LỜI MỞ ĐẦU
Một xã hội phát triển toàn diện đòi hỏi không chỉ tăng trưởng kinh tế đơn
thuần mà còn cần tới sự phân phối công bằng hơn. Tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội là những vấn đề lớn mà bất cứ xã hội nào cũng đều phải quan tâm đến. Tăng
trưởng nhanh và thực hiện phân phối công bằng là những mục tiêu mà nhiều quốc gia
đều mong muốn đạt được. Giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập có sự liên
quan mật thiết với nhau. Tuy nhiên, cũng tồn tại nhiều cách nhìn nhận khác nhau đối
với mối liên hệ này. Do đó, cho đến nay chưa có một quốc gia nào xây dựng được
một mô hình giải quyết hoàn hảo mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội.
Việt Nam là một nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi
phải kết hợp chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội. Qua hơn
20 năm đổi mới theo nền kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập vào khu vực và thế
giới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất ấn tượng. Đó là tăng trưởng kinh tế
cao so với một số nước trong khu vực và thế giới, trong khi tỷ lệ đói nghèo ngày càng
giảm. Việt Nam ngày càng được biết đến như một nền kinh tế năng động hàng đầu
trong các nước đang phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế thị
trường sẽ tạo ra sự chênh lệch về trình độ và phát triển từ đó dẫn đến sự bất bình
đẳng và nếu vượt quá một giới hạn nào đó sẽ là một trong các nguyên nhân dẫn tới sự
mất ổn định. Và Việt Nam cũng không bị loại trừ khỏi quy luật đó, cùng với quá trình
tăng trưởng kinh tế, nhiều vấn đề của xã hội ngày càng trở nên bức xúc: khoảng cách
thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn, phân hoá giàu nghèo ngày càng gay
gắt… Chính vì vậy, yêu cầu của sự phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn đòi hỏi
bức thiết trong việc thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội, đặc biệt là công bằng
trong phân phối thu nhập. Do đó việc nghiên cứu lý luận tăng trưởng kinh tế, phân
phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường và vận dụng vào Việt Nam là hết sức cần
thiết, cấp bách và có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức được
tầm quan trọng của vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập: thực trạng và giải pháp ở Việt
Nam.”
Với đề tài này tôi chỉ tập trung nghiên cứu những lý thuyết về tăng trưởng, bất
bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Trong
phân tích kinh tế, để phản ánh mức độ mở rộng quy mô của nền kinh tế, khái niệm
tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được dùng. Đó là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng
tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản lượng của thời kỳ trước đó hoặc
thời kỳ gốc.
1.1.2. Đo lường tăng trưởng kinh tế
Bản chất của tăng trưởng kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền
kinh tế. Do đó nhìn chung, tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của
mức sản lượng quốc dân.
%100
Y
YY
g
1t
1tt
t
×
−
=
−
−
trong đó:
g
t
là tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t.
Y là GDP thực tế của thời kỳ t.
GDP là thước đo được chấp nhận rộng rãi về mức sản lượng của một nền kinh
tế. Ngoài ra tăng trưởng kinh tế còn được tính bằng phần trăm thay đổi của GDP thực
tế bình quân đầu người của thời kỳ nghiên cứu so với thời kỳ trước - thông thường
Lao động: là yếu tố đầu vào không thể thiếu của sản xuất. Trước đây chỉ quan
niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào, được xác định bằng số lượng dân số nguồn
lao động mỗi quốc gia. Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn
mạnh đến khía cạnh phi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực, đó là các lao động
có kỹ năng sản xuất, có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế…
Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đóng góp bởi quy
mô (số lượng) lao động, còn yếu tố vốn con người có vị trí chưa cao do trình độ và
chất lượng nguồn nhân lực của các nước này còn thấp.
Tài nguyên thiên nhiên: là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, được đưa
vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho xã hội càng nhiều càng tốt nhưng phải đảm bảo
chúng được sử dụng có hiệu quả, không lãng phí. Việc sử dụng tài nguyên là vấn đề
có tính chiến lược, lựa chọn công nghệ để có thể sử dụng hiệu quả và tiết kiệm tài
nguyên quốc gia là vấn đề sống còn của phát triển. Tài nguyên thiên nhiên có vai trò
quan trọng để phát triển kinh tế. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho các nước được thiên
nhiên ưu đãi có được những lợi thế so sánh. Từ đó phát triển các mặt hàng là thế
mạnh của nước mình.
Tiến bộ công nghệ là nhân tố tác động này càng mạnh đến tăng trưởng ở các
nền kinh tế ngày nay. Yếu tố công nghệ cần được hiểu đầy đủ theo hai dạng: thứ
nhất, đó là những thành tựu kiến thức, tức là nắm bắt kiến thức khoa học, nghiên cứu
đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm và cải tiến sản phẩm, quy trình công nghệ hay
thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quả nghiên cứu, thử nghiệm
4
vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sản xuất. Công nghệ sản
xuất cho phép quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng
nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật
liệu mới... có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất.
1.1.3.2. Nhân tố phi kinh tế
Khác với các yếu tố kinh tế, các nhân tố phi kinh tế có tính chất và nội dung tác
động khác. Ảnh hưởng của chúng là gián tiếp và không thể lượng hoá cụ thể được
mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế. Các nhân tố phi kinh tế không tác
1. 2. Những vấn đề lý luận về bất bình đẳng thu nhập
1. 2.1. Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập
Bất bình đẳng xã hội là sự không ngang bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích
đối với những cá nhân khác nhau trong nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội. Từ đó ta có
thể hiểu bất bình đẳng thu nhập là sự không ngang bằng nhau về thu nhập, của cải
của những cá nhân khác nhau trong xã hội. Bất bình đẳng về thu nhập tức là người
giàu sẽ giàu hơn còn người nghèo sẽ lại nghèo thêm. Sự phân phối thu nhập cho
người giàu nhiều hơn người nghèo. Người nghèo sẽ ít được hưởng lợi từ sự phát triển
của xã hội và việc tiếp cận về giáo dục và y tế đối với người nghèo sẽ ngày càng khó
khăn.
1.2.2. Nguyên nhân gây ra sự bất bình đẳng thu nhập
1. 2.2.1. Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản
Trong nền kinh tế thị trường, một bộ phận thu nhập của các cá nhân được
phân phối theo sở hữu các nguồn lực. Tuỳ theo các yếu tố sản xuất mà mỗi người có
được cũng như việc định giá các yếu tố đó trên thị trường cạnh tranh mà chúng có
ảnh hưởng đến mức thu nhập của mỗi cá nhân. Cách phân phối như vậy gọi là phân
phối theo sở hữu các nguồn lực hay còn gọi là phân phối thu nhập từ tài sản. Tài sản
của mỗi cá nhân có được là do nhiều nguồn hình thành khác nhau.
Thứ nhất, bất bình đẳng thu nhập do được thừa kế tài sản. Nhiều cá nhân sinh ra
đã là người giàu vì họ được thừa kế một tài sản lớn. Sự bất công về thu nhập do của
cải thừa kế tập trung vào tay một số ít người đã gây nhiều sự phản đối và một cách
được Chính phủ áp dụng để hạn chế sự bất bình đẳng này là đánh thuế cao vào tài sản
thừa kế và quà tặng.
Thứ hai, bất bình đẳng thu nhập do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm khác nhau của
các cá nhân ảnh hưởng lớn đến sự khác nhau về của cải tích luỹ được. Có những
người tiết kiệm nhiều để tích lũy một lượng của cải khi về hưu, tức là thu nhập của
họ sẽ tăng trong tương lai so với những người sẵn sàng tiêu dùng hết trong hiện tại.
Thứ ba, bất bình đẳng thu nhập do kết quả kinh doanh. Thực tế cho thấy nhiều
người giàu có vốn lớn, họ giám chấp nhận rủi ro, mạnh dạn đầu tư kinh doanh vào
những lĩnh vực lợi nhuận cao đồng thời rủi ro cũng cao như đầu tư chứng khoán, bất
bất bình đẳng thu nhập điển hình:
1.2.3.1. Đường Lorenz và hệ số Gini
Đường Lorenz và hệ số Gini là thước đo bất bình đẳng được sử dụng phổ biến
nhất. Đường Lorenz phản ánh tỷ lệ phần trăm của tổng thu nhập quốc dân cộng dồn
được phân phối tương ứng với tỷ lệ phần trăm cộng dồn của các nhóm dân số đã biết.
7
Còn hệ số Gini (g) được xác định bằng cách lấy diện tích hình A (hình 1), được xác
định bởi đường Lorenz và đường chéo 0A, chia cho diện tích nửa hình vuông có chứa
đường Lorenz đó (A+B).
g=A/ (A+B)
Từ đó: 0≤ g ≤ 1
Hình 1. Đường Lorenz và hệ số Gini
100%
A
100% Trong trường hợp thu nhập được phân phối tuyệt đối bình đẳng thì bao nhiêu phần
trăm dân số sẽ có tương ứng với bấy nhiêu phần trăm thu nhập. Khi đó, đường
Lorenz sẽ trùng với đường chéo OA của hình vuông, ứng với hệ số Gini g= 1. Còn
nếu toàn bộ thu nhập được phân phối cho một người và những người khác không có
chút thu nhập nào, đường Lorenz sẽ chạy theo cạnh đáy và cạnh bên phải của hình
vuông, đó là trường hợp bất bình đẳng tuyệt đối, ứng với g= 0. Trên thực tế, hệ số
Gini cho các nước có phân phối thu nhập chênh lệch lớn nằm giữa 0,5 và 0,7 còn
những nước có phân phối tương đối công bằng thì hệ số Gini nằm trong phạm vi 0,2
đến 0,35.
1.2.3.3. Tiêu chuẩn “40” World Bank
World Bank (2002) đề xuất chỉ tiêu đánh giá tình trạng bất bình đẳng: tỷ lệ
thu nhập chiếm trong tổng thu nhập dân cư của 40% dân số có mức thu nhập thấp
tạo ra một xã hội hài hoà giữa lợi ích cá nhân và công cộng. Như vậy, phân phối thu
nhập công bằng vừa là tiền đề để tạo ra ổn định xã hội, vừa là động lực lớn cho tăng
trưởng kinh tế bền vững.
Trên thế giới có rất nhiều lý thuyết xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và bất bình đẳng.
1.3.1. Lý thuyết chữ “U ngược” của Simon Kuznets (1955)
Lý thuyết bàn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng, nghĩa là
“mức độ bất bình đẳng về thu nhập có hướng gia tăng trong các giai đoạn đầu của
phát triển kinh tế, sau đó sẽ giảm bớt đi khi nền kinh tế đã đạt tới một trình độ phát
triển cao hơn”. Bigsten và Levin, 2001 đã nghiên cứu lý thuyết này và cho rằng nếu
bất bình đẳng có thể làm động lực cho tăng trưởng tốt hơn, rồi từ đó tạo ra cơ hội và
điều kiện để xoá đói giảm nghèo nhanh hơn thì bất bình đẳng là điều kiện chấp nhận
được. Với quan điểm này, trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế của các nước kém
9
phát triển, tình trạng bất bình đẳng sẽ gia tăng mạnh. Nhà nghiên cứu Ahlwalia
(1976) đã sử dụng số liệu phân phối thu nhập của hơn 60 quốc gia, đã đi đến một kết
luận tương tự một cách cụ thể hơn và kết quả điều tra bằng các số liệu đã cho thấy
bất bình đẳng đã gia tăng mạnh ở giai đoạn phát triển ban đầu rồi sau đó bị đảo
ngược lại ở giai đoạn phát triển cao hơn. Nguyên nhân của tình trạng đảo ngược này
là do sự chuyển dịch cơ cấu ngành trong sản xuất, tăng cường giáo dục, đào tạo tay
nghề và sự biến đổi về dân số. Dù só sự gia tăng bất bình đẳng ở giai đoạn đầu phát
triển, nhưng đã không làm trầm trọng hơn tình trạng nghèo khó tuyệt đối trong xã hội
nói chung.
1.3.2. Lý thuyết phân tích kinh tế chính trị của Alesina và Rodrik (1994);
Persson và Tabellini (1994); Bertola (1993); Perotti (1992):
Mô hình này cố gắng để xây dựng một cầu nối giữa lý thuyết tăng trưởng nội
sinh của nền kinh tế và lý thuyết chính trị nội sinh. Trong xã hội dân chủ, mức thuế
được quyết định bởi các cử tri trung bình. Thuế được giả định là tỉ lệ thuận với thu
nhập và chi tiêu công như các khoản thu thuế lũy tiến được phân phối lại cho tất cả
mọi người dân. Do đó, lợi ích người nghèo nhận được thì lớn hơn lợi ích của người
1.3.4. Lý thuyết liên kết của Benabou (1996)
Mô hình này cung cấp một khuôn khổ tích hợp trong đó các tác động của việc tái
phân phối đến sự tăng trưởng không nhất thiết là tuyến tính. Có tác động hai chiều:
Tái phân phối là tốt nếu công khai chi tiêu cho tài chính giáo dục trong một thế giới
với thị trường vốn không hoàn hảo, và sẽ là xấu nếu như nó chỉ chuyển khoản thu
nhập từ người giàu sang người nghèo vì nó làm giảm lợi nhuận ròng để đầu tư của
những người giàu. Do đó, tốc độ tăng trưởng là hình chữ “U ngược’ đối với tái phân
phối và phân phối là hình chữ U đối với bất bình đẳng.
1.3.5. Lý thuyết bất ổn định về chính trị xã hội của Alesina (1996);
Benhabib và Rustichini (1996); Grossman và Kim (1996); Fay (1993)
Mô hình này nhấn mạnh những hệ quả của sự bất bình đẳng đến sự bất ổn định
chính trị và tình trạng bất ổn định xã hội. Theo mô hình bất ổn kinh tế chính trị, bất
bình đẳng là một yếu tố quan trọng quyết định sự bất ổn của chính trị- xã hội. Và
điều này đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng thấp hơn dự kiến thông qua đầu tư trở
lại. Cụ thể, mâu thuẫn bất bình đẳng xã hội trầm trọng thêm và lần lượt làm cho
quyền sở hữu trở nên ít an toàn hơn và làm giảm tăng trưởng. Hơn nữa, sự tham gia
của người nghèo trong công tác chống tội phạm và các hành động chống lại xã hội đã
cho thấy sự lãng phí trực tiếp các nguồn lực. Vì thời gian và năng lượng của bọn tội
phạm này không dành cho những nỗ lực sản xuất. Nỗ lực phòng ngự của những nạn
nhân tiềm năng cũng là một đại diện thêm nữa cho sự mất mát của các nguồn tài
nguyên.
11
1.3.6. Lý thuyết đối với vấn đề sinh sản và giáo dục của Perotti (1996)
Theo mô hình kinh tế chính trị, bất bình đẳng có hiệu ứng tiêu cực đến tăng
trưởng kinh tế thông qua các biến dạng của các quyết định của hộ gia đình về giáo
dục và sinh sản. Cha mẹ có phải tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực của các hộ gia
đình thông qua sự cải tiến về chất lượng (giáo dục) hoặc số lượng (khả năng sinh sản)
của con cái. Kể từ khi giáo dục có chi phí bằng thu nhập đã được định trước tại
trường học, các hộ gia đình nghèo không đầu tư vốn con người. Do đó một xã hội mà
trong đó có sự bất bình đẳng cao sẽ có một số lượng tương đối lớn các hộ nghèo
bình quân giai đoạn 1991- 2009 là 7,45%/ năm.
Biểu đồ tốc độ tăng trưởng kinh tế qua các năm
6.5
3.4
4.6
2.7
5.1
6
8.6
8.1
8.8
9.5
9.4
8.8
5.8
4.8
6.7
6.8
7
7.3
7.8
8.4
8.2
8.5
6.25
5.3
0
1
2
3
cơ chế thị trường. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển mạnh mẽ, đạt đỉnh điểm
vào năm 1995 (9,54%).Sự tăng trưởng nhanh trong giai đoạn này là do tác động của
nhiều cải cách lớn trong nước như đầu tư, tín dụng, ngân hàng … và do sự gia tăng
mạnh mẽ của thương mại và đầu tư nước ngoài từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
13
đặc biệt Việt Nam còn gia nhập ASEAN năm 1994 và AFTA năm 1995 do đó có các
nguồn vốn ODA giúp Việt Nam thực hiện những điều chỉnh cơ cấu quan trọng bước
đầu.
Giai đoạn 1997- 1999 là khoảng thời gian tốc độ tăng trưởng kinh tế có chiều đi
xuống, do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ Châu Á gây ra sự giảm
sút đột ngột về thương mại và đầu tư. Nền kinh tế Việt Nam tuy không chịu ảnh
hưởng trực tiếp nhưng nguồn vốn FDI suy giảm và sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt
trên các thị trường xuất khẩu thực sự tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế giảm đáng kể trong giai đoạn này, từ 8,2% năm 1997 xuống 4,8% năm
1999. Bình quân cả giai đoạn, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7%.
Giai đoạn 2000- 2007 nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng trở lại. Sau khi cuộc
khủng hoảng tài chính- tiền tệ Châu Á đã lắng xuống, cùng các chương trình cải cách
hướng vào cải tổ cơ cấu kinh tế, khuyến khích kinh tế trang trại và cải cách phân phối
sản phẩm đã đưa nền kinh tế trở lại đà tăng trưởng, từ 6,8% năm 2000 lên 8,5% năm
2007.
Từ năm 2008 đến nay nền kinh tế lại suy giảm do những bất ổn kinh tế vĩ mô
trong nước và ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới. Năm 2008, tốc độ tăng
trưởng kinh tế chỉ đạt được 6,5%; đến năm 2009 giảm xuống còn 5,3%.
Bên cạnh những thành tựu về tăng trưởng kinh tế chung, các ngành kinh tế của
nước ta trong những năm qua đã đạt được tăng trưởng cao, liên tục. Giá trị sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp của Việt Nam tăng liên tục trong cả giai đoạn 1991-2005, bình
quân 4,5%/năm trong giai đoạn 1991-1995; 5,7%/năm trong thời kì 1996-2000. Giai
đoạn 2001-2008, mặc dù nông nghiệp gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh… nhưng
nhờ thủy sản vẫn tăng khá, giá trị sản xuất của nhóm ngành nông- lâm nghiệp và thủy
sản vẫn đạt bình quân trên 5,4%/năm. Công nghiệp luôn có nhịp tăng cao hơn trong
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vào các hoạt động kinh tế. Tỷ trọng của khu vực
nhà nước có xu hướng giảm, từ 38,52% năm 2000 xuống còn 38,40% năm 2005 và
đến năm 2008 còn 34,35%. Tỷ trọng của khu vực ngoài nhà nước có những chuyển
biến không ổn định qua các năm, năm 2000 là 48,20%; năm 2005 là 45,61% và đến
năm 2008 tăng lên khoảng 46,97%. Còn tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài ngày càng tăng lên nhanh chóng, năm 2000 là 13,28% lên 15,99% năm 2005 và
đến năm 2008 tăng lên khoảng 18,68%. Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa học
công nghệ còn hạn chế nên tăng trưởng kinh tế ở nước ta vẫn chủ yếu dựa vào tăng
trưởng theo chiều rộng, dựa vào khai thác tài nguyên do đó sự tăng trưởng này chưa
thực sự vững chắc.
2.1.1.2. Hạn chế tăng trưởng kinh tế
15
Bên cạnh những thành tựu về tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng, nhìn chung
chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm qua vẫn còn nhiều hạn
chế. Cụ thể:
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu mới dựa vào tăng vốn, lao động và khai thác
các nguồn lực tự nhiên, tức là tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng.
Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế tuy
có tăng từ 22,58% giai đoạn 1998- 2002 lên 28,20% giai đoạn 2003- 2008 nhưng vẫn
chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nhiều so với các nhân tố khác.
Đóng góp của các yếu tố vào GDP (%)
Giai đoạn (năm) 1993- 1997 1998- 2002 2003- 2008
L 16,02 20,00 19,07
K 68,98 57,42 52,73
TFP 15,00 22,58 28,20
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trong tổng tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2003- 2008, yếu tố số lượng
vốn đã đóng góp tới 52,73%, yếu tố số lượng lao động đóng góp khoảng 19,07%, còn
yếu tố thứ ba đóng góp khoảng 28,2%. Tỷ trọng đóng góp của vốn và lao động cao,
gần hơn 2,5 lần so với TFP. Nguyên nhân là do trình độ công nghệ hiện đang sử dụng
thiếu thợ. Học sinh học lý thuyết nhiều nhưng khả năng vận dụng thực tiễn rất yếu.
Mô hình tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian qua dựa nhiều tăng
vốn đầu tư mà phần lớn là từ ngân sách nhà nước và các tập đoàn, tổng công
ty nhà nước
Kinh tế nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đầu tư, lúc cao nhất là 59% (năm
2000), lúc thấp nhất là 40% (năm 2007) nhưng đóng góp vào GDP lúc cao nhất chỉ là
40% (năm 1995) và đang trên đà sụt giảm, năm 2007 còn 36,4%. Thu ngân sách nhà
nước từ thu nội địa chỉ chiếm hơn 50%, còn lại là thu từ dầu thô và thuế xuất nhập
khẩu. Xuất khẩu chiếm tới 60% GDP của cả nước nhưng chủ yếu là hàng nguyên
liệu, hàng thô, hàng sơ chế, hàng gia công (chiếm tới ¾ tổng kim ngạch xuất khẩu)
do đó hiệu quả kinh tế thấp.
Hiệu quả vốn đầu tư theo thành phần kinh tế
1995 2000 2003 2005 2007
Toàn nền kinh tế 3,0 2,4 2,0 1,8 1,5
Kinh tế nhà nước 2,9 1,6 1,5 1,4 1,3
Kinh tế ngoài nhà nước 5,8 5,0 3,8 3,0 2,6
Kinh tế có FDI 3,6 4,3 3,7 3,3 1,6
Nguồn: Niên giám thống kê
Cơ cấu kinh tế so với từng giai đoạn đã có sự chuyển dịch tích cực nhưng
so với thế giới thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và lạc hậu
17