Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY MẤU RĂNG C2 MẤT VỮNG
BẰNG PHẪU THUẬT VIT KHỐI BÊN C1 VÀ CHÂN CUNG C2
Phan Minh Đức*, Lê Trần Minh Sử*, Nguyễn Minh Tân*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị gãy mấu răng C2 mất vững. Mỗi kỹ thuật đều có ưu và
khuyết điểm riêng.Phẫu thuật bắt vit khối bên C1 và chân cung C2 có nhiều ưu điểm và là giải pháp thay thế
thích hợp cho nhiều trường hợp.Chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm rút ra một số kinh nghiệm điều trị bằng
kỹ thuật này.
Phương pháp: Hồi cứu tất cả bệnh nhân gãy mấu răng C2 đã được phẫu thuật bắt vít khối bên C1 và chân
cung C2 tại BV Chợ rẫy, từ đầu năm 2010 đến tháng 06/2014.
Kết quả: 96 bệnh nhân được phẫu thuật vít khối bên C1, chân cung C2 và hàn xương phía sau. Phần lớn là
nam (87,5%). Tuổi trung bình 36,01. Nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông (58,33%) và té cao (30,2%).
Lâm sàng đau cổ cao chiếm 90,62%, yếu liệt tứ chi 34 trường hợp (35,41%), 47,91% rối lọan cảm giác và
11,45% rối loạn cơ vòng. Phân loại gãy theo D’Alonzo: type II 65 trường hợp (67,7%), type IIA 15,63%, type III
16,67%. 88 bệnh nhân bắt vit C1và C2, 8 trường hợp bắt vit C1C2 và đốt sống cổ dưới. Hầu hết giảm đau cổ sau
mổ (93.75%). Phục hồi vận động 85,41%. Không có trường hợp tử vong cũng như biến chứng trong và sau mổ.
Kết luận: Kỹ thuật bắt vit khối bên C1 và chân cung C2 trong điều tri gãy mấu răng C2 mất vững là một
chọn lựa thich hợp. Phẫu thuật cho kết quả tương đối cao và ít biến chứng.
Từ khóa: gãy mấu răng C2, mất vững, khối bên C1, chân cung C2
ABSTRACT
RESULT OF SURGICAL TREATMENT OF INSTABILITY ODONTOID FRACTURE WITH ATLANTAL
LATERAL MASS AND AXIS PEDICLE SCREW FIXATION
Phan Minh Duc, Le Tran Minh Su, Nguyen Minh Tan
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy mấu răng C2 chiếm khoảng 10‐20% gãy
cột sống cổ. Chỉ những gãy mấu răng C2 type II
(Anderson và D’Alonso), hoặc kèm trật C1C2
mất vững mới có chỉ định phẫu thuật hàn
xương(1,5,22) Có nhiều kỹ thuật áp dụng để làm
vững C1C2 như cột chỉ thép mỏm gai C2 và
cung sau C1 kèm ghép xương mào chậu (kỹ
thuật của Brooks và Gallie), dụng cụ móc giữa
bản sau, hay kỹ thuật bắt vit xuyên khớp C1C2
của Magerl, kỹ thuật xuyên vít mấu răng phía
trước(5,8,10,18,29,30).... Mặc dù kỹ thuật cột chỉ thép
phía sau dễ thưc hiện, nhưng không làm vững
chắc C1C2 ngay, tỉ lệ hàn xương thấp, và cấu
trúc sau của C1 và C2 nguyên vẹn. Kỹ thuật
xuyên vít qua khớp C1C2 của Magerl cải thiện
được những khuyết điểm của phương pháp cột
nhưng là một kỹ thuật khó, dễ gây tổn thương
động mạch đốt sống và không thể thực hiện
trong những trường hợp trật C1C2 nặng hoặc
bệnh nhân có gù cột sống cổ ngực. Phẫu thuật
xuyên vít mấu răng bảo tồn vân động C1 và C2
nhưng khó thực hiện và chỉ áp dụng trong một
số ít bệnh nhân(9,11,14) Kỹ thuật bắt vit đa trục khối
bên C1 và C2 của Harms là một chọn lựa thích
hợp vì hiếm gây tổn thương động mạch đốt
sống và dễ nắn chỉnh, cố định C1C2 hơn(14)Trong
nghiên cứu này chúng tôi đánh giá kết quả điều
trị và rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình
cơ được khâu vào gai C2. Đóng da theo lớp
giải phẫu.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hồi cứu 96 bệnh nhân gãy mấu
răng C2 mất vững được phẫu thuật bắt vit đa
Hình 1: Hình vẽ phẫu thuật và hình chụp trong lúc mổ. Nguồn: Mummaneri 2010
Phẫu Thuật Cột Sống
53
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Bảng 1: Biểu hiện lâm sàng
KẾT QUẢ
Tuổi trung bình của bệnh nhân là 36,01, nhỏ
nhất là 12 tuổi, lớn nhất 78 tuổi. (hình 2).
Lâm sàng
Đau cổ cao
Yếu liệt tứ chi
Rối loạn cảm giác
Rối lọan cơ vòng
chiếm 15,63%, type III 16,67% (Bảng 2). Gãy mấu
răng C2 kèm trật C1‐C2 chiếm 52,08%, sáu
trường hợp có vỡ thân C2. Có 3 trường hợp ghi
nhận có gãy kèm chân cung C2 và 4 trường hợp
kèm gãy bảng sau C1 phối hợp.
Bảng 2: Phân loại gãy theo D’Alonzo
12,5%
Số BN
%
87,5%
Hình 3: biểu đồ giới tính của gãy mấu răng C2
Nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông
và té cao (88,53%).
Lâm sàng hầu hết bệnh nhân có đau cổ cao
sau chấn thương chiếm 90,62% các trường hợp.
35,41% có yếu liệt tứ chi, 47,91% có bất thường
về cảm giác, 11,45% có rối loạn cơ vòng. Trong
đó có 1 trường hợp liệt tứ chi và suy hô hấp sau
chấn thương. (Bảng 1)
54
Type I Type II Type IIA
65
0
15
67,2%
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
Nghiên cứu Y học
Hình 3: Hình minh họa phẫu thuật gãy mấu răng C2 A. trước và trong mổ B. sau mổ
C. sau một năm
Nguồn: tác giả
BÀN LUẬN
Có nhiều phương pháp điều trị phẫu thuật
gãy mấu răng C2. Tuy nhiên, có thể chia ra hai
loại chính đó là phẫu thuật lối trước hay lối sau.
Mỗi phẫu thuật đều có ưu và khuyết điểm nhất
định(4,13,22)
Phẫu thuật xuyên vít mấu răng lối trước đầu
tiên được báo cáo bởi Bohler. Kỹ thuật này cố
định trực tiếp đường gãy, làm vững cột sống cổ
ngay, bảo tồn vận động xoay C1C2, cho phép
bảo tồn chức năng và giải phẫu tốt nhất cho mấu
răng. Tỉ lệ hàn xương khoảng 90%. Apfelbaun và
đồng nghiệp nhận thấy rằng, trong những bệnh
nhân gãy cũ, trên 6 tháng, mô sẹo phát triển,
xuyên vít tương đối khó, hàn xương kém. Nói
chung, chỉ định xuyên vít mấu răng phía trước
còn hạn hẹp, khó thực hiện khi gãy mấu răng và
trật khớp C1C2 nhiều(22,30).
không bệnh nhân nào tuột vít, chỉ một bệnh
nhân gãy vít 18 tháng sau nhưng đã hàn xương.
Tỉ lệ hàn xương là 100% và không có biến chứng
thần kinh, mạch máu(11,12).
Năm 2001, Harms và Melcher báo cáo
dùng nẹp và vít đa trục bắt vào khối bên C1 và
chân cung C2 cho 37 bệnh nhân. Kết quả tỉ lệ
55
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 6 * 2014
hàn xương 100% và không có biến chứng thần
kinh, mạch máu. Với vít đa trục, việc bắt vít và
đặt nẹp tương đối dễ dàng hơn, việc nắn chỉnh
thuận lợi hơn trong những trường hợp trật
C1C2 nặng(14).
Tác giả Fiore và đồng nghiệp báo cáo 8 bệnh
nhân được mổ bằng nẹp vít khối bên C1 vào
năm 2002, tất cả đều thuận lợi về mặt kỹ thuật,
không có biến chứng trong mổ. Tỉ lệ vững chắc
sau mổ trong tất cả bệnh nhân(9). Năm 2008 tác
giả Thổ Nhĩ Kỳ, Calisaneller báo cáo 4 bệnh
nhân được phẫu thuật nẹp vít khối bên C1 và
chân cung C2 cho kết quả tốt và không biến
chứng(6). Năm 2010, hồi cứu 42 trường hợp bắt
56
thuật, chúng tôi đều mài vỏ xương hai bên C1
và C2 sau đó ghép xương. Trong nghiên cứu
tiền cứu 52 bệnh nhân bắt vít khối bên C1 và
chân cung C2 của chúng tôi vào năm 2012, tỉ lệ
hàn xương 96,2% và C1C2 vững chắc trên X
quang cúi ngửa là 100% sau một năm. Ở
nghiên cứu này, một số bệnh nhân còn trong
giai đoạn theo dõi, chúng tôi chưa thể đánh giá
mức độ hàn xương chính xác.
Về điểm bắt vít khối bên C1: Goel và Harms
bắt trực tiếp vào khối bên sau khi vén rễ C2
xuống dưới. Điểm này nằm phía dưới cung sau
C1(11,12,14). Tan và đồng nghiệp đã áp dụng vít vào
khối bên trực tiếp trên cung sau C1 cho kết quả
tốt(27). Trong nghiên cứu chúng tôi, 192 khối bên
được bắt trực tiếp trên cung sau C1 như tác giả
Tan. Chúng tôi nhận thấy thuận lợi trong điểm
bắt vít này là: (1) Không cần vén rễ C2 xuống
dưới nhiều, (2) Phần vít trong xương dài gồm
khối bên và một phần cung sau C1 giúp vít chắc,
(3) Trong trường hợp trật C1C2 nặng, cung sau
C1và C2 sát vào nhau, điểm bắt vào cung sau
thuận lợi hơn, (4) Khoan và hàn xương dễ hơn,
(5) Trong trường hợp trật C1 ra trước, bắt vít
trên cung sau C1 làm 2 đầu vít cách xa, thuận lợi
cho nắn trật bằng cách ép C1C2 vào nhau. Tuy
nhiên, điểm bắt vít ngay trên cung sau gần rãnh
động mạch cột sống dể gây tổn thương. Chúng
của đốt sống dưới C2, chỉ một số ít trường hợp
lấy xương từ mào chậu sau. Gần đây, do có
nhiều sản phẩm xương đồng loại, chúng tôi có
dùng phối hợp giữa xương gai sống cổ sau và
xương đồng loại. Việc lấy xương gai sống cổ sau
dễ thực hiện, có thể lấy nhiều gai xương sống cổ
dưới C2 và tránh được những biến chứng do lấy
xương mào chậu.
Tổn thương động mạch cột sống: hiếm gặp
trong phẫu thuật này. Goel không gặp trường
hợp nào tổn thương động mạch cột sống trong
160 bệnh nhân phẫu thuật(11). Harms và
Melcher cũng không tổn thương động mạch
cột sống trong 37 bệnh nhân(14). Aryan cũng
không gặp trường hợp nào trong 102 bệnh
nhân(3). Chúng tôi cũng không có trường hợp
nào có tổn thương động mạch cột sống. Đây là
ưu điểm của phẫu thuật so với phẫu thuật
xuyên khớp C1‐C2 của Magerl(28).
Tổn thương thần kinh: trong nghiên cứu,
chúng tôi không gặp trường hợp nào tổn thương
thần kinh nặng hơn. Điều này tương tự như các
tác giả Goel, Harms và Aryan.Trong nghiên cứu
của Goel và Aryan, tất cả rễ C2 đều cắt bỏ trong
quá trình phẫu thuật nhằm tạo khoảng trống đặt
vít khối bên C1 và hàn xương. Tuy nhiên, nguy
cơ tổn thương rễ C2 chưa được báo cáo rõ
ràng(3,11,14). Tất cả trường hợp chúng tôi bảo tồn rễ
C2, một BN có tăng cảm giác đau sau gáy, triệu
chứng này bớt hẳn khi xuất viện.
Phẫu thuật bắt vis khối bên C1 và chân cung
C2 là một chọn lựa thích hợp cho điều trị gãy
mấu răng C2 mất vững. Kỹ thuật này mang lại
nhiều ưu điểm cải thiện các khó khăn của các kỹ
thuật khác.Kỹ thuật cũng để lại ít biến chứng
cho bệnh nhân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Anderson LD, D’Alonzo RT (1974), “Fractures of the
Odontoid Process of the Axis”, The Journal Of Bone And Joint
Surgery, Vol. 56‐A, No.8, pp. 1663‐1673.
2.
Arnold PM, Haynes NG, Kelley BC (2011), “Evaluation and
Treatment of Odontoid and Hangman’s Fractures”, Youmans
neurosurgical surgery, Saunders Elsevier, 6thEdition, Volume
III, pp 3192‐3200.
3.
Aryan HE, Newman CB, Nottmeier EW, Acosta FL Jr, Wang
VY, Ames CP (2008), “Stabilization of the atlantoaxial
complex via C‐1 lateral mass and C‐2 pedicle screw fixation in
a multicenter clinical experience in 102 patients: modification
of the Harms and Goel techniques”, J Neurosurg Spine 8: pp
222‐229.
Pryputniewicz DM, Hadley MN (2010), “Axis Fractures”,
Neurosurgery 66: A68‐A82.
7.
Dickman CA, Sonntag VK, Papadopoulos SM, Hadley MN
(1991), “The interspinous method of posterior atlantoaxial
arthrodesis”, J Neurosurg 77, pp. 190‐180.
21.
8.
FesslerRG, Sekhar L (2006), “Posterior Atlantoaxial Fusion:
Surgical Anatomy and Technique Options”, Atlas of
Neurosurgical Techniques, pp.128‐139.
Richter M, Schmidt R, Claes L, Puhl W, Wilke HJ (2002),
“Posterior atlantoaxial fixation: biomechanical in vitro
comparison of six different techniques”, Spine 27: pp. 1724‐
1732.
22.
Ryken TC, Hadley MN, Aarabi B, Dhall SS, Gelb DE, Hurlbert
RJ, Rozzelle CJ, Theodore N, Walters BC (2013).
“Management of Isolated Fractures of the Axis in Adults”.
Neurosurgery 72: pp. 132–150.
25.
12.
Goel A, Laheri V (1994), “Plate and Screw Fixation for
Atlanto‐Axial Subluxation”, Acta Neurochir (Wein) 129, pp.
47‐53.
Six E, Kelly DL (1981), “Technique for C1, C2, and C3 Fixation
in Cases of Odontoid Fracture”, Neurosurgery, Vol. 8, No 3,
pp. 374 – 377.
26.
Southwick WO (1980), “Current Concepts Review:
Management of Fractures of the Dens (Odontoid Process)”,
The Journal of Bone and Joint Surgery, pp. 482‐486.
13.
GreenbergMS (2010), “Surgicalfusion of the cervical spine”,
Handbook of Neurosurgery, Thieme, 7thed, pp. 179‐190.
14.
Harms J and Melcher RP (2001), “Posterior C1‐C2 Fusion
With Polyaxial Screw and Rod Fixation”, Spine, Vol. 26, pp.
2467‐2471.
27.
30.
Yoon SM, Baek JW, Kim DH (2012), “Posterior Atalntoaxial
Fusion with C1 Lateral Mass Screw and C2 Pedicle Screw
Supplementedwith Miniplate Fixation for Interlaminar
Fusion: A Preliminary Report”, J Korean Neurosurg Soc 52:
pp.120‐125.
17.
Kirankumar MV, Behari S, Salunke P, Banerji D, Chhabra DK,
Jain VK (2005), “Surgical management of remote, isolated
type II odontoid fractures with atlantoaxial dislocation
causing cervical compressive myelopathy”, Neurosurgery 56:
pp. 1004‐1012.
18.
Menendez JA, Wright NM (2007), “Techniques Of Posterior
C1–C2 Stabilization”, Neurosurgery 60 (Suppl 1): S‐103–S‐111.
19.
Mummaneni PV, Lu DC, Dhall SS, Mummaneni VP, Chou D
(2010), “C1 Lateral Mass Fixation: A Comparison of
Constructs”. Neurosurgery 66, A153‐A160.
Ngày nhận bài báo: