Một số giải pháp bảo đảm an ninh sức khỏe cho công nhân tại các cơ sở sửa chữa trang, thiết bị kỹ thuật thuộc tổng cục kỹ thuật - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***

TẠ VĂN THUYÊN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH SỨC KHỎE CHO
CÔNG NHÂN TẠI CÁC CƠ SỞ SỬA CHỮA TRANG, THIẾT
BỊ KỸ THUẬT THUỘC TỔNG CỤC KỸ THUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
*** *** ***

TẠ VĂN THUYÊN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH SỨC KHỎE CHO
CÔNG NHÂN TẠI CÁC CƠ SỞ SỬA CHỮA TRANG, THIẾT
BỊ KỸ THUẬT THUỘC TỔNG CỤC KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: Chƣơng trình thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)


nhận thức của bản thân. Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hoàng Đình Phi đã
giúp tôi lĩnh hội kiến thức quý báu, tư duy nghiên cứu khoa học về môn Quản
trị an ninh phi truyền thống.
Xin cảm ơn PGS.TS Hoàng Kỳ Lân đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn tốt nghiệp.
Xin cảm ơn các đồng chí, đồng đội và 4 cơ sở sửa chữa TBKT của
TCKT, Trung tâm y học dự phòng quân đội, Phòng Quân y/Cục Hậu
cần/TCKT đã tận tình giúp đỡ, cung cấp tài liệu để tôi hoàn thành đề tài luận
văn tốt nghiệp.
Tuy đã được sự quan tâm giúp đỡ rất lớn từ các Thầy, Cô và đồng
nghiệp, và sự nỗ lực rất lớn từ bản thân xong do những hạn chế nhất định về
kiến thức, thông tin và thời gian và những quy định chung trong lĩnh vực đặc
thù quân sự nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong
nhận được sự thông cảm, đóng góp và bổ sung của các Thầy, Cô và đồng
nghiệp để đề tài được hoàn thiện.
NGƢỜI CẢM ƠN

Tạ Văn Thuyên

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm an ninh sức khỏe công nhân ở
các cơ sở sửa chữa TBKT trong TCKT.

3
4
5
10
10
10
12
13
13
14
16
19
20
20
20
23
25
25
29
32
38
41


thuật
3.1. Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về
an toàn sức khỏe cho công nhân
3.1.1. Tuyên truyền về an ninh sức khỏe, các yếu tố nguy hiểm, có hại và
biện pháp bảo đảm an ninh sức khỏe, vệ sinh lao động
3.1.2. Nâng cao chất lượng huấn luyện an toàn sức khỏe và vệ sinh lao

42
47
51
52
55
55
58
59
59
62
63
63
67
68
68
70
71
72
73
77


CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

ALT

Alanin Transamin


Hepatits B surface Antigen

HC

Hồng cầu

HST

Huyết sắc tố

MetHb

Met Hemoglobin

MTLĐ

Môi trường lao động

QUTW

Quân ủy Trung ương

SGOT

Serum Glutaminc Oxloaetic
Transamin

SGPT


5


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Công tác sửa chữa thiết bị kỹ thuật là một mặt của công tác bảo đảm kỹ
thuật quân sự, có vai trò quan trọng nhằm duy trì hệ số, nâng cao tính năng kỹ
thuật của vũ khí trang bị, góp phần xây dựng quân đội chính quy, hiện đại.
Để nâng cao hiệu quả công tác sửa chữa thiết bị kỹ thuật đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, cần phải thực hiện nhiều giải pháp về khoa
học công nghệ; đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng; đào tạo và xây dựng đội
ngũ công nhân có trình độ chuyên môn giỏi, có sức khỏe tốt. Bảo đảm sức
khỏe cho đội ngũ công nhân là yếu tố quan trọng nhằm tái sản xuất sức lao
động, giữ vai trò trực tiếp quyết định kết quả hoàn thành nhiệm vụ tại các cơ
sở sửa chữa thiết bị kỹ thuật thuộc Tổng cục kỹ thuật.
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng
cục Kỹ thuật, trong những năm qua, lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã thường xuyên
quan tâm chăm lo bảo đảm an ninh sức khỏe cho công nhân, giữ vững được
năng lực sản xuất sửa chữa tại các đơn vị. Công tác bảo đảm an ninh sức khỏe
cho công nhân được thực hiện theo Luật an toàn, vệ sinh lao động và các văn
bản quy phạm pháp luật có liên quan đã bước đầu động viên, thúc đẩy phát huy
năng lực, trí tuệ của đội ngũ công nhân hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, do tính
đặc thù của quy trình lao động sản xuất tại các cơ sở sửa chữa thiết bị kỹ thuật
luôn tiềm ẩn yếu tố rủi ro, mất an toàn, ảnh hưởng đến sức khỏe công nhân. Ở
các nước phát triển, vấn đề nghiên cứu giảm thiểu ô nhiễm môi trường phòng
chống bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khỏe người lao động rất được quan
tâm đặc biệt là bệnh điếc nghề nghiệp (ĐNN) và khắc phục ô nhiễm bụi và
hóa chất trong sản xuất công nghiệp.
Theo thống kê của Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa
Kỳ (CDC), tại Mỹ có 53% người trưởng thành giảm thiểu sức nghe do những

khoa học và an toàn vệ sinh lao động, năm 2014;
Tổn thương máu và cơ quan tạo máu ở người tiếp xúc nghề nghiệp và
động vật nhiễm độc thực nghiệm với Trinitrotoluen của tác giả Nguyễn Minh
Hiếu, NCS Học viện Quân y, năm 2001;
7


Nghiên cứu khử độc cho nước thải bị nhiễm TNT bằng cây thủy tức
của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Khuê, Phạm Kiên Cường, Đỗ Bình Minh…, Tạp
chí Khoa học – Công nghệ, tập 45 số 3, năm 2007;
Một số kết quả nghiên cứu mới về công nghệ xử lý, khử độc cho môi
trường bị nhiễm các hóa chất độc hại đặc thù ngành quốc phòng của nhóm tác
giả: Đỗ Ngọc Khuê, Phan Nguyên Khánh, Tô Văn Thiệp, Viện Khoa học
Quân sự, Bộ Quốc phòng, tháng 11 năm 2010.
Đối với ngành kỹ thuật Quân đội, trong 3 năm 2015, 2016, 2017 đã
có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cải tiến công nghệ ở các kho
xưởng sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật toàn quân trong đó có 17 đề tài
về cải tiến công nghệ sửa chữa và môi trường, trong đó có 6 đề tài đề cập
đến môi trường bảo vệ sức khỏe người lao động bảo đảm an ninh sức
khỏe cho người lao động.
Tuy nhiên, các đề tài nói trên đều nghiên cứu chuyên sâu về một
bệnh nghề nghiệp; tác động của một tác nhân đơn lẻ đối với sức khỏe của
người lao động hoặc tìm kiếm một giải pháp kỹ thuật, công nghệ để giảm
thiểu tác động của một tác nhân gây hại. Có một số đề tài nghiên cứu về
điếc nghề nghiệp và bệnh nghề nghiệp liên quan đến nhiễm độc TNT
nhưng chưa đi sâu đánh giá thực trạng về công nghệ, thiết bị, máy công cụ
và cơ sở vật chất của các cơ sở sửa chữa trang bị kỹ thuật trong Tổng cục
Kỹ thuật. Do vậy, cần phải có một đề tài nghiên cứu tổng quát, đánh giá
một cách toàn diện đồng thời đề xuất các giải pháp có tính đồng bộ nhằm
bảo đảm an ninh sức khỏe cho đội ngũ công nhân lao động trong các cơ sở

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng
quân sự Hồ Chí Minh, kết hợp sử dụng tổng hợp các phương pháp lịch sử - lô
gic, phân tích - tổng hợp, hệ thống - cấu trúc, điều tra khảo sát, thống kê và
phương pháp chuyên gia để nghiên cứu, biên soạn làm sáng tỏ vấn đề khoa
học của đề tài. Tác giả đã trực tiếp tổ chức sử dụng các phương tiện, thiết bị
ngành quân y, xây dựng kế hoạch khảo sát, tổ chức xét nghiệm sinh hóa máu
cho công nhân, báo cáo của BQP, tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho đối

9


tượng nghiên cứu đưa ra đánh giá tổng kết về 2 bệnh chính liên quan đến yếu
tố nghề nghiệp tại các cơ sở sửa chữa TBKT trong TCKT.
6. Bố cục
Ngoài phần dẫn nhập, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tra cứu,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo đảm an ninh sức khỏe cho công nhân ở các
cơ sở sửa chữa trang bị kỹ thuật trong Tổng cục Kỹ thuật.
Chương 2: Yếu tố tác động và thực trạng bảo đảm an ninh sức khỏe cho công
nhân ở các cơ sở sửa chữa trang bị kỹ thuật trong Tổng cục Kỹ thuật.
Chương 3: Một số giải pháp bảo đảm an ninh sức khỏe cho công nhân trong
các cơ sở sửa chữa trang bị kỹ thuật của Tổng cục Kỹ thuật.

10


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM AN NINH SỨC KHỎE CÔNG NHÂN
Ở CÁC CƠ SỞ SỬA CHỮA TRANG BỊ KỸ THUẬT
TRONG TỔNG CỤC KỸ THUẬT

Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 BCHTW (Khóa XII), trang 9
Được sự quan tâm của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, trong những năm
qua các đơn vị trong TCKT đã thường xuyên quan tâm chăm lo bảo đảm điều
kiện lao động và sinh hoạt cho đội ngũ cán bộ, chiến sỹ và người lao động nói
chung và các cơ sở sửa chữa TBKT nói riêng. Sức khỏe của cán bộ, chiến sỹ
và người lao động được cải thiện và nâng cao. Các cơ chế chính sách trong
việc kiểm soát môi trường lao động, vệ sinh an toàn lao động từng bước được
nghiên cứu và hoàn thiện góp phần to lớn vào việc bảo đảm ANSK cho người
lao động. Trong những năm qua đứng trước thực trạng về điều kiện trang bị
kỹ thuật phục vụ cho sửa chữa vũ khí, phương tiện bảo đảm cho chiến đấu
bảo vệ Tổ quốc lạc hậu. Quân ủy Trung ương và BQP đã báo cáo với Đảng và
Nhà nước đầu tư đổi mới công nghệ, xây dựng mới nhiều cơ sở sửa chữa bảo
đảm cho yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, xong vũ khí trang bị kỹ thuật của quân đội
đa dạng, việc đầu tư đồng bộ đỏi hỏi nguồn ngân sách lớn trong khi kinh tế
đất nước chưa cho phép. Việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm
bảo đảm ANSK cho công nhân trong các cơ sở sửa chữa TBKT của TCKT là
yêu cầu cấp thiết.
1.1.2 Phƣơng trình cơ bản của công tác quản trị ANSK của mỗi cơ
sở sửa chữa TBKT trong TCKT
S

=

(S1

+

S2) – (C1

+

xuyên tác động đến các lĩnh vực của đời sống xã hội toàn cầu.
1.2. Những quy định của Nhà nƣớc và BQP về công tác bảo đảm
ANSK cho công nhân
1.2.1. Về chức năng nhiệm vụ
Thực hiện Quy định số 49/2012/QĐ-BQP ngày 04/6/2012 của Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối
quan hệ công tác của Tổng cục Kỹ thuật.
Ngành Kỹ thuật Quân đội có chức năng tham mưu cho Quân ủy
Trung ương và Bộ Quốc phòng về chiến lược trang bị kỹ thuật cho quân
đội, tổ chức tiếp nhận, quản lý và bảo quản vũ khí, trang bị kỹ thuật và tổ
chức sửa chữa vũ khí-trang bị kỹ thuật bảo đảm cho lực lượng vũ trang

13


huấn luyện chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc sự toàn
vẹn lãnh thổ, chủ quyền của đất nước.
Nhiệm vụ chính gồm:
- Tổ chức tiếp nhận vũ khí-trang bị kỹ thuật và cấp phát cho quân đội,
công an và lực lượng dân quân tự vệ
- Tổ chức quản lý, bảo dưỡng vũ khí-trang bị kỹ thuật
- Sản xuất vật tư, phụ tùng phục vụ cho công tác bảo dưỡng, sửa chữa
trang bị kỹ thuật.
+ Sửa chữa vũ khí-trang bị kỹ thuật
+ Sửa chữa xe máy phục vụ chiến đấu, huấn luyện chiến đấu
+ Sửa chữa các loại vận tải thủy, vũ khí-trang bị kỹ thuật hải quân
+ Sửa chữa các loại trang bị kỹ thuật cho Phòng không–Không quân...
- Tham mưu cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong công
tác mua sắm, nghiên cứu cải tiến hiện đại hóa trang bị kỹ thuật cho quân đội.
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Kỹ thuật, các cơ sở sửa

Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã được hưởng
đầy đủ các chế độ chính sách như chế độ tiền lương, chăm sóc sức khỏe
chung của cán bộ, công chức.
Ngoài ra còn được ưu tiên các chế độ chính sách đặc thù quân sự như:
- Phụ cấp thu hút: Thực hiện Nghị định 116/2010/NĐ-CP ngày
24/12/2010; Thông tư 08/2011/TTLT-BNV-BTC về phụ cấp thu hút đối với
công chức và người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có
điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn.
- Phụ cấp đặc thù quân sự: Thực hiện theo Quyết định số 15/2009/QĐTTg, Thông tư liên tịch số 30/2009/TTLT-BQP-BNV-BTC ngày 19/6/2009
về phụ cấp đặc thù đối với cán bộ công chức và người hưởng lương làm việc
trực tiếp trong môi trường độc hại (sửa chữa vũ khí-đạn, phòng thí nghiệm,
sửa chữa xe tăng...) với mức phụ cấp 20% lương hiện hưởng.
Người lao động trong các cơ sở sửa chữa trang bị kỹ thuật của Tổng
cục Kỹ thuật được khám sức khỏe định kỳ, giám định bệnh nghề nghiệp, điều
trị bệnh nghề nghiệp khi có dấu hiệu liên quan đến bệnh nghề nghiệp; Được
15


hưởng chế độ an, điều dưỡng khi bị bệnh nghề nghiệp theo Thông tư 157/TTBộ Quốc phòng ngày 26/8/2013.
Đối với các cơ sở sửa chữa: hàng năm được tổ chức khảo sát, đánh giá tác
động môi trường làm việc, làm cơ sở để có giải pháp giảm thiểu những yếu tố
tác động đến an ninh sức khỏe người lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp.
Tuy đã được sự quan tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc
phòng về chế độ chính sách đãi ngộ, bồi dưỡng sứa khỏe, xong thực tiễn do
trang bị kỹ thuật, do điều kiện về kinh tế, Bộ Quốc phòng và Nhà nước
chưa có điều kiện để đầu tư đổi mới công nghệ, đầu tư về hạ tầng bảo đảm
an sinh xã hội nên điều kiện làm việc, đời sống của cán bộ, công chức,
công nhân viên lao động trong các cơ sở sửa chữa của Tổng cục Kỹ thuật
còn gặp rất nhiều khó khăn như:
Trang bị công nghệ sửa chữa còn lạc hậu, người lao động phải trực tiếp

mặt trận Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt, Nha Trang. Tiếp đó, lực lượng sản
xuất, sửa chữa vũ khí được xây dựng, mở rộng ở các chiến khu từ năm 1945
đến 1950 để bảo đảm kịp thời cho các hoạt động tác chiến của lực lượng du
kích tại chỗ, các chiến dịch của bộ đội chủ lực như Chiến dịch phản công Việt
Bắc Thu - Đông năm 1947, Chiến dịch Biên giới 1950.
Kể từ năm 1951, lực lượng sản xuất, sửa chữa vũ khí trang bị được tổ
chức xây dựng chính quy thành các xưởng, đội sửa chữa lưu động của các
chiến khu, liên khu đã bước đầu đáp ứng nhu cầu bảo đảm loại vũ khí trang bị
cho từng khu vực. Bên cạnh đó, khi mở các chiến dịch ta đã tổ chức ra các đội
sửa chữa, thu hồi, kịp thời sửa chữa, cải tiến vũ khí địch để đánh địch nên đã
góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi trong kháng chiến
chống Pháp. Bên cạnh việc huấn luyện chuyên môn, tuyển dụng nhân tài,
Đảng và Nhà nước cũng quan tâm bảo đảm đời sống nói chung, sức khỏe cho
công nhân lao động nói riêng nhưng chưa ban hành quy định về lao động
trong các cơ sở quốc phòng nói chung và lao động của đội ngũ công nhân kỹ
thuật tại các cơ sở sửa chữa vũ khí nói riêng.

17


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta cũng rất quan
tâm xây dựng và chăm lo đời sống mọi mặt cho đội ngũ công nhân quốc phòng
nói chung, công nhân quân giới nói riêng. Tuy nhiên, do chiến tranh ác liệt nên
sức khỏe của đội ngũ công nhân lao động trong các cơ sở sửa chữa dã chiến
vẫn chưa được chăm lo đúng mức. Khi đất nước thống nhất, Đảng và nhà nước
đã có điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho lực lượng công
nhân nói chung, nhất là lực lượng công nhân quốc phòng lao động trong môi
trường đặc thù có nhiều độc hại nói riêng. Nhiều chính sách được ban hành
nhằm tạo cho công nhân trong các nhà máy, kho trạm có được điều kiện làm
việc tốt hơn nhưng chưa có văn bản riêng quy định về việc bảo đảm an ninh

quyết chuyên đề số 263-NQ/ĐU ngày 07/7/2016 về “lãnh đạo công tác an
toàn trong Tổng cục Kỹ thuật đế năm 2020 và những năm tiếp theo” và xây
dựng kế hoạch số 303-KH/ĐU thực hiện nghị quyết 263-NQ/ĐU về lãnh
đạo công tác an toàn trong Tổng cục Kỹ thuật.
Những văn bản quy phạm pháp luật đã được Quân ủy Trung ương và
Bộ Quốc phòng ban hành trong 2 năm 2016, 2017 và Nghị quyết 263NQ/ĐU của Đảng ủy Tổng cục Kỹ thuật là những căn cứ và điều kiện quan
trọng để triển khai nghiên cứu và chắc chắn khi hoàn thành sẽ góp phần
quan trọng củng cố và nâng cao năng lực công nghệ của các cơ sở sửa chữa
trang bị kỹ thuật trong Tổng cục Kỹ thuật bảo đảm an ninh sức khỏe cho
người lao động, góp phần vào sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam xã hội
chủ nghĩa vững mạnh, phát triển bền vững.
Kết luận chƣơng 1
Qua thực tiễn bảo đảm hậu cần cho các đơn vị trong Tổng cục Kỹ
thuật, tham mưu cho lãnh đạo, chỉ huy Tổng cục Kỹ thuật trong chăm sóc sức
khỏe người lao động. Tổng hợp các yếu tố về khảo sát đánh giá tác động môi
trường đối với các cơ sở sửa chữa trang bị kỹ thuật trong Tổng cục Kỹ thuật,
tác giả đề tài nhận thấy thực trạng về môi trường lao động, về cơ chế chính
sách và những yếu tố bảo đảm an ninh sức khỏe cho cán bộ, công chức, công
19


nhân viên lao động ở các cơ sở cửa chữa trang bị kỹ thuật trong Tổng cục Kỹ
thuật là yêu cầu cấp thiết phải được nghiên cứu, tổng kết, đánh giá và có
những giải pháp cụ thể đề xuất với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.
Làm cơ sở để bảo vệ sức khỏe người lao động, nâng cao năng lực sửa chữa
của các cơ sở sửa chữa trang bị kỹ thuật trong Tổng cục Kỹ thuật, nâng cao
tiềm lực quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

20


21


chất dễ phát tán ra môi trường lao động, xâm nhập vào cơ thể do trực tiếp tiếp
xúc trong quá trình sản xuất và công tác.
Với đặc thù công tác, công nhân lao động trong các cơ sở sửa chữa vũ
khí trang bị kỹ thuật thường phải làm việc trong môi trường vi khí hậu phức
tạp tại các nhà xưởng. Các điều kiện về độ ẩm, nhiệt độ, tốc độ lưu thông
không khí có ảnh rất lớn đến sức khỏe công nhân lao động, là nguyên nhân
trực tiếp gây nên một số bệnh nghề nghiệp. Thông thường khi độ ẩm tăng cao
sẽ làm giảm lượng ôxy vào phổi gây cảm giác uể oải, phản xạ chậm, thiếu tập
trung; làm lắng đọng hơi nước, gây trơn trượt, đoản mạch…dễ phát sinh mất
an toàn lao động. Trong điều kiện bình thường, cơ thể tự làm mát theo cơ chế
bức xạ nhiệt qua bề mặt da, khi nhiệt độ môi trường cao hơn nhiệt độ cơ thể,
cơ chế làm mát bằng mồ hôi sẽ được kích hoạt, mồ hôi bay hơi sẽ hấp thụ
nhiệt và làm mát bề mặt da. Tuy nhiên, khi độ ẩm cao, tốc độ gió thấp thì cơ
chế này ít phát huy được tác dụng. Mặt khác, khi tiết mồ hôi, cơ thể dễ mất
cân bằng điện giải, độ nhớt máu tăng dẫn đến tim phải làm việc nhiều hơn,
các chức năng của hệ thần kinh trung ương cũng bị ảnh hưởng làm giảm sự
chú ý, tốc độ phản xạ. Nếu thường xuyên làm việc trong môi trường vi khí
hậu có bức xạ nhiệt cao mà thiếu các biện pháp bảo hộ phù hợp sẽ tác động
xấu đến sức khỏe của công nhân. (Bản 1,2,3. Phụ lục1)
Một trong những tác nhân nguy hiểm, tác động xấu đến sức khỏe
công nhân đó là bụi. Bụi là một trong 3 yếu tố gây ô nhiễm môi trường lao
đông phổ biến nhất hiện nay cùng với tiếng ồn và hóa chất độc hại. Dựa
theo nguồn gốc người ta chia bụi thành 2 loại là bụi vô cơ và hữu cơ. Bụi
vô cơ gồm có bụi amiăng, bụi silic…đều rất độc hại. Đặc biệt là bụi amiăng
vì nó có khả năng gây bệnh đối với con người và tính chất nguy hiểm của
bệnh do nó gây ra đối với sức khỏe con người. Bụi hữu cơ gồm có các loại
bụi xuất hiện trong quá trình sản xuất cạo rỉ... đặc biệt là sự phân rã và phát

bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD).
Có thể nói, các yếu tố môi trường vi khí hậu có tác động tổng hợp, liên
quan với nhau. Cùng một nguồn bức xạ nhiệt với cường độ không đổi, trong
điều kiện thông khí kém, độ ẩm cao sẽ làm nhiệt độ cơ thể tăng lên tỷ lệ thuận
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status