ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÝ VĨ CHÍ
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG
TRƢỞNG KINH TẾ ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG THU
NHẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đà Nẵng - Năm 2017
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÝ VĨ CHÍ
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG
TRƢỞNG KINH TẾ ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG THU
NHẬP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60.31.01.05
N ƣờ
ƣớn
n
CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƢỞNG KINH
TẾ TỚI BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP....................................................15
1.1. LÝ THUYẾT VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ.......................................15
1.1.1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế...............................................15
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế..................................................... 19
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.........................22
1.2. LÝ LUẬN VỀ TĂNG BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP.........................27
1.2.1. Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập......................................... 27
1.2.2. Đo lường bất bình đẳng thu nhập............................................... 31
1.2.3. Các nguyên nhân của bất bình đẳng thu nhập............................ 33
1.3. TỔNG QUAN CÁC LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG THU NHẬP........................39
1.3.1. Tác động tích cực của tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu
nhập.................................................................................................................46
1.3.2 . Tác động tiêu cực của tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu
nhập.................................................................................................................46
KẾT UẬN CHƯ NG 1................................................................................49
CHƢƠNG 2. ĐỊA BÀN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..............50
2.1. GIỚI THIỆU VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU...........................................50
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên.......................................................................50
2.1.2. Đặc điểm xã hội..........................................................................52
2.1.3. Đặc điểm kinh tế.........................................................................53
2.2. PHƯ NG PHÁP NGHIÊN CỨU............................................................60
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu định tính.............................................60
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng..........................................60
2.2.3. Xác định mô hình ước lượng...................................................... 61
2.2.4. Số liệu dùng cho phân tích..........................................................63
KẾT LUẬN CHƯ NG 2................................................................................65
KẾT UẬN CHƯ NG 4................................................................................92
KẾT LUẬN....................................................................................................93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1.
Diễn giải các biến sử dụng trong mô hình
63
3.1.
NS Đ tỉnh Ninh Thuận
68
3.2.
Hiệu quả sử dụng vốn
T lệ đi học chung theo cấp học, thành thị, nông thôn
và nhóm thu nhập của Ninh Thuận năm học 2015-2016
76
3.8.
Tiếp cận giáo dục theo loại trường đang học, thành thị nông thôn và nhóm thu nhập của Ninh Thuận năm học
77
2015-2016
3.9.
Tóm tắt một số thống kê cơ bản về các biến trong mô
hình
80
3.10.
Kết quả ước lượng
83
3.11.
Kết quả hồi quy hai giai đoạn
85
T lệ người khám chữa bệnh có bảo hiểm y tế hoặc sổ
th khám chữa bệnh miễn phí chia theo nhóm thu nhập,
78
thành thị – nông thôn của tỉnh Ninh Thuận
3.3.
Phân bố xác suất của phân phối bình đẳng trong thu
nhập
80
3.4.
Phân bố xác suất của lnGDP/ng
81
3.5.
Mối quan hệ giữa lnGDP/n -lny và lnGINI
82
3.6.
Mối quan hệ giữa lngini và vốn con người - h
82
tốt hơn.
Gần đây đã có một số nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và bất bình đẳng thu nhập. Tuy nhiên, các nghiên cứu hầu hết là nghiên cứu
định tính và các nghiên cứu định lượng chủ yếu mới tập trung nghiên cứu ở
tầm quốc gia. Tại các địa phương, nhất là ở tỉnh Ninh Thuận, việc nghiên cứu
mối quan hệ của tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập còn ít. Bắt
2
nguồn từ thực tế trên, em quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu tác động của
tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận”.
Thời gian gần đây đã có một số nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập. Tuy nhiên, các nghiên cứu đã được
công bố chủ yếu là nghiên cứu định tính và các nghiên cứu định lượng chủ
yếu mới tập trung nghiên cứu ở tầm quốc gia. Các nghiên cứu về mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập trên quy mô một
tỉnh/thành phố còn rất ít. Đặc biệt, nghiên cứu về vấn đề này cho riêng địa bàn
tỉnh Ninh Thuận là chưa có. Bắt nguồn từ thực tế trên, em quyết định chọn đề
tài: “Nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập
trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát là nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế đến
bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở tỉnh Ninh Thuận.
Mục tiêu cụ thể nghiên cứu cần hướng tới, gồm:
- Hệ thống cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về tác động của tăng trưởng
kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập;
- Thực trạng tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập ở Ninh
Thuận trong thời gian qua;
- Phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế đến bất bình đẳng trong
phân phối thu nhập ở Ninh Thuận;
Về mặt thực tế, đây là một trong những số ít nghiên cứu ở Việt Nam
nói chung và tại tỉnh Ninh Thuận nói riêng lượng hóa được mối quan hệ của
tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập cũng như tác động của tăng
trưởng kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập, cung cấp một căn cứ tham khảo
cho việc hoạch định các chiến lược tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập
trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận cũng như nghiên cứu sâu về chủ đề này cho từng
tỉnh, thành phố khác.
Luận văn chứng minh tầm quan trọng của việc hoạch định chính sách
trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng
thu nhập theo hướng tiến bộ.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1. Giáo trình kinh tế phát triển.
Chủ biên: PGS. TS. Bùi Quang Bình.
4
Trong giáo trình này, em tập trung nghiên cứu chương 1 và chương 12
“tăng trưởng kinh tế và các vấn đề xã hội” để rút ra các lý luận nhằm làm rõ
các vấn đề trong luận văn của mình. Các phần này giúp em có được một số
kiến thức sau:
- Khái niệm và đo lường tăng trưởng kinh tế.
- Các mô hình tăng trưởng kinh tế.
- Thế nào là phân phối thu nhập.
- Phân phối thu nhập theo quy mô.
- Đánh giá tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
- Các lý thuyết về sự bất bình đẳng và nghèo khó.
Tăng trưởng kinh tế và các vấn đề xã hội là một trong những vấn đề
quan trọng trong các giáo trình về Kinh tế Phát triển. Theo cách tiếp cận này
phát triển và phúc lợi con người có quan hệ mật thiết với nhau, và vấn đề đặt
ra là sự tăng trưởng và phát triển có cải thiện điều kiện sống cho con người
nhiên, sau đó, các nghiên cứu sử dụng số liệu tốt hơn và kỹ thuật ước lượng
tiên tiến hơn đã thách thức những kết quả ban đầu và kết luận rằng, dĩ ít là với
các nước đang phát triển, tăng trưởng kinh tế nhanh hơn đi cùng với bất bình
đẳng cao hơn.
- Các nghiên cứu sử dụng số liệu quốc tế chéo và chuỗi thời gian:
Những nghiên cứu theo hướng này đã sử dụng số liệu về GDP thực tế
bình quân đầu người, các thước đo bất bình đẳng thu nhập và các biến điều
kiện khác để khảo sát mối liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng
thu nhập. GDP bình quân đầu người ban đầu của các quốc gia cũng được đưa
vào với tư cách là biến điều kiện, bởi vì các nước có GDP bình quân đầu
người thấp hơn thường tăng trưởng nhanh hơn so với các nước có GDP bình
quân đầu người cao. Ngoài ra, các biến điều kiện khác như trình độ học vấn,
đầu tư vốn vật chất, những thay đổi t giá thương mại và các biến chính trị-xã
6
hội (chẳng hạn như chỉ số tham nhũng hay dân chủ) cũng được coi có tương
quan với tăng trưởng kinh tế trong nhiều nghiên cứu khác.
Các nghiên cứu đầu tiên của Alesina và Rodrik vào năm 1994, Persson
và Tabellini vào năm 1994 hay của Perotti vào năm 1996 cho thấy các quốc
gia có mức bất bình đẳng thấp hơn có xu hướng tăng trưởng nhanh hơn. Đặc
biệt, nghiên cứu của Persson và Tabellini đã tìm ra bằng chứng ủng hộ cho mô
hình kinh tế chính trị của họ. Họ ước tính các phương trình hồi quy trên hai bộ
số liệu là chuỗi số liệu lịch sử từ năm 1830 đến năm 1985 của 9 quốc gia và
chuỗi số liệu sau chiến tranh của 56 quốc gia từ năm 1960 đến 1985. Với các
chuỗi lịch sử, hệ số cho t lệ thu nhập của nhóm 20% giàu nhất mang giá trị âm
và có ý nghĩa thống kê. Theo họ, kết quả này hàm ý bất bình đẳng thu nhập
làm giảm tốc độ tăng trưởng do làm tăng áp lực phải phân phối lại. Tuy nhiên,
một trong những biến then chốt trong mô hình kinh tế chính trị của họ là t lệ
dân số có quyền bỏ phiếu lại không tác động đáng kể đến tăng trưởng như mô
bình đẳng hơn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên số liệu chéo giữa nhiều
quốc gia có trình độ phát triển kinh tế và bất bình đẳng rất khác nhau. Nghiên
cứu đầu tiên toàn diện nhất dựa trên số liệu chéo quốc tế là của Perotti vào
năm 1996. Ông đã xem xét chi tiết mối liên kết giữa tăng trưởng kinh tế và
bất bình đẳng phụ thuộc ra sao vào chính sách tài khoá, bất ổn xã hội và chính
trị, cùng với tính không hoàn hảo của thị trường vốn thông qua ảnh hưởng đến
đầu tư cho vốn nhân lực, giáo dục và t lệ sinh. Kết luận tổng quát của ông là
có mối liên kết mạnh giữa bất bình đẳng, bất ổn xã hội và chính trị và
tăng trưởng kinh tế với xã hội công bằng hơn có t lệ sinh thấp và t lệ đầu tư
cao cho giáo dục. Cả hai đều được phản ánh trong t lệ tăng trưởng cao hơn.
Một vài năm sau khi các nghiên cứu trên được công bố, Li và Zhou
(1998), Barro (1999), và Forbes (2000) đã thách thức những kết quả này. Li
và Zhou sử dụng số liệu mảng từ 46 quốc gia và kết luận rằng bất bình đẳng
8
thu nhập có mối tương quan dương và thường có ý nghĩa thống kê với tăng
trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi họ ước tính phương trình hồi quy số liệu chéo
dựa trên tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm từ năm 1960 đến năm 1990
giữa 34 đến 42 quốc gia, hệ số của chỉ số Gini mang giá trị âm và có ý nghĩa
thống kê như trong các nghiên cứu khác sử dụng số liệu chéo, giống như kết
quả của Alesina và Rodrik. Vì vậy, họ cho rằng mối tương quan dương giữa
bất bình đẳng và tăng trưởng trong các nghiên cứu trước đó là do sử dụng số
liệu chéo có kết quả trái ngược với sử dụng số liệu mảng.
Vào năm 1999, Baro là một trong những người tiên phong trong các
nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng và nghiên cứu của ông là một thách
thức lớn đối với các kết quả trước đó. Baro đã sử dụng bộ số liệu của khoảng
100 quốc gia để ước tính một mô hình tăng trưởng cho các quốc gia đó trong
3 giai đoạn 10 năm. Ông phát hiện mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và bất
bình đẳng, được đo bằng hệ số Gini, là phi tuyến. Đặc biệt, ông nhận thấy bất
liệu chéo giữa các quốc gia vì đồng nhất hơn. Các quốc gia có sự khác nhau
về cấu trúc nên số liệu rất khó so sánh.
Vào năm 1997, Partridge đã nghiên cứu mối liên kết giữa tốc độ tăng
trưởng và bất bình đẳng giữa các bang của Hoa Kỳ trong ba thập k từ 1960
đến 1990. Nghiên cứu của ông bao gồm hai thước đo bất bình đẳng vào đầu
của mỗi giai đoạn 10 năm, hệ số Gini tính theo thu nhập của các hộ gia đình
trước thuế dựa trên số liệu điều tra dân số và t trọng thu nhập của các nhóm
phần năm thứ ba (tầng lớp trung lưu). Kết quả kinh tế lượng của ông chỉ ra
rằng cả hai thước đo bất bình đẳng có hệ số ảnh hưởng mang giá trị dương và
có ý nghĩa thống kê đến tốc độ tăng trưởng, mặc dù hai thước đo bất bình
đẳng có tương quan âm trong mẫu nghiên cứu của ông (t trọng thu nhập cao
hơn cho tầng lớp trung lưu thường ngụ ý một hệ số Gini thấp hơn. Vì vậy,
bang có tốc độ tăng trưởng cao hơn cũng đi cùng với bất bình đẳng cao hơn
10
(được đo bằng hệ số Gini), nhưng kết quả này chỉ được thoả mãn khi t trọng
thu nhập của nhóm trung lưu được giữ không thay đổi, và do đó phản ánh
những tác động của sự gia tăng t trọng thu nhập của các nhóm thu nhập cao
nhất trên cơ sở giảm t trọng thu nhập của các nhóm thu nhập thấp nhất.
Vào năm 2009, Frank giới thiệu một bộ dữ liệu mới, toàn diện về thước
đo bất bình đẳng cấp bang ở Mỹ trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 2004.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, ở nhiều bang, t lệ thu nhập của nhóm dân
cư giàu nhất khá ổn định trong một thời gian dài, sau đó bất bình đẳng thu
nhập tăng lên đáng kể trong những năm 1980 và 1990. Kết quả từ mô hình
thực nghiệm cho thấy, về bản chất, tăng trưởng và bất bình đẳng có mối quan
hệ dương trong dài hạn và nguyên nhân chủ yếu là do thu nhập được tập trung
vào tay những người giàu khi xã hội ngày càng phát triển.
Vào năm 2013, Dahlby và Ferede xem xét mối liên kết giữa tăng
trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập dựa trên bộ dữ liệu mảng giữa các
được các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm.
Nhóm nghiên cứu của ngân hàng thế giới gồm David Dollar và các
cộng sự, trong báo cáo nghiên cứu có tên “Economics Growth, Proverty and
Household welfare” năm 2004 đã sử dụng một cơ sở dữ liệu dồi dào về kinh
tế học vĩ mô và điều tra về hộ gia đình để phân tích các nội dung như: lý do
thành công của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và nâng
cao mức sống của hộ gia đình từ khi tiến hành đổi mới kinh tế đến năm 2000,
triển vọng phát triển kinh tế của Việt Nam, tác động của tăng trưởng kinh tế
đến phúc lợi của hộ gia đình được đo lường thông qua các biến số như chi tiêu
hộ gia đình cho tiêu dùng, y tế, giáo dục, hiệu quả của các chính sách của
Chính phủ trong cuộc chiến chống đói nghèo.
12
Đề tài “Chất lượng tăng trưởng kinh tế: Một số đánh giá ban đầu cho
Việt Nam” của Nguyễn Thi Tuệ Anh và ê Xuân Bá vào năm 2005 đã phân tích
một số yếu tố và khía cạnh nhằm đưa ra một số đánh giá ban đầu về chất
lượng tăng trưởng của tổng thể nền kinh tế Việt Nam. Các phân tích tập trung
vào ba vấn đề liên quan tới chất lượng tăng trưởng, bao gồm: hình thái đầu tư
vào hình thành tài sản vốn vật chất và vốn con người; nhận dạng mô hình tăng
trưởng của Việt Nam giai đoạn 1990-2003, đặc biệt chú trọng tới đóng góp
của vốn con người và phân tích diễn biến bất bình đẳng về phân phối thu nhập
cũng như ảnh hưởng của tăng trưởng và bất bình đẳng tới giảm t lệ nghèo.
Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu đã đề xuất một số kiến nghị. Nghiên
cứu có đưa ra bức tranh tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập ở Việt
Nam. Tuy nhiên khi chạy mô hình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở xem xét tác
động bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế đến nghèo đói ở Việt
Nam. Kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế đóng góp lớn vào giảm nghèo, trái
lại bất bình đẳng làm tăng nghèo đói nhưng ở mức thấp hơn.
Trong bài báo “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong nền kinh
Nam”)
Vào năm 2010, đề tài cấp nhà nước của Hoàng Đức Thân với tiêu đề
“Quan điểm và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ,
công bằng xã hội ở nước ta” đã phân tích, đánh giá thực trạng mối quan hệ
gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam; chỉ
ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó trong giai
đoạn 1986-2010, đặc biệt chú trọng vào thời kỳ 10 năm, từ 2001 đến 2010;
xây dựng và đề xuất hệ thống quan điểm, mục tiêu, giải pháp bảo đảm gắn kết
giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội trong thời kỳ mới ở Việt
Nam. Các kết luận đưa ra đều dựa trên các phân tích định tính và thống kê mô
tả.
14
Tuy nhiên, những công trình kể trên còn có các hạn chế sau:
- Các công trình này chủ yếu nghiên cứu định tính. Cần có nghiên cứu
tổng hợp cả định tính và định lượng về tác động giữa tăng trưởng kinh tế và
bất bình đẳng thu nhập.
- Các công trình trên chỉ mới bàn riêng hoặc về tăng trưởng kinh tế
hoặc về bất bình đẳng thu nhập. Cần nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và bất bình đẳng thu nhập mà trước hết là tác động của tăng trưởng
kinh tế đến bất bình đẳng thu nhập.
Đặc biệt, một nghiên cứu chuyên đề về tác động của tăng trưởng kinh tế
đến bất bình đẳng thu nhập trên địa bàn riêng tỉnh Ninh Thuận với một nghiên
cứu tổng hợp cả về định tính và định lượng là chưa có.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan lý luận về tác động của tăng trưởng kinh tế tới
bất bình đẳng thu nhập
không thể diễn ra nếu không có tăng trưởng kinh tế.
Khái niệm tăng trưởng trong kinh tế vĩ mô chỉ là sự gia tăng sản lượng
hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế liên quan đến sự gia
16
tăng thu nhập quốc dân thực trên đầu người, nghĩa là sự gia tăng giá trị hàng
hóa và dịch vụ được sản xuất ra trên mỗi đầu người trong một nền kinh tế sau
khi đã điều chỉnh lạm phát. Đây là một số đo mục tiêu tương đối về năng lực
kinh tế. (PGS. TS Bùi Quang Bình, Giáo trình kinh tế phát triển, trang 7)
Tốc độ tăng trưởng nhanh có thể làm cho một quốc gia nghèo đuổi kịp
và vượt qua quốc gia giàu hơn mình. Những nước tăng trưởng nhanh, thu
nhập bình quân đầu người được nâng cao sẽ tạo điều kiện cho xã hội phát
triển, đời sống vật chất và văn hóa của công chúng có cơ hội được tăng lên.
Ngược lại, một nước tăng trưởng chậm, thu nhập thấp thì sẽ phải đương đầu
với những mâu thuẫn liên miên trong quá trình chọn lựa các mục tiêu. Điều
đó lý giải vì sao tất cả các quốc gia đều quan tâm đến vấn đề tăng trưởng.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập thực tế
được tính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một
ngành) trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Tăng
trưởng kinh tế có thể biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số
tương đối (t lệ tăng trưởng). Trong phân tích kinh tế, để phản ánh mức độ mở
rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm tốc độ tăng trưởng kinh tế thường
được dùng. Đó là t lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên
cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc thời kỳ gốc.
Kết quả các hoạt động kinh tế hàng năm của nền kinh tế được tạo ra bởi
kết quả hoạt động sản xuất của tất cả người sản xuất trong nền kinh tế như
doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình…Hoạt động sản xuất của họ là quá trình
sử dụng các nguồn lực như tài nguyên, vốn, lao động, công nghệ …kết hợp
với nhau để tạo ra sản lượng. Quá trình này họ tích lũy mở rộng để tăng năng
nâng cao chất lượng cuộc sống thường không được quan tâm, một số giá trị
văn hoá, lịch sử truyền thống bị phá hu . Mặt khác, việc chạy theo mục tiêu