tăng lương ngày càng gia tăng khiến Việt Nam
gặp khó khăn trong cạnh tranh về các hàng hóa xuất khẩu ở phân khúc chi phí
thấp…Điều này cũng tiềm ẩn khả năng các nhà đầu tư sẽ tìm đến các nước có
nguồn lao động rẻ hơn, trong khi chúng ta vẫn chưa thể có được nguồn nhân lực
có trình độ kỹ thuật cao để tiếp cận phân khúc cao hơn trong chuỗi giá trị.
Để tránh rơi vào, cũng như bước qua “bẫy thu nhập trung bình” cùng
với những yếu tố lợi thế, Việt Nam cần cải thiện nâng cao vốn con người, thu
hút nguồn lực – chất xám từ bên ngoài tránh chảy máu nguồn nhân lực, cải
thiện mỗi trường kinh doanh, kích thích đầu tư, thu hút vốn – công nghệ, chính
sách ổn định, tầm nhìn dài hạn, kế hoạch hoạt động. Cụ thể hơn, đào tạo NNL
chất lượng cho quá trình CNH-HĐH, định hướng tập trung phát triển ngành
công nghiệp mũi nhọn, phát triển ngành công ngiệp phụ trợ, công nghiệp chế
biến, thu hút FDI-ODA có tính chọn lọc chiến lược, tạo môi trường đầu tư hấp
dẫn, khuyến khích phát triển khu vực tư nhân, khuyến khích nghiên cứu – phát
triển và áp dụng công nghệ mới.
X
Việt Nam để tránh rơi vào, cũng như bước qua được hai cái bẫy đó là
“bẫy thu nhập trung bình” và “bẫy mậu dịch tự do” cùng với những yếu tố lợi
thế, Việt Nam cần cải thiện nâng cao vốn con người, thu hút nguồn lực – chất
xám từ bên ngoài tránh chảy máu nguồn nhân lực, cải thiện mỗi trường kinh
doanh, kích thích đầu tư, thu hút vốn – công nghệ, chính sách ổn định, tầm
nhìn dài hạn, kế hoạch hoạt động. Cụ thể hơn, đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cho quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, định hướng tập trung phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status