ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN 9
Đề ra: Trong truyện “Người con gái Nam Xương” nhân vật Trương Linh vội tin câu
nói ngây thơ của con trẻ đã nghi oan cho Vũ Nương ruồng rẫy và đánh đuỗi nàng đi. Vũ
Nương bò oan ức nên nhảy xuống sông tự vẫn.
Em hãy đọc kó lại tác phẩm và tìm xem có những chi tiết nào trong truyện tác giả
muốn hé mở khả năng có thể tránh được thảm kòch đau thương cho Vũ Nương. Những
nguyên nhân nào làm cho thảm kòch đó vẫn diễn ra dẫn đến cái chết đau thương cũa người
phụ nữ đức hạnh?
Em hãy bình luận về nguyên nhân cái chết đó.
HƯỚNG DẪN
1. Đọc kó tác phẩm, nắm vững chi tiết, độc lập suy nghó để tìm ra những chi tiết mà đề
yêu cầu. Tài thắt nút và mở nút là ở chỗ ấy. Mỗi em tìm tòi theo cách của mình miễn là
hợp lí.
2. Bình luân về nguyên nhân cái chết của Vũ Nương. Có nguyên nhân trực tiếp do tính nết
cá nhân của Trương Linh và nguyên nhân sâu xa của chế độ xã hội từ đó tìm ra ý nghóa tố
cáo và nhân đạo của tác phẩm.
BÀI VIẾT THAM KHẢO
“Truyền kì mạn lục” là một tác phẩm có giá trò của văn học cổ nước ta thế kỉ XVI,
một tập truyện văn thơ đầu tiên bằng chữ Hán ở Việt Nam. Truyện “Người con gái Nam
Xương” là một truyện hay trong tác phẩm.
Truyện kể rằng, Vũ Thò Thiết là một phụ nữ đức hạnh ở Nam Xương, chồng là
Trương Linh, người nhà giàu nhưng không có học, tính lai đa nghi. Triều đình bắt lính,
Trương Linh phải tòng quân trong khi vợ đang mang thai. Chồng đi xa mới được mười
ngày thì nàng sinh con trai đặt tên là Đản. Năm sau, giặc tan, việc quân kết thúc, Trương
Linh trở về thì con đã biết nói, nhưng đứa trẻ nhất đònh không nhận Trương Linh làm bố.
Nó nói: “Ơ hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư ? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi
trước kia chỉ thin thít. Trước đây thường có một ông đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi,
mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả.”
Tính Trương Linh hay ghen, nghe con nói vậy đinh ninh rằng vợ hư, đã vu oan cho
Vũ Nương, ruồng rẫy và đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương bò oan ức đã nhảy xuống sông tự
vẫn.
Trương Linh, những người đàn ông đặc đầu óc “nam quyền”, chà đạp lên quyền sống của
người phụ nữ. Tính ghen tuông của cá nhân cộng với tư tưởng “nam quyền” trong xã hội đã
làm nên một Trương Linh độc đoán đến kỳ cục, khư khư theo ý riêng, nhất thiết không
nghe ý kiến của người khác. Đứa trẻ nói thì tin ngay, còn vợ than khóc giãi bày thống thiết
thì nhất đònh không tin, họ hàng, làng xóm phân giải công minh cũng chẳng ăn thua gì.
Hậu quả là cái chết thảm thương của Vũ nương mà nguyên nhân sâu xa là chế độ phong
kiến bất công cùng chế độ “nam quyền” bất bình đẳng của nó đã gây ra bao nhiêu tao hoạ
cho người phụ nữ nói riêng và con người thời đó nói chung.
Đề ra: Phân tích bài thơ “Đồng chí” của chính Hữu ( Ngữ văn 9 - Tập 1).
HƯỚNG DẪN CÁCH VIẾT:
Bài thơ “Đồng chí” ra đời vào đầu năm 1948, sau chiến dòch Việt Bắc của quân và
dân ta đánh thắng cuộc tiến công quy mô lớn của thực dân Pháp cuối năm 1947 lên khu
căn cứ đòa Việt Bắc. Nhà thơ Chính Hữu lúc đó là chính trò viên đại đội thuộc trung đoàn
Thủ đô, cùng đơn vò của mình tham gia chiến đấu suốt chiến dòch. Đầu năm 1948 Chính
Hữu viết bài thơ này. Bài thơ là kết quả của những trãi nghiệm thực va những cảm xúc sâu
xa của tác giả với đồng đội trong chiến dòch Việt Bắc. Bài thơ nói về tình đồng đội, đồng
chí thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng mà phần lớn họ xuất thân từ
nông dân. Đồng thời bài thơ cũng thể hện lên hình ảnh chân thực, giản dò mà cao đẹp của
anh bộ đội trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn rất khó khăn
thiếu thốn.
Bài thơ” Đồng Chí” viết theo thể thơ tự do, với hai mươi dòng thơ, chia làm ba đoạn.
Cả bài thơ đều tập trung vào thể hiện chủ đề về tình”Đồng Chí”.
Cái bắt gặp đầu tiên của những người lính là từ những ngày đầu gặp mặt. Họ đều có
sự tương đồng về cảnh ngộ nghèo khó ”quê hương anh nước mặn đồng chua, lành tôi
nghèo đất cày lên sỏi đá”. Những người lính là những người của làng quê nghèo lam lũ,
vất vả với cày cấy, ruộng đồng với những làng quê khác nhau. Họ từ các phương trời
không hề quen nhau ”từ muôn phương về tụ hội trong hàng ngũ của những người lính cách
mạng”. Đó chính là cơ sở của tình đồng chí sự đồng cảm giai cấp của những người lính
cùng chung nhiệm vụ chiến đấu để giải phóng quê hương, đất nước. Diễn đạt ý nghóa đó,
tác giả đã diễn tả bằng hình ảnh:
đều nhớ đến hậu phương- những người thân yêu nhất của mình:
“ Ôi! Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồi hồi nhớ mắt người yêu”
(Nguyễn Đình Thi)
“Đồng chí”-đó là cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính với
những hình ảnh chân thực, xúc động, gợi tả và gợi hình (từng cơn ốm lạnh sốt run người,
vầng trán ướt mồ hôi,áo rách vai, quần vài mãnh vá, miệng cười buốt giá, chân không giày)
những ngày tháng ở rừng.
Để diển tả được sự gắn bó, chia sẻ, sự giống nhau vế cảnh ngộ người lính tác giả đã
xây dựng những câu thơ sóng đôi, đối ứng với nhau trong từng cặp, từng câu:
“ Anh với tôi biết từng cơn ốm lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi”
................................................
Miệng cười buốt giá
Chân không giày”
Sức mạnh nào đã giúp họ vượt qua tất cả?
Hình ảnh” thương nhau tay nắm lấy bàn tay” biểu hiện thật giản đò và xúc động của
tình cảm đồnh chí, đồng đội thiêng liêng của những người lính. Tình cảm đó là nguồn sức
mạnh và niềm vui để họ vượt qua. Cái “bắt tay”(như bàn tay biết nói) chính là tình cảm
của người lính truyền cho nhau sức mạnh và niềm tin để họ vượt qua tất cả những gian lao,
thiếu thốn, thử thách trong chiến đấu.
Tình đồng chí, đồng đội còn biểu hiện ở sự thử thách. Đoạn thơ cuối thật cô đọng
bằng hình ảnh khi nhà thơ viết:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”.
Đây là một bức tranh đẹp của tình đồng chí, đồng đội- một bức tranh đặc sắc và có ý
nghóa.
Bức tranh trên là mội cảnh thực trong mội đêm phục kích “chờ giặc tới” tại một
cảnh ”rừng hoang sương muối” hoang vắng lạnh lẻo nổi bập lên ba hình ảnh gắn kết với
Thế mà, những người lính trên những chiếc “xe không kính” vẫn “ung dung buồng
lái ta ngồi nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng!”
Thái dộ ung dung và “cái nhìn” của anh lái xe như bất chấp, coi thường tất cả nguy
hiểm ở phía trước mác dù “bụi phun tóc trắng như người già”, cho dù “mưa tuôn mưa xối
như ngoài trời”...các anh vẫn “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” hoặc tếu táo “phì phèo châm
điếu thuốc” hay “bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.”
Hình ảnh trong các câu thơ trên đã làm nổi rõ cái hiên ngang, dũng cảm, bất chấp
mọi nguy hiểm của các chiến só lái xe, để lái những chiếc xe không kính ra mặt trận với
một niềm tin niềm vui của tuổi trẻ.
Khung kính đã bò vỡ, không có gì để chắn gió trời ùa vào, đập thẳng vào mắt. Thế
mà, tác giả lại viết: “ nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng”.
“ Xoa” là cử chỉ nhẹ nhàng vuốt ve âu yếm. Qua cách diễn đạt của câu thơ thì ở đây,
gió không làm đau, làm rát mắt của người lái xe mà ngược lại gió còn vỗ về nhè nhẹ vào
đôi mắt “đắng”. Và, con đường trước mặt- con đường ra trận trở nên gần sát hơn đang
chạy ngược lại “Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim”. Vì không có kính chắn, nên
người lái xe có cảm giác và ấn tượng “Con đường chạy thẳng vào tim”. Con đường thực
trước mặt đó củng chính là con đường được nhà thơ nâng lên thành con đường lý tưởng con
đường cách mạng..., con đường ở trong trái tim của người chiến só. Chính là con đường đó
đã giúp cho cac chiến só lái xe thêm sức mạnh, niềm tin, bất chấp bom đạn của kẻ thù, tiến
lên phía trước: “ Thấy sao trời và đột ngột cánh chim- như sa như ùa vào buồng lái”. Người
lái xe vẫn vui với “ sao trời” và “Cánh chim”, “ sao trời và cánh chim” ngày đêm như bầu
bạn với người lính lái xe. Ngày cũng nhưu đêm, thiên nhiên, đất trời luôn sát cánh với
người chiến só lái xe trên suốt chặng đường dài ra trận. Với nghệ thuật nhân hoá tài tình,
nhà thơ đã biến những khó khăn trở ngại khio lái những chiếc xe không kính trở thành gần
gủi gắn bó thân thương hơn. Giọng điệu thơ có khi thật ngang, tự nhiên, bất chấp gian khổ
được thể hiện rõ trong cấu trúc đựoc lặp lại “ Ừ thì...”, “Chưa cần rửa”, “Chưa cần
thay” ..., “Lái trăm cây số nữa...”. Dường như gian khổ nguy hiểm, ác liệt của chiến tranh
không làm ảnh hưởng đến tinh thần của họ, trái lại, những người lính lái xe xem như là
một nhòp để rèn thử thách sức mạnh và ý chí của mình “ chí làm trai” -tuổi trẻ người lính”.
Những người lái xe còn là những chàng trai trẻ, sôi nổi, vui nhộn, lạc quan. Họ
Bài thơ đã xây dựng một hình tượng độc đáo đó là những chiếc xe, nói cho đúng là
cả một tiểu đội xe không có kính chắn gió, chắn bụi băng băng ra trận. Mà độc đáo thật,
vì chỉ gặp ở Việt Nam, ở những chiến só lái xe quân sự thời chống Mỹ. Có thể nói “chất”
độc đáo này được lên men từ chiến trường ác liệt:
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”
Nguyên nhân xe không kính là vậy. Đấy là mội hiện thực trần trụi mà tác giả không
thể hư cấu.
Bên cạnh hiện thực trần trụi đấy là hình ảnh người lính lái xe hiện lên rất đẹp. Cứ
tưởng với hiện thực dữ dội, ác liệt, trớ trêu ấy, người lính lái xe phải bó tay, thế nhưng vẫn
nổi lên với tư thế:
“Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
Nghóa là xe cứ đi. Không những ung dung mà người lính lái xe còn tỏ ra rất chủ
động, hiên ngang vượt lên tất cả.
Nói đến người lái xe là nói đến con mắt, nói đến cái nhìn. Tô đậm cái nhìn của
người lái xe, chỉ trong một dòng thơ, tác giả đã sử dụng 3 lần từ “nhìn” (điệp từ). Nhìn trời
là để phát hiện máy bay hay pháo sáng về ban đêm. Nhìn thẳng là cái nhìn nghề nghiệp,
hiên ngang. Và cũng từ ca - bin không kính, qua cái nhìn đã tạo nên những ấn tượng, cảm
giác rất sinh động, cụ thể đối với người lái xe:
“Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái”
Những cảm giác này, dù mang ý nghóa tả thực hay tượng trưng, đều thể hiện cái thế
ung dung tinh thần vượt lên của người lái xe.
Hai khổ thơ tiếp, hình ảnh người lái xe được tô đậm. Cái tài của Phạm Tiến Duật trong
khổ thơ này là cứ hai câu đầu nói về hiện thực nghiệt ngã phải chấp nhận thì hai câu sau
nói lên tinh thần vượt lên hoàn cảnh để chiến thắng hoàn cảnh của người lái xe trong thời
gian chiến tranh ác liệt.
“ Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Bài thơ là bức tượng đài nghệ thuật về người lính lái xe trong cuọoc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta.
Đề ra: Phân tích cảnh ra khơi của” Đoàn thuyền đánh cá” được miêu tả trong bốn
câu đầu trong bài thơ “ Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:
”Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồm cùng gió khơi”
Bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” là bài thơ được Huy Cận sáng tác vào năm 1958,
nhân một chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Hồng Gia - Cẩn Phả - Quảng Ninh. Bài thơ đã dụng
được một không khí khẩn trương, hăng say của những người lao động đánh cá trong một
đêm trên biển, với tư thế làm chủ thiên nhiên, biển cả. Bốn câu thơ đầu diển tả cảnh ra
khơi của “Đoàn thuyền đánh cá”, mở đầu cho một đêm đánh cá trên biển.