luận văn:Phát triển nhà ở cho công nhân tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp - Pdf 12


1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI: “Phát triển nhà ở cho công
nhân tại các khu công nghiệp, khu chế
xuất ở Việt Nam - Thực trạng và giải
pháp.” 2

bình không nên quá 30-40 phút tuỳ thuộc vào hệ thống giao thông và tốc độ
di chuyển của phương tiện đi lại. Tuy nhiên các khu dân cư cần có khoảng
cách với khu vực sản xuất để tránh ô nhiễm môi trường.
Số lượng lao động tăng nhanh nhưng quy hoạch phát triển khu công
nghiệp chưa tính tới yêu cầu về chỗ ở cho công nhân. Chỉ khi xây dựng xong
cơ sở hạ tầng thì vấn đề nhà ở cho công nhân mới trở nên bức xúc. Ở phía
nhà nước cũng như phía doanh nghiệp hiện nay vẫn chưa có hướng giải
quyết và cho đến nay cũng chưa có cơ chế chính sách rõ ràng cho công tác
xây dựng nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX ở Việt Nam. Vì vậy, em
nghiên cứu đề tài “Phát triển nhà ở cho công nhân tại các khu công
nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”.
Đề tài tập trung làm rõ hai mục tiêu chính:
Thứ nhất, nêu lên thực trạng của việc phát triển nhà ở cho công nhân tại
các KCN, KCX ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Đã có những cơ chế
chính sách nào của nhà nước nhằm định hướng giải quyết cho vấn đề nhà ở
công nhân chưa? Nó có hiệu quả gì không?
Thứ hai, tìm hiểu nguyên nhân và đề ra một số giải pháp cho việc phát
triển nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng và giải pháp phát triển
nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX ở Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Về không gian: Đề tài sẽ nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển
nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX trên phạm vi cả nước, tuy nhiên có
tập trung vào những khu công nghiệp điển hình ở Việt Nam như Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh

4


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHÀ Ở CHO CÔNG NHÂN TẠI CÁC
KCN, KCX VÀ KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NHÀ Ở CHO CÔNG NHÂN TẠI CÁC KCN,
KCX
1. Khái quát về các KCN, KCX.
Sau hơn 15 năm phát triển kể từ khi ra đời KCN đầu tiên (khu chế xuất
Tân Thuận – thành lập ngày 24/9/1991), cho đến giữa năm 2006, cả nước ta
đã có 135 KCN, KCX được thành lập ở 45 tỉnh, thành phố trong cả nước với
tổng diện tích đất tự nhiên 26.500 ha, trong đó có 75 KCN, KCX đã đi vào
hoạt động. Số lượng các KCN vẫn tiếp tục gia tăng mạnh mẽ và theo số liệu
gần đây nhất, tính đến tháng 10/2007 cả nước đã có 154 KCN được thành
lập với tổng diện tích đất tự nhiên 32.808 ha. Trong đó diện tích đất công
nghiệp có thể cho thuê là 21.775 ha chiếm 66% tổng diện tích đất tự nhiên.
Có 92 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 20.758 ha và
62 KCN đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ
bản với tổng diện tích đất tự nhiên 12.073 ha. Theo kế hoạch đến 2015 có
khoảng 109 KCN nữa sẽ hình thành.
Tính đến giữa năm 2006 các KCN ở nước ta đã thu hút 86 vạn lao động
trực tiếp làm việc trong KCN và trên một triệu lao động trong lĩnh vực xây
dựng, cung cấp dịch vụ cho các KCN tại các cơ sở kinh doanh ngoài KCN.
Tỷ lệ bình quân thu hút lao động tại các KCN trên một đơn vị diện tích hiện
nay là 90-100 người/ ha . Nếu KCN tập trung các ngành nghề như dệt may,
lắp ráp điện tử, sản xuất giày dép…có sử dụng nhiều lao động thì tỷ lệ trên
còn cao hơn. Như vậy với KCN, KCX có quy mô bình quân ở Việt Nam

6


các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN với tổng số vốn đầu tư 976
triệu USD và 43 nghìn tỷ đồng).
Việc phát triển các KCN, KCX đã và đang góp phần quan trọng giải
quyết việc làm cho lao động tại chỗ và lao động nhập cư. Trong thời gian
tới, lực lượng lao động trong các KCN, KCX gia tăng mạnh mẽ cùng với sự
phát triển của các dự án hoạt động trong các KCN, KCX. Tính đến tháng
6/2007 , các KCN, KCX của cả nước đã thu hút được khoảng 1 triệu lao
động trực tiếp với tỷ trọng lao động có chuyên môn kỹ thuật tăng lên và đạt
gần 40%. Ngoài ra nếu tính cả số lao động gián tiếp thì tổng số việc làm
được tạo ra từ chương trình phát triển KCN, KCX tập trung nhiều nhất là tại
TP Hồ Chí Minh với khoảng trên 210 nghìn lao động làm việc tại hơn 100 xí
nghiệp trong 14 KCN, KCX, trong số này có khoảng 60-70% lao động là
người từ các địa phương khác đến làm việc tại TP Hồ Chí Minh và đại đa số
công nhân ở đây đều có nhu cầu nhà trọ. Trong khi đó toàn thành phố chỉ có
4/14 KCN là có xây nhà lưu trú cho công nhân, còn lại đều không có hoặc là
công nhân phải sống trong các khu nhà tạm bợ, thiếu thốn điều kiện sinh
hoạt tối thiểu.
Năm 2007, TP Hồ Chí Minh đã khởi công xây dựng nhà lưu trú tại 5
khu là: Tân Thuận, Linh Trung 2, Tân Thới Hiệp, Long Thới, Vĩnh Lộc với
tổng quy mô đáp ứng được gần 7000 chỗ ở cho công nhân. Đến tháng
3/2007 thành phố tiến hành sửa chữa 2 khu nhà ở KCX Linh Trung để đưa
công nhân vào ở. Ngoài ra thành phố cũng tích cực bổ sung quy hoạch bên
ngoài KCN, KCX quyết tâm xây dựng được 8000-10.000 chỗ ở cho công
nhân trong năm 2008.
Riêng tại Hà Nôị, quá trình mở rộng phát triển và thu hút mạnh đầu tư
vào các KCN, KCX đã tạo lên sức hút mạnh về lao động tại đây, bao gồm

8

thức là dành cho công nhân. Ở đây chỉ có công ty giày Thái Bình thì có
khoảng 1000 chỗ ở cho công nhân và Mỹ Phước thì có khoảng 900-1000
chỗ, còn lại hầu hết đều chung tình trạng như các KCN, KCX trên toàn
quốc.
Tại thị trấn Bến Lức (Long An), dân số trên địa bàn của thị trấn khoảng
trên 18 nghìn người, riêng nhà máy Chin Lou đóng tại địa bàn thị trấn đã có
khoảng 25 nghìn công nhân làm việc. Trong số đó có khoảng 10 nghìn
người đang thuê nhà trên đất thị trấn. Trong tổng số những công nhân thuê
nhà này chỉ có vài nghìn người là có khả năng thuê được những nhà trọ xây
dựng tương đối cơ bản của các doanh nghiệp cho thuê nhà trọ như Kim Tỷ
và Dung Quý. Số công nhân và lao động còn lại phải thuê những nhà rất tạm
bợ, cơi nới, tận dụng.
S
ố lao động trong các KCN, KCX tăng nhanh với các điều kiện
và đặc điểm nêu trên dẫn đến cầu về nhà ở tăng mạnh tại các khu vực KCN
(nhà ở cho người địa phương khác đến làm việc, nhà ở cho gia đình trẻ mới
hình thành …). Hầu như toàn bộ số người lao động từ địa phương khác đến
làm việc tại các KCN, KCX đều có nhu cầu về nhà ở. Một số lao động là
người địa phương cũng có nhu cầu về nhà ở gần KCN, KCX do chế độ làm
việc theo ca kíp của các doanh nghiệp buộc người dân phải bám xưởng bám
máy hay làm thêm giờ. Do diện tích nhà ở của gia đình hiện có chật hẹp, do
bản thân người lao động thích sống tự lập không muốn phụ thuộc gia đình,
bên cạnh đó cũng do giao thông trong khu vực chưa thuận tiện, tốn nhiều
thời gian hoặc kém an toàn nên một số công nhân tuy trong cùng huyện với
những KCN, KCX song ở các địa điểm khó khăn về giao thông vẫn có nhu
cầu về nhà ở gần KCN…

10

người nghèo, người gặp khó khăn, hoạn nạn trong cuộc sống do thiên tai,
bệnh tật,… Tùy theo tình hình, đặc điểm thực tế của mỗi nước và trong từng
hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn mà có chính sách đầu tư phát triển nhà ở
cho các đối tượng nêu trên là khác nhau. Từ việc đầu tư bằng ngân sách nhà
nước đến việc khuyến khích và tạo điều kiện để hỗ trợ các thành phần kinh
tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực xây dựng nhà ở để cho các đối tượng này
thuê, tạm thời cư trú hoặc thuê mua.
Để hiểu thế nào là nhà ở cho công người lao động, công nhân tại các
KCN, KCX, thì hiện nay chưa từng có một khái niệm cụ thể nào nói đến.
Cũng chưa có khái niệm thống nhất nào về nhà ở cho công nhân, người lao
động tại các KCN, KCX. Theo những điều khoản, quy phạm trong “Chương
I: Những quy định chung” của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 6 tháng 9
năm 2006 về Quy định chi tiết và hướng dấn thi hành Luật Nhà ở, chúng ta
có khái niệm về “nhà ở xã hội” được dùng nhất thể hóa với nhà ở công nhân,
người lao động tại các KCN, KCX như sau: “Nhà ở xã hội” được hiểu là
nhà ở do nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu
tư xây dựng cho các đối tượng quy định tại điều 53 và điều 54 của Luật Nhà
ở thuê hoặc thuê mướn theo cơ chế do Nhà nước quy định.”
Ngoài ra trong luật Nhà ở còn có quy định về điều kiện được thuê và
mua nhà ở xã hội bao gồm:
- Chưa có sở hữu nhà và chưa được thuê hoặc thuê mua nhà ở thuộc sở
hữu nhà nước; có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện tích bình quân
trong hộ gia đình dưới 5m2 sàn/ người; nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng
là nhà ở tạm, hư hỏng hoặc dột nát.
- Người được thuê – mua quỹ nhà ở xã hội ngoài các điều kiện quy định
nói trên còn phải thanh toán lần đầu 20% giá trị của nhà được thuê mua.



13
trung ở TP Hồ Chí Minh như ở KCX Tân Thuận do công ty cổ phần phát
triển Sài Gòn xây dựng 2 khu nhà quy mô 1900 chỗ ở, KCN Tân Bình, công
ty phát triển nhà Quận 5 xây dựng 2 khu chung cư với quy mô 720 chỗ ở;
KCX Linh Trung 1, công ty dịch vụ địa ốc Sài Gòn xây dựng 104 phòng vơi
quy mô 840 chỗ ở, Tổng công ty xây dựng Sài Gòn xây dựng 2 khu nhà 5
tầng với quy mô 1520 chỗ ở; KCN Vĩnh Lộc, công ty cổ phần nhà Quận 5
xây dựng 2 khu chung cư với quy mô là 720 chỗ ở Theo số liệu thống kê về
việc nhà nước và doanh nghiệp đảm bảo được chỗ ở cho người lao động ta
thấy:
Tỉnh, thành phố Tỷ lệ nhà ở được đảm bảo (%)
TP Hồ Chí Minh 5.4
Đồng Nai 6.5
Bình Dương 15
Như vậy ta thấy so vói tổng nhu cầu của người lao động về chỗ ở thì tỷ
lệ này là quá ít. Doanh nghiệp và nhà nước mới chỉ đảm bảo được một phần
nhỏ số lượng nhà cho công nhân tại các KCN, KCX.
Đây là những khu nhà đảm bảo chất lượng tốt thứ hai sau loại nhà ở do
nhà nước xây dựng. Chất lượng của nó hơn hẳn so với những loại nhà ở do
doanh nghiệp tư nhân và các hộ gia đình xây dựng để cho thuê. Khu nhà này
đã đảm bảo được chất lượng cuộc sống của người công nhân. Nhà ở do
doanh nghiệp xây dựng trong khuôn viên đất của doanh nghiệp trong KCN.
Vì vậy chất lượng cuộc sống trong này bị tách biệt với cộng đồng dân cư,
đồng thời những hạ tầng xã hội đi kèm với chất lượng cuộc sống cũng có
nhiều bất cập



15
đó. Trong ba loại nhà trên thì loại nhà do người dân xây mới để cho công
nhân thuê hiện nay có chất lượng tốt nhất so với những loại nhà kia, tuy
nhiên do họ phải đóng thuế khá cao (28% thuế thu nhấp doanh nghiệp và
VAT 10%) nên thu hồi vốn chậm và không có tích lũy để tu sửa nhà trọ. Vì
vậy mà loại nhà này cũng ít. Đây là mô hình rất phù hợp với giai đoạn hiện
nay, cho nên Nhà nước nên có những cơ chế chính sách để hỗ trợ tạo điều
kiện cho những hộ dân có khả năng xây dựng nhà ở cho công nhân thuê,
giảm bớt sức ép về nhu cầu nhà ở đang ngày một gia tăng hiện nay. Còn đối
với những loại nhà ở do người dân xây dựng từ diện tích thừa của gia đình
hay xây trên đất thổ cư thì phần lớn chất lượng kém, an ninh không đảm bảo,
không an toàn. Chắc chắn về sau này không một người ở trọ nào muốn duy
trì tình trạng chỗ ở của mình như vậy.

3. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về việc phát triển
nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX.
Việc phát triển nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX hiện nay đang
là một vấn đề khá bức xúc đặt ra với tất cả các nước, đặc biệt là đối với
những nước có tốc độ tăng trưởng phụ thuộc phần lớn vào yếu tố phát triển
các KCN, KCX. Sau đây là một số những kinh nghiệm của các nước trên thế
giới về việc phát triển nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX.
3.1. Một số giải pháp của các tiểu vương quốc Ả Rập (UAE).
Chính quyền thành phố công nghiệp Dubai đã thông báo hoàn thành
thành phố lao động đầu tiên tại khu Base Metal, với sức chứa 12500 người
gồm quản đốc và công nhân.
Thành phố lao động, bao gồm 14 toà nhà, là dự án đầu tiên trong số bảy

triệu feet vuông, với 87500 giường. Thiết kế và quy hoạch của tất cả các

17
thành phố lao động này là tuân thủ theo các quy định mới nhất của thành phố
công nghiệp Dubai, và dưới sự giám sát của Maqayees, trung tâm tiêu chuẩn
công nghiệp Dubai.
3.2. Một số giải pháp của Bang Selangor (Malaysia) xây dựng
chương trình phát triển nhà ở cho công nhân.
Chương trình này được chính quyền bang Selangor (Malaysia) bắt đầu
để phát triển nhà ở mới cho công nhân của bang. Chương trình này được đặt
tên là “Chương trình nhà ở cho các cặp uyên ương”.
Nhà xây dựng theo chương trình này sẽ được tập trung tại các khu vực
phụ cận khu công nghiệp. Theo tuyên bố mà Ban thư ký báo chí tại văn
phòng Menteri Besar, chương trình nhà ở cho các cặp uyên ương nhằm đảm
bảo rằng công nhân sẽ không phải rời đi nơi khác khi lập gia đình. Điều này
sẽ góp phần làm giảm mức biến động lao động tại các nhà máy, các KCN…
từ đó tạo ra sức hút cho các nhà đầu tư.
Hai trong số những địa điểm được xác định là thích hợp cho chương
trình nhà ở cho các cặp uyên ương này là Batu 7 và Si jang kang, nằm gần
khu trung tâm Halal và Deng kil tại Sepang.
Tất cả các công dân dưới 45 tuổi tại Selangor đều được dành cho các
căn hộ này. Đó là các căn hộ liền kề nhau, mỗi căn gồm ba phòng, mỗi căn
trị giá 35,000 ringit.
Để tối ưu hoá sử dụng tiện ích mặt bằng, chương trình sẽ tổ chức xây
dựng các cụm căn hộ, theo tỉ lệ 20 đến 25 đơn nguyên trên mỗi acre (mẫu
Anh tức là bằng khoảng 0.4 hecta) so với mức 15 đơn nguyên trên một acre
đang áp dụng trong các dự án nhà hiện tại.


19
năm, dù cũng qua nhiều chính sách của nhà nước, nhưng vấn đề nhà ở công
cộng của nước Mỹ vẫn trong tình trạng là khủng hoảng nặng. Điều này có
được một phần do các định chế do tổng thống các kỳ đưa ra khác nhau. Với
mỗi kỳ tổng thống thì lại có những chính sách về nhà ở cho công nhân, nhà
ở công cộng hay nhà ở xã hội khác nhau chính vì vậy mà cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng nhà ở xã hội tại Mỹ. Đến nay, bài
học kinh nghiệm mà nước Mỹ có thể rút ra là nguyên nhân dẫn đến khủng
hoảng nhà ở là do thiếu quỹ nhà cho thuê.
Tại Balan, chính sách về nhà ở lại được áp dụng như sau: họ phân ra
trong xã hội có các đối tượng có nhu cầu về nhà ở, phân thành năm nhóm.
Đó là:
- Nhóm có thu nhập rất cao.
- Nhóm có thu nhập cao.
- Nhóm có thu nhập trung bình.
- Nhóm có thu nhập thấp.
- Nhóm có thu nhập rất thấp.
Nhóm có thu nhập rất thấp tức là người nghèo, gồm các hộ gia đình gặp
thiên tai, rủi ro trong cuộc sống, hay những người có thu nhập rất thấp.
Nhóm này cần có sự hỗ trợ của nhà nước. Balan áp dụng hình thức ở đây là
phân nhóm đối tượng trong xã hội để có chính sách giải quyết cho phù hợp.
4. Một số kết luận rút ra cho Việt Nam.
Từ thực tế và kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy vấn đề nhà ở cho
công nhân làm việc tại các KCN, KCX là một vấn đề rất quan trọng và có ý
nghĩa thiết thực cấp bách với sự phát triển lâu dài của các hoạt động sản xuất
kinh doanh và chiến lược phát triển bền vững của các KCN, KCX. Sự phối

công bằng, đảm bảo đúng quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia. Bên cạnh đó
nhà nước còn cần phải khuyến khích các doanh nghiệp, người dân tham gia

21
vào quá trình cung ứng loại hình dịch vụ nhà ở này thông qua các biện pháp
hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các doanh nghiệp, người dân như ưu đãi
thuế, giá yếu tố đầu vào (điện, nước ), cơ sở hạ tầng, cung cấp thông tin quy
hoạch các KCN, KCX,…Về phía bên cung cấp dịch vụ và nhà nước cũng
phải đảm bảo cam kết, quy định đi kèm về giá thuê nhà ở, tiêu chuẩn về chất
lượng và phòng trọ cho thuê…
Tóm lại, trong xu thế tất yếu của sự biến đổi kinh tế nói chung trên thế
giới, bất kỳ quốc gia nào dù là phát triển hay đang phát triển, các quốc gia
đang trong quá trình CNH- HĐH chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Để thay đổi và
phát triển theo hướng tích cực, thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển
đi trước thì một trong những điều kiện tiên quyết đó là phải tập trung phát
triển các KCN, KCX. Tuy nhiên để các KCN, KCX này hoạt động, phát
triển thì cần phải có các yếu tố cơ bản, nền tảng bên trong, ở đây chính là
vấn đề nhà ở cho công nhân, cho những người lao động làm việc tại nơi đó.
Vậy phía nhà nước, doanh nghiệp, người dân phải làm gì để góp phần làm
cho điều này trở thành hiện thực? Đó vẫn còn đang là một ẩn số cho mọi
quốc gia đang phát triển, Việt Nam cũng không thể nằm ngoài quỹ đạo này.

Thứ nhất, công nhân sẽ làm việc không năng suất. Vì điều kiện sinh
hoạt (nhà ở) của công nhân ảnh hưởng lớn đến khả năng tái tạo sức lao động
của công nhân và qua đó ảnh hưởng đến năng suất lao động và sự phát triển
bền vững của doanh nghiệp cũng như của KCN, KCX. Ta có thể lấy một ví
dụ như tại Đài Loan thuộc Trung Quốc, tình trạng lạm dụng tình dục một
cách nghiêm trọng xảy ra thường xuyên, nhất là đối với nữ công nhân trẻ
còn độc thân. Nhiều nữ công nhân tầm tuổi 19 muốn làm việc tại các quán
bar karaoke nơi họ bị lạm dụng tình dục nhưng ít nhất mức lương của họ
nhận được là NT $30.000 (US$ 1.170/ tháng, tỷ giá NT 25,924/US$ 1), là
mức thu nhập cao hơn làm trong nhà máy. Các KCX đã góp phần tạo nên
“sự thần kỳ kinh tế” của Đài Loan. Tuy nhiên kể từ thập kỷ 80, với sự gia
tăng chi phí nhân công và giá đất, khả năng cạnh tranh của Đài Loan đã bị
giảm sút. Kể từ năm 1984, nhiều nhà máy trong các KCX đã chuyển sang
hoạt động tại các quốc gia khác. Điều kiện sinh hoạt của công nhân ảnh
hưởng tới năng suất lao động bởi vì nếu điều kiện ăn ở kém sẽ ảnh hưởng tới
sức khoẻ của công nhân qua các yếu tố như: thiếu ngủ, thiếu phương tiện đi
lại và thời gian nghỉ ngơi, điều kiện vệ sinh, nước uống kém. Nếu thường
xuyên như vậy thì tình trạng này hàng ngày ảnh hưởng tới sức khoẻ của
công nhân, đặc biệt là nữ công nhân – là lực lượng lao động chính của các
KCN, KCX. Họ là những công nhân sản xuất, do đặc thù công việc mà họ
phải làm việc khoảng 10-12 tiếng trong một ngày và có khi còn phải làm ca
đêm. Hơn nữa ngoài thời gian làm việc họ lại còn phải chăm sóc gia đình,
con cái dẫn đến họ thường xuyên đi làm muộn hoặc phải nghỉ làm. Nếu có
thể đi làm thì họ cũng không thể cho năng suất cao và khả năng an toàn lao
động bị giảm.
Thứ hai, do không có chỗ ở ổn định nên đời sống của công nhân rất bấp
bênh, nay đây mai đó, điều này làm cho doanh nghiệp có thể thiếu lao động,


25
lẽ ra được hưởng cũng không thể hoặc là khó có thể được hưởng theo. Mặt
khác các nhà đầu tư nước ngoài đều coi phúc lợi của công nhân là một điều
kiện để họ tham gia đầu tư và thực hiện các giao dịch, điều này dựa trên cơ
sở tiêu chuẩn thế giới về phúc lợi của công nhân, nhất là đối với các nước ở
thế giới thứ ba, khi điều kiện làm việc của công nhân còn tồi tàn, lao động
dễ bị bóc lột, giá nhân công rẻ mạt…
Thứ năm, do đặc điểm lao động tại các KCN, KCX là phần lớn trẻ và
chưa lập gia đình. Khi làm việc tại các KCN, KCX hiện nay, với điều kiện
vật chất chưa đầy đủ, đặc biệt lại chưa có nhà để ở ổn định thì việc kết hôn,
lập gia đình đối với họ là vấn đề không tưởng. Điều này cũng ảnh hưởng đến
tâm lý của các cá nhân, đồng thời cũng tạo nhiều vấn đề xã hội đặc biệt là
đối với phụ nữ như tình trạng bị lạm dụng tình dục hoặc phải thôi việc để đi
lấy chồng khi đã đến hoặc quá tuổi.
Tất cả đều tạo ra một hình ảnh không tốt đẹp gì trong mắt các nhà đầu
tư tiềm năng đối với các KCN, KCX. Vì vậy có thể dòng đầu tư vào các
KCN, KCX này sẽ giảm đi trong tương lai, do vậy ảnh hưởng đến sự phát
triển lâu dài và bền vững của các KCN.
2. Tình hình nhà ở của công nhân tại các KCN, KCX ở Việt Nam.
Tại Việt Nam thời gian qua, các KCN, KCX hầu hết là không có hoặc
có cũng không đảm bảo nhà ở cho công nhân của mình. Chúng ta có thể tìm
hiểu một số thông tin thông qua bài báo dưới đây được đưa tin nhanh tại
VnEpress về tình hình nhà ở cho công nhân tại các KCN, KCX ở Việt Nam:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status