Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam 9Luanaj văn thạc sĩ) - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP LIÊN QUAN TỚI
MÔI TRƯỜNG: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế

PHẠM TRƯỜNG LONG

Hà Nội - 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường: Thực
trạng và giải pháp ở Việt Nam
Ngành: Kinh tế quốc tế
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 8310106

Họ và tên: Phạm Trường Long
Người hướng dẫn: TS Lý Hoàng Phú

Hà Nội - 2019


Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2019
Tác giả

Phạm Trường Long


iii
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT ....................................................................... v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ .............................................................................. vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ ....................................................................... vi
TÓM TẮT LUẬN VĂN ..........................................................................................vii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH
NGHIỆP LIÊN QUAN TỚI MÔI TRƯỜNG .......................................................13
1.1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp .........................................................13
1.1.1. Khái niệm .............................................................................................13
1.1.2. Đặc điểm ..............................................................................................20
1.1.3. Nội dung ...............................................................................................23
1.2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến môi trường .......... 30
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan
đến môi trường ...............................................................................................30
1.2.2 Nội dung của trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp liên quan tới môi
trường .............................................................................................................32
1.2.3. Vai trò của trách nhiệm xã hội Doanh nghiệp liên quan tới môi trường..... 33
1.3. Một số kinh nghiệm trên thế giới về thực thi các nội dung về trách nhiệm
xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ...................................................39
1.3.1. Tại Mỹ ..................................................................................................39

3.1. Cơ hội và thách thức đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam .....................................................79
3.1.1. Cơ hội................................................................................................................. 79
3.1.2. Thách thức ......................................................................................................... 87
3.2. Một số quan điểm định hướng của Đảng và Nhà nước có liên quan đến
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp về môi
trường ở Việt Nam hiện nay ...............................................................................89
3.2.1. Liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ................................... 90
3.2.2. Liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với môi trường ........ 92
3.3. Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan đến môi trường ..............................101
3.3.1. Các kiến nghị với nhà nước ........................................................................... 101
3.3.2. Các giải pháp cho doanh nghiệp .................................................................. 103
3.3.3. Các giải pháp cho người tiêu dùng............................................................... 107
Kết luận chương 3 ............................................................................................ 109
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 111
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 112


v
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt

Tên đầy đủ Tiếng Việt

1

BHTN


Doanh nghiệp

7

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

8

DNVVN

Doanh nghiệp vừa và nhỏ

9

DNXH

Doanh nghiệp xã hội

10

FDI

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

11

KTTT


Xã hội chủ nghĩa


vi
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 3.1: Mối tương quan giữa doanh nghiệp và xã hội trong việc thực hiện TNXH
của DN.......................................................................................................................94

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Trang

Hình vẽ 1.1: Mô hình kim tự tháp ............................................................................14
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong đặc điểm TNXH của DN .................20
Sơ đồ 1.2: Nội dung các trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ................................24


vii
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Với mục tiêu nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng trách nhiệm xã hội doanh
nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện hoạt động này, tác giả đã chọn đề tài “Trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp liên quan tới môi trường: Thực trạng và giải pháp ở Việt Nam” làm
đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. Trong luận văn tác giả thực hiện
nghiên cứu các nội dung sau:
Một là, nghiên cứu khái niệm, đặc điểm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp liên quan tới môi trường; Nội dung, vai trò
của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường; kinh nghiệm thực thi
ở trách nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở một số nước.

Những tiêu chuẩn TNXH đó, nếu doanh nghiệp không thực hiện, các đối tác, khách
hàng sẽ tẩy chay. Hơn nữa, trong quá trình hội nhập kinh tế, các hàng rào thuế quan
được bãi bỏ thay vào đó là những hàng rào phi thuế quan như hàng rào kỹ thuật, an
ninh con người.Chúng được lập ra nhằm bảo hộ cho hàng hóa nội địa. Doanh
nghiệp Việt Nam sẽ phải thực hiện hàng rào đó nếu muốn xuất khẩu hàng hóa ra thị
trường quốc tế. Vấn đề thực thi TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn
đề môi trường nói riêng là việc rất mới đối với doanh nghiệp Việt Nam, song đây là
xu hướng tất yếu khi Việt Nam bước vào quá trình hội nhập và phát triển kinh tế thị
trường. Việc thực thi TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn đề môi
trường nói riêng sẽ là một trong những giải pháp giúp các doanh nghiệp Việt Nam
thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo dựng uy tín, thiện cảm với đối tác và tạo
ra những sản phẩm có tính cạnh tranh để vươn tới thị trường khu vực và thế giới.
Các doanh nghiệp Việt Nam chủ động thực hiện TNXH của DN nói chung và


2
TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng sẽ góp phần tạo ra sản phẩm với
thương hiệu Việt vươn ra thị trường quốc tế.
Mặc dù là quốc gia đi sau trong việc tiếp cận vấn đề TNXH của DN nói
chung và TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng nhưng Việt Nam cần hiểu
đúng và cập nhật để hội nhập với các tiêu chuẩn về TNXH của DN nói chung và
TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng của thế giới, từ đó thực hiện tốt
TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng ngay
từ đầu. Vì vậy, nghiên cứu TNXH của DN với vấn đề môi trường cấp thiết cả về mặt
lý luận và thực tiễn để doanh nghiệp Việt Nam nhận thức đúng bản chất và thúc đẩy
việc thực hiện TNXH của DN nói chung và TNXH của DN với vấn đề môi trường
nói riêng. Việc thực hiện TNXH của DN với vấn đề môi trường nói riêng ở Việt
Nam đã đạt những kết quả, có hạn chế gì; những cơ hội và thách thức đối với việc
thực hiện TNXH của DN với vấ n đề môi trường ở Việt Nam ra sao; những định
hướng nào cho doanh nghiệp Việt Nam nâng cao hiệu quả việc thực hiện TNXH của

doanh nghiệp; được bầu ra hoặc được thuê để dẫn dắt doanh nghiệp theo cách mà cổ
đông muốn, đa phần là làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt, đồng thời tuân thủ các
quy tắc xã hội, về cơ bản, vốn đã được thể hiện trong luật. Đó là bản chất vì lợi
nhuận (for profit) của doanh nghiệp. Nếu nhà quản lý doanh nghiệp hành động một
cách “trách nhiệm” bằng việc cắt giảm giá thành sản phẩm của doanh nghiệp để
ngăn chặn lạm phát hoặc chi thêm tiền để giảm ô nhiễm môi trường hoặc tuyển
dụng người tàn tật làm việc thì điều đó đồng nghĩa với việc tiêu tiền của cổ đông
vào những lợi ích của xã hội và cũng có nghĩa làm tăng chi phí kinh doanh. Nếu
những hoạt động mang tính TNXH làm giảm lợi nhuận và cổ tức thì cổ đông sẽ là
người chịu thiệt. Nếu giá cả tăng do các hoạt động xã hội đó thì doanh nghiệp sẽ
mất khách hàng. Nếu khách hàng không chấp nhận giá cao và việc kinh doanh giảm
sút thì công việc kinh doanh có thể sẽ không tồn tại và trong trường hợp này thì tất
cả những người có liên quan đến doanh nghiệp sẽ gánh chịu rủi ro. Hơn thế nữa,
Friedman cho rằng, khi nhà quản lý doanh nghiệp chuyên nghiệp theo đuổi bất kỳ
điều gì ngoài lợi nhuận thì họ đang tự coi mình là những nhà hoạch định chính sách
không được ủng hộ. Ông đặt ra câu hỏi liệu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thành
thạo trong việc ra quyết định xã hội không. Những vị đại diện về chính trị được bầu
ra là để đưa ra các quyết định, chính sách. Vậy nên, theo Friedman, TNXH duy nhất
của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Luận điểm của Friedman là một “cái


4
phao” giúp các doanh nghiệp biện minh cho hành động không thực hiện TNXH nếu
doanh nghiệp chưa thấy cần thiết.
Thứ hai, doanh nghiệp vốn là một chủ thể có tư cách pháp nhân, nhưng là
một chủ thể “vô tri, vô giác” do con người tạo ra. Do đó, doanh nghiệp không thể tự
nhận thức và gánh vác nghĩa vụ đạo đức, vốn chỉ có con người mới có. Bởi vì, chỉ
có từng cá nhân con người mới có lương tâm để nhận thức sự việc đúng hay sai.
Thứ ba, TNXH thuộc lĩnh vực của nhà nước, là chủ thể cung cấp các dịch vụ
công, vì lợi ích công cộng, phi lợi nhuận. Chỉ có nhà nước mới có đủ thông tin để

những nhóm có các nguồn tài nguyên mang tính chất quyết định đối với sự tồn tại
của tổ chức. Theo học thuyết này, các doanh nghiệp cần phải nhận được sự đồng
thuận từ nơi nó đang hoạt động, nhất là sự đồng thuận từ nhóm cung ứng cho doanh
nghiệp những nguồn tài nguyên chủ chốt. Tiêu chí để đánh giá doanh nghiệp không
chỉ liên quan đến tính hiệu quả và khả năng sinh lời của nội bộ doanh nghiệp mà
còn là những tiêu chí của những chủ thể bên ngoài quy định cho doanh nghiệp. Ví
dụ, doanh nghiệp muốn hiện diện tại một địa phương nào đó để khai thác nguồn tài
nguyên tại chỗ, phục vụ cho hoạt động của mình thì họ cần phải có chính sách về
nguồn nhân lực tại chỗ, phải xây dựng cơ sở hạ tầng như: đường, trường học, tạm y
tế theo yêu cầu của nhà chức trách địa phương. Doanh nghiệp thực hiện TNXH là
để đáp lại sức ép cũng như mong đợi của các tác nhân cung ứng các nguồn tài
nguyên phục vụ cho sự tồn tại của doanh nghiệp.
Học thuyết về các bên liên quan (stakeholder theory): Tác giả R. Edward
Freeman trình bày học thuyết này trong tác phẩm: "Strategic Management: A
Stakeholder Approach" (Quản trị chiến lược: Một cách tiếp cận từ các bên liên quan) (R.
Edward Freeman, 1984). Sau học thuyết của M. Friedman, cùng với sự xuất hiện của
nhiều trào lưu xã hội, TNXH của DN ngày càng mang tính xã hội hơn. Ví dụ,
những yếu tố tác động đến môi trường sinh thái do các hoạt động khai thác, chế
biến và sản xuất công nghiệp gây ra, cũng như các vấn đề xã hội khác như bảo vệ
quyền bình đẳng giới, chống phân biệt đối xử, ô nhiễm môi trường… đã được đề
cập. Các tác giả thuộc trào lưu này kêu gọi doanh nghiệp giải quyết những lo lắng,
quan ngại, những yêu cầu cũng như những yêu sách được đưa ra bởi những cá nhân,
nhóm xã hội, cho dù những yêu cầu và đòi hỏi đó lớn hay nhỏ, quan trọng hay
không quan trọng, miễn là chúng chính đáng. Nói về học thuyết các bên liên quan, E.


6
Freeman cho rằng, TNXH của DN không chỉ được xem xét trong mối tương quan giữa
doanh nghiệp và cổ đông mà phải được mở rộng sang nhiều mối quan hệ khác. Ở đây,
doanh nghiệp đóng vai trò làm trung tâm trong tổng thể các mối quan hệ với các đối

phụ thuộc rất nhiều vào vị thế mà doanh nghiệp đó nắm giữ cũng như vào xã hội mà
ở đó doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình.
Thực tế, nếu giả định rằng, lợi ích của các bên liên quan hội tụ với nhau thì
tổng lợi ích của các bên liên quan đó cũng không thể tương xứng với lợi ích của xã
hội. Về mặt quốc gia, nhà nước là chủ thể có vai trò bảo vệ lợi ích chung, nhưng ở
tầm quốc tế, quyền lực này thuộc về ai là câu hỏi khó có thể trả lời được bằng lý
thuyết của các bên liên quan vì họ cho rằng, vai trò đó được trao cho các doanh
nghiệp đa quốc gia.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Lê Thanh Hà (2009), Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt
Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà
Nội. Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra bản chất của TNXH của DN, sự cần
thiết phải thực hiện TNXH của DN trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính
thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đặc trưng của một số bộ quy tắc phổ
biến và mức độ tương thích của chúng với pháp luật Việt Nam cũng như chỉ ra điều
kiện áp dụng TNXH ở Việt Nam hiện nay. Thông qua trình bày một số vấn đề có
tính cơ sở lý luận và thực tiễn về TNXH của DN nêu trên, tác giả Lê Thanh Hà đã
phân tích, đánh giá việc thực hiện TNXH của doanh nghiệp ở Việt Nam qua khảo
sát 15 doanh nghiệp của 5 ngành kinh tế điển hình và đề xuất các giải pháp thúc đẩy
việc thực hiện TNXH của DN tại các doanh nghiệp nói chung. Theo tác giả, nếu đặt
vấn đề thực thi TNXH của DN chỉ trong điều kiện Việt Nam bắt đầu gia nhập WTO
thì chưa đầy đủ. Những luận cứ mang tính thực tiễn ở Việt Nam của công trình này
giúp tác giả tham khảo để giải quyết nhiệm vụ đặt ra trong chương 2 là đánh giá
những thành công và hạn chế trong thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
ở Việt Nam.
Nguyễn Đình Tài và cộng sự (2009), Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ương, thực hiện đề tài khoa học cấp Bộ Tăng cường TNXH của DN đối với người
tiêu dùng và đối với môi trường ở Việt Nam vì sự phát triển bền vững. Đề tài trên đã
triển khai giải quyết bốn nhiệm vụ chính: Làm rõ cơ sở lý luận, ý nghĩa và vai trò


xây dựng kết cấu hạ tầng, công trình công cộng nơi doanh nghiệp đứng chân, xóa
đói giảm nghèo, hỗ trợ các đối tượng thuộc nhóm người dễ bị tổn thương. Những số


9
liệu cụ thể có trong các tham luận của toạ đàm này về hoạt động thực thi TNXH của
DN Việt Nam là cơ sở dữ liệu có ý nghĩa để tác giả tiếp cận phân tích, đánh giá khi
trình bày chương 2 về thực trạng thực thi TNXH của DN ở Việt Nam.
Hoàng Thị Hoa (2016),“TNXH của DN trong điều kiện kinh tế thị trường ở
Việt Nam hiện nay”, luận văn thạc sĩ đại học Kinh tế Quốc dân. Nghiên cứu TNXH
của DN là cam kết của doanh nghiệp nhằm mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp
cũng như các đối tác và đối tượng chịu sự tác động của doanh nghiệp theo chuẩn
mực đạo đức và pháp luật. Sau khi phân tích thực trạng thực hiện TNXH của DN
Việt Nam trong điều kiện kiến trúc thượng tầng (KTTT) tác giả đưa 4 phương
hướng: nâng cao nhận thức về vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy
thực hiện TNXH của DN; thực hiện TNXH phải đồng hành với sự phát triển kinh tế;
thúc đẩy việc thực hiện TNXH của DN phù hợp với chuỗi giá trị toàn cầu; gắn việc
thay đổi nhận thức về TNXH với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Lê Tuấn Bách (2015),“Cách thức để nhà nước điều tiết hiệu quả trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp” luận văn thạc sĩ đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đã
chỉ ra TNXH là trách nhiệm bắt buộc và trách nhiệm tự thân và khẳng định nhà
nước có vai trò rất lớn trong việc điều tiết TNXH của DN một cách phù hợp cần
phải dựa trên mối tương quan giữa lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích xã hội.
Trên cơ sở tiếp cận một số học thuyết, bài nghiên cứu nêu trên, tác giả có
thêm những luận cứ để nhìn nhận TNXH của DN dưới góc nhìn triết học. Mục đích
kinh tế luôn đóng vai trò quyết định, vì nếu doanh nghiệp không có lợi nhuận thì
khó có thể thực hiện được TNXH. Nhưng hoạt động TNXH của DN không chỉ bao
gồm các hoạt động kinh tế bởi nó luôn đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với sự vận
động của xã hội, chịu sự tác động của xã hội. Cho nên doanh nghiệp quan tâm đến
những vấn đề xã hội chính là thể hiện trách nhiệm đến môi trường hoạt động rộng

liên quan tới môi trường ở Việt Nam. Từ đó làm rõ những kết quả đạt được cũng
như những hạn chế và tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đưa ra những kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách
nhiệm xã hội doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam, trong bối cảnh có
những cơ hội và thách thức mới của doanh nghiệp ở Việt Nam và tuân theo định


11
hướng của Đảng và Nhà nước trong việc thực thi trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
liên quan tới môi trường ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
TNXH của DN với vấn đề môi trường ở Việt Nam hiện nay. Tác giả tập
trung nghiên cứu thực trạng, phân tích, đưa ra những kiến nghị và giải pháp về ba
nội dung chính của TXNH của doanh nghiệp liên quan tới môi trường ở Việt Nam:
nội dung thứ nhất là lập và thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường; nội dung thứ hai
là lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; nội dung thứ ba là khắc phục sự cố
môi trường.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu là ở Việt
Nam, ngoài ra luận văn có đề cập đến một số kinh nghiệm về thực thi TNXH của
DN liên quan đến môi trường tại vài quốc gia trên thế giới như: Mỹ, Đức, Trung
Quốc, Thái Lan.
Về thời gian, liên quan đến phần phân tích thực trạng thực thi TNXH ở Việt
Nam, các số liệu điều tra từ năm 2006 đến nay (cần nghiên cứu hiện tượng TNXH
của DN với vấn đề môi trường trong một quá trình để thấy sự vận động, phát triển
và xu hướng tất yếu của nó. Vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đối tượng khoảng
mười năm trở lại đây. Năm 2006 cũng là năm đánh dấu sự gia nhập WTO của Việt
Nam, khởi nguồn của trào lưu thực hiện TNXH của DN nói chung và TNXH của
DN với vấn đề môi trường nói riêng). Tuy nhiên các kiến nghị và giải pháp đưa ra

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH
NGHIỆP LIÊN QUAN TỚI MÔI TRƯỜNG
1.1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm
Hiện nay có quan điểm phổ biến cho rằng: TNXH DN dùng để chỉ các hoạt
động mang tính từ thiện, nhân đạo đơn thuần. Quan niệm này chưa đầy đủ và thiếu
chính xác, vì những lí do sau: thứ nhất, nó chỉ đề cập đến một loại hoạt động hướng
ngoại của doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, khi thực hiện TNXH của mình, doanh
nghiệp không chỉ hướng ra bên ngoài mà còn hướng đến lợi ích cho chính bản thân
họ thông qua các hoạt hướng đến nâng cao quyền lợi của người lao động, nâng cao
năng suất lao động; thứ hai, khi thực hiện các hoạt động nhân đạo, từ thiện doanh
nghiệp thường dùng công cụ truyền thông để quảng cáo cho hình ảnh và thương hiệu
của họ, các hoạt động này nằm trong kế hoạch marketing của chính doanh nghiệp.
TNXH đòi hỏi khả năng nhìn thấy trước và nhận về mình những hậu quả của
hành vi. Theo Đỗ Hoài Nam: “TNXH là sự ý thức của mọi chủ thể về nghĩa vụ, bổn
phận của mình đối với xã hội, với cộng đồng và với người khác; được biểu hiện thông
qua nhận thức và hành động cụ thể trong mối quan hệ giữa con người với con người,
giữa con người với tự nhiên. Về thực chất, TNXH được hình thành từ quyền và nghĩa
vụ của cá nhân đối với xã hội cũng như của xã hội đối với cá nhân” (Đỗ Hoài Nam,
2011). Cách hiểu trên đã đề cập đến sự nhận thức về bổn phận của chủ thể đối với
xã hội trong mối liên hệ với các chủ thể khác theo lợi ích, nhưng chưa thấy nhận
thức và hành động thực thi TNXH là một quá trình. Quá trình ấy có những chiều
hướng phát triển khác nhau, có khi đối lập nhau.
TNXH của DN là một vấn đề được nghiên cứu và phát triển ở các nước phát
triển trong một thời gian khá dài. Tuy nhiên, về mặt học thuật, khái niệm này đòi hỏi
cần có nhiều nghiên cứu, trao đổi, tranh luận để đi đến thống nhất về nội hàm cụ thể
trên cơ sở xem xét TNXH như là một hiện tượng xã hội. Từ đó mới có thể khái quát
được phạm vi nội dung TNXH mà doanh nghiệp không thể không thực hiện. Năm
1953, Howard R. Bowen là người đầu tiên đưa ra khái niệm TNXH của DN trong
công bố Social Responsibility of the businessman (TNXH của giới kinh doanh):

trả các tổ chức tín dụng và các cổ đông. Trách nhiệm kinh tế thể hiện qua hiệu quả
và tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ
động cơ tìm kiếm lợi nhuận. Trách nhiệm pháp lý (legal Responsibilities) là trách
nhiệm tuân thủ các đạo luật của Nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm “mã hóa” các
quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh
tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá
trị mà xã hội mong đợi ở họ. Trách nhiệm đạo đức (ethical Responsibilities) là tuân
thủ những niềm tin và chuẩn mực hành vi được thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Đó
là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được “mã hóa” vào văn
bản luật. Trách nhiệm tự nguyện (discretionary Responsibilities) hay trách nhiệm
nhân văn (philanthropic Responsibilities) là các nghĩa vụ đơn thuần tự nguyện được
doanh nghiệp thực hiện như quyên góp ủng hộ người kém may mắn trong xã hội,
đóng góp cho dự án cộng đồng… Caroll sắp xếp trách nhiệm này theo thứ tự ưu
tiên. Một doanh nghiệp trước hết phải tạo ra lợi nhuận để hoàn thành trách nhiệm
kinh tế của mình đối với cổ đông. Để tiếp tục tồn tại, doanh nghiệp phải tuân thủ
pháp luật, do đó phải hoàn thành các trách nhiệm pháp lý. Khi thỏa mãn hai trách
nhiệm cơ bản, doanh nghiệp phải tìm cách hoàn thành trách nhiệm đạo đức và trách
nhiệm tự nguyện. Trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tự nguyện của doanh nghiệp
đều không chịu sự ràng buộc pháp lý, song điểm khác biệt giữa hai loại trách nhiệm
này là mức độ đáp ứng các chuẩn mực xã hội mong đợi.
Caroll là người đầu tiên chia TNXH của DN thành các lớp khác nhau làm
cho khái niệm TNXH của DN vượt ra khỏi phạm vi kinh tế vươn tới phạm vi đạo
đức. Tuy nhiên, trong khái niệm của mình, ông không đề cập quá trình nhận thức
của doanh nghiệp về TNXH của DN và mục tiêu TNXH của DN hướng tới lợi ích
xã hội như thế nào. Bên cạnh đó, ông cũng chưa đề cập trách nhiệm bảo vệ môi
trường sống của con người.
Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) cho rằng, TNXH của DN là
sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững, không chỉ là trách nhiệm



hành động vì mục tiêu lợi ích, giá trị xã hội của một chủ thể doanh nghiệp theo bổn
phận là một thành viên xã hội.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status