ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN TIẾN LỰC
TƢ TƢỞNG VỀ CÁN BỘ TRONG TÁC PHẨM
“SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC” CỦA HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Đà Nẵng - Năm 2017
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN TIẾN LỰC
TƢ TƢỞNG VỀ CÁN BỘ TRONG TÁC PHẨM
“SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC” CỦA HỒ CHÍ MINH
VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60 22 03 01
Ngƣờ ƣớng
giúp đỡ cán bộ.................................................................................................23
1.2.6. Trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cần phải biết các nguyên
tắc trong chính sách cán bộ: Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán
bộ, thƣơng yêu cán bộ, phê bình cán bộ.........................................................24
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.................................................................................30
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở NƢỚC
TA HIỆN NAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA........................................31
2.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁN BỘ, CÔNG TÁC CÁN BỘ Ở NƢỚC TA
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.................................................................31
2.1.1. Các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác cán bộ ở nƣớc ta hiện nay.31
2.1.2. Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ ở nƣớc ta hiện nay.............37
2.2. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ
MINH..............................................................................................................50
2.2.1. Quá trình hội nhập quốc tế và kinh tế thị trƣờng đòi hỏi ngày càng
cao đối với phẩm chất đạo đức và năng lực ngƣời cán bộ với sự xuống cấp
đạo đức của cán bộ nƣớc ta hiện nay..............................................................50
2.2.2. Các nguyên tắc trong xây dựng đội ngũ cán bộ mặc dù đƣợc đề
cao nhƣng thực tiễn lại diễn ra rất nhiều bất cập............................................55
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.................................................................................59
CHƢƠNG 3. VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VỚI
VIỆC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY 60
3.1. PHƢƠNG HƢỚNG VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
CÁN BỘ TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Ở NƢỚC
TA HIỆN NAY................................................................................................60
3.1.1. Kiên định lập trƣờng, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ
BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN THẠC SĨ CỦA PHẢN BIỆN 1 VÀ PHẢN
BIỆN 2 (Bản s o)
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN (Bản chính)
1
MỞ ĐẦU
1. Tín
ấp t ết ủ đề tà
Coi trọng và thƣờng xuyên chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên
đủ đức, đủ tài là nhiệm vụ thƣờng xuyên và nét nổi bật trong công tác cán bộ
của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn luôn chú
trọng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên để có đủ sức
mạnh hoàn thành sự nghiệp vẻ vang của Đảng. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán
bộ và công tác cán bộ có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt
Nam, Ngƣời xác định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [38, tr. 269], và
“Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém”[38, tr.
240].
Kế thừa tƣ tƣởng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nƣớc ta
rất coi trọng công tác cán bộ, luôn quan tâm xây dựng, phát triển và nâng cao
chất lƣợng đội ngũ cán bộ, trong các cơ quan, tổ chức; coi cán bộ có vị trí chủ
thể của sự nghiệp cách mạng nƣớc ta do Đảng lãnh đạo; đó là lực lƣợng then
chốt bảo đảm cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Vấn đề xây dựng
và phát triển đội ngũ cán bộ theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh đã đƣợc khẳng định
rõ trong nhiều Văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nƣớc.
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VII tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định đối với nƣớc ta,
cơ quan, công chức nhà nƣớc chỉ đƣợc làm những gì pháp luật cho phép. Xây
dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cho từng loại cán bộ, công chức và hệ
thống tiêu chuẩn đánh giá, khen thƣởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức”.
Những văn kiện đó của Đảng là cơ sở chính trị để Nhà nƣớc thể chế hóa
thành chính sách, pháp luật cụ thể, đáp ứng đƣợc yêu cầu xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật cán bộ, công chức. Để thực hiện các nghị quyết đó của
Đảng, Nhà nƣớc đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhƣ Luật
3
cán bộ, công chức năm 2008 cùng hệ thống các văn bản quan trọng hƣớng
dẫn thi hành, Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17-9-2001 của Thủ tƣớng
Chính phủ phê duyệt chƣơng trình tổng thể cải cách hành chính nhà nƣớc giai
đoạn 2001 đến 2010... Những văn bản này tạo tiền đề lý luận và thực tiễn cho
việc hình thành đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch vững mạnh, vừa hồng,
vừa chuyên theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Mặc dù vậy, trƣớc những biến đổi nhanh chóng của thực tiễn công cuộc
đổi mới toàn diện đất nƣớc cùng với quá trình hội nhập quốc tế; với quá trình
xây dựng nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa; với việc đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, đã ảnh hƣởng sâu
sắc đến vấn đề cán bộ. Hạn chế đó đƣợc Nghị quyết Trung ƣơng 4 khóa XII
chỉ ra, đó là: Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có ngƣời đứng đầu chƣa thể
hiện tính tiên phong, gƣơng mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chƣa
thực sự sâu sát thực tế, cơ sở.Tình trạng suy thoái về tƣ tƣởng chính trị, đạo
đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chƣa bị đẩy lùi,
có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào
số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nƣớc. Thực tiễn đó đòi hỏi phải
nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề cán bộ, tìm hiểu thực trạng và
- Đề xuất một số phƣơng hƣớng và giải pháp vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về cán bộ trong quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ ở nƣớc ta hiện nay
3. Đố tƣợng và p ạm v ng
ên ứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những tƣ tƣởng cơ bản về
cán bộ trong tác phẩm “Sử đổ lố làm v ệ ” của Hồ Chí Minh và sự vận dụng
vào xây dựng đội ngũ cán bộ ở nƣớc ta hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát và xử lý số liệu từ năm 2010 đến nay
4. P ƣơng p áp ng ên ứu
Luận văn sử dụng phƣơng pháp luận của chủ nghĩa biện chứng duy vật
5
và chủ nghĩa duy vật lịch sử; ngoài ra luận văn còn sử dụng kết hợp một số
phƣơng pháp nghiên cứu khác nhƣ: phƣơng pháp kết hợp logich và lịch sử;
phƣơng pháp phân tích và tổng hợp.
5. Tổng qu n tà l ệu ng
ên ứu
Xung quanh tác phẩm “Sử đổ lố làm v ệ ” và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
cán bộ đã có một số công trình nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Có
những công trình đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ nội dung tác phẩm “Sử đổ lố
làm v ệ ”. Có những công trình đi sâu vào nghiên cứu toàn bộ nội dung tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, đồng thời cũng có công
giả đã đề cập và phân tích sáu nội dung cơ bản trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
về công tác cán bộ. Trên cơ sở những vấn đề trên, tác giả đề cập vấn đề thứ tƣ
là vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Tuy nhiên, trƣớc những
biến đổi nhanh chóng của thời đại và quá trình đổi mới toàn diện đất nƣớc
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nƣớc ta hiện nay thì tác phẩm không tránh
khỏi những hạn chế mang tính lịch sử.
Thứ hai, hƣớng nghiên cứu về công tác xây dựng cán bộ: tiêu biểu là
các đề tài, tác phẩm nhƣ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ đề tài khoa học
cấp nhà nƣớc KX.02, do GS Đặng Xuân Kỳ làm chủ nhiệm. Đề tài đƣợc triển
khai nghiên cứu trong 5 năm (1991 - 1995) và đã kiến giải khá toàn diện
những vấn đề cơ bản trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán
bộ. Đề tài cũng đề cập nhiều vấn đề có tính phƣơng pháp luận để xem xét và
xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay dƣới ánh sáng tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” của
các tác giả Phạm Ngọc Anh và Bùi Đình Phong đồng chủ biên, Nxb Lý luận
chính trị (2005). Tác phẩm này trình bày tập trung quan điểm của Hồ Chí
Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tiến trình cách mạng Việt
7
Nam. Nội dung xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và sự vận dụng tƣ
tƣởng đó trong công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng ở nƣớc ta hiện nay.
Trong tác phẩm, vấn đề cán bộ và công tác cán bộ cũng đƣợc bàn đến nhƣng
chỉ tiếp cận một phần ở phƣơng diện xây dựng, chỉnh đốn Đảng
“Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với việc giáo dục đội ngũ cán bộ,
đảng viên hiện nay” do các tác giả Hoàng Trang và Phạm Ngọc Anh (đồng
chủ biên) Nxb Chính trị quốc gia (2008).Trong đó, các tác giả đã trình bày ba
MỞ ĐẦU
Chương 1: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ trong tác phẩm “Sử
đổ
lố làm v ệ ”.
Chương 2: Thực trạng xây dựng đội ngũ cán bộ ở nƣớc ta hiện nay và
những vấn đề đặt ra.
Chương 3: Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ với việc xây
dựng đội ngũ cán bộ ở nƣớc ta hiện nay.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
9
CHƢƠNG 1
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ TRONG
TÁC PHẨM “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”
1.1. HỒ CHÍ MINH VỚI TÁC PHẨM “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”
1.1.1. Hoàn ản r đờ và mụ đí
ủ tá p ẩm
Cách đây gần 70 năm, tại chiến khu Việt Bắc, giữa lúc công tác cách
mạng đang bận trăm công ngàn việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian
và tâm huyết rất lớn viết xong cuốn sách mang tựa đề: “Sử đổ lố làm v ệ ” và
đầu năm 1948 tác phẩm quý giá này lần đầu tiên đƣợc nhà xuất bản Sự thật,
nay là nhà xuất bản Chính trị quốc gia in ấn và phát hành rộng rãi trong toàn
lực lƣợng ra để đƣa toàn dân quay về một hƣớng, nhằm vào một
mục đích đánh đuổi thực dân Pháp làm cho nƣớc thống nhất và độc
lập. Vì vậy mỗi một đồng chí và tất cả Đoàn thể phải: sáng suốt,
khôn khéo, cẩn thận, kiên quyết, siêng năng, nhất trí (…). Trong lúc
này tƣ tƣởng và hành động của mỗi một đồng chí rất có quan hệ
đến toàn quốc. Nếu một ngƣời sơ suất, một việc sơ suất là có thể
hỏng việc to, sai một ly đi một dặm [38, tr. 71].
Mặt khác, khi rà soát lại đội ngũ cán bộ Chính phủ do dân ta bầu, thông
qua Tổng tuyển cử 1946, đã có một bộ phận trình độ và năng lực chƣa đáp
ứng đƣợc yêu cầu, nhiệm vụ mới của cách mạng. Đó là những nguyên nhân
cơ bản để Ngƣời viết “Sử đổ lố làm v ệ ” nhằm nâng cao đạo đức cách mạng,
trình độ và năng lực lãnh đạo cách mạng cho đội ngũ cán bộ nhà nƣớc ta Nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân.
Để thiết lập cơ sở pháp lý cho nhà nƣớc kiểu mới của nhân dân , Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh về Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội lập hiến,
thông qua Hiến pháp, khẳng định quyền làm chủ đất nƣớc và các quyền tự
do, dân chủ khác của nhân dân. Đồng thời, Ngƣời cũng bắt tay ngay vào việc
11
chấn chỉnh bộ máy chính quyền các cấp, làm cho nó thể hiện đƣợc bản chất
tốt đẹp của chế độ xã hội mới. Trong Thƣ gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh,
huyện và làng, Ngƣời nhắc nhở rằng:
Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là
công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân , chứ không
phải để đè đầu dân nhƣ trong thời kỳ dƣới quyền thống trị của
Pháp, Nhật [37, tr. 56].
Hồ Chí Minh đã thẳng thắn vạch ra những lầm lỗi rất nặng nề trong một
số cán bộ, đó là các căn bệnh nhƣ trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ,
kiêu ngạo. Cuối cùng, Ngƣời đã tỏ thái độ rất nghiêm khắc: Ai đã phạm
Đảng, Chính phủ cần thực hiện để sử dụng và phát huy tốt vai, trò tác dụng
của đội ngũ cán bộ.
V. Cá lãn đạo: Hồ Chí Minh chỉ ra phƣơng pháp, cách thức để cán bộ,
đảng viên thực hiện tốt vai trò phụ trách (quản lý) công việc và lãnh đạo đối
với quần chúng nhân dân.
VI. C ống t ó b o : Hồ Chí Minh coi đây là một trong ba khuyết điểm
chính ở đội ngũ cán bộ, đảng viên, gây tác hại không nhỏ đối với công việc;
đây là khuyết điểm về cách nói, cách viết của họ khi tiếp xúc, quan hệ với
quần chúng nhân dân.
1.2. TƢ TƢỞNG VỀ CÁN BỘ TRONG TÁC PHẨM
Theo Luật Cán bộ, công chức Căn cứ Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 51/2001/QH10 định nghĩa:
Cán bộ là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ
nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở
13
trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi
chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau
đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ
ngân sách nhà nƣớc [57].
Tƣ tƣởng về cán bộ và công tác cán bộ là một trong những bộ phận quan
trọng cấu thành hệ thống tƣ tƣởng chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng vai trò của đội ngũ cán bộ,
luôn đặt công tác cán bộ lên vị trí hàng đầu trong các công tác của Đảng và
Nhà nƣớc. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ có giá trị lý
luận và thực tiễn to lớn bởi trong đó đã kết tinh tinh hoa của triết học chính trị
Trong tƣ tƣởng truyền thống phƣơng Đông có rất nhiều yếu tố để đánh
giá con ngƣời, trong đó, yếu tố đạo đức luôn là vấn đề trung tâm và đặt lên
hàng đầu khi đánh giá, xem xét một cá nhân. Là một con ngƣời sinh ra trong
gia đình Nho học, thấm nhuần truyền thống phƣơng Đông, Hồ Chí Minh đặc
biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức. Trong suốt cuộc đời hoạt động từ bài giảng
đầu tiên trong tác phẩm Đƣờng Ká mện đến bản Di chúc cuối cùng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dƣỡng đạo đức,
coi đạo đức là “cái gốc” của ngƣời cán bộ cách mạng.
Tầm quan trọng của đạo đức đối với cuộc sống, trong mối quan hệ xã hội
bao giờ cũng đƣợc Ngƣời đặt ở vị trí hàng đầu. Ngay từ khi Đảng ta chƣa ra
đời, không phải ngẫu nhiên những bài giảng đầu tiên của Ngƣời cho thế hệ
thanh niên yêu nƣớc đầu tiên ở nƣớc ta theo con đƣờng cách mạng vô sản là
những bài giảng về tƣ cách của ngƣời cách mạng. Trong trang đầu cuốn
Đƣờng Kách mệnh - Ngƣời đã nêu lên 23 yêu cầu về tƣ cách của một ngƣời
cách mạng trong ứng xử với mình, với ngƣời, với đời, với việc. Đó là những
chuẩn mực:
Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tƣ. Cả quyết sửa lỗi
mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi, Nhẫn nại (chịu khó).
Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tƣ. Không hiếu danh,
không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy
sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật. Đối với ngƣời phải:
Với từng ngƣời thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng
bày vẽ cho ngƣời. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét ngƣời.
Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng
cảm. Phục tùng đoàn thể [36, tr. 260].
15
Theo Hồ Chí Minh đạo đức là gốc của ngƣời cách mạng. Ngƣời cách
việc có hại đến Đảng, đến nhân dân; sẵn lòng chịu cực khổ trƣớc mọi ngƣời,
hƣởng hạnh phúc sau thiên hạ; không ham làm giàu, không e cực khổ, không
sợ oai quyền. Nghĩa là ngay thẳng, không có tƣ tâm, không làm việc bậy,
không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích
riêng nào khác mà phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều
ra sức làm cẩn thận, thấy việc phải thì làm, thấy việc không phải thì nói.
Không sợ ngƣời ta phê bình mình, mà phê bình ngƣời khác cũng phải đúng
đắn. Nhƣ vậy, nghĩa là một phẩm chất cơ bản của ngƣời cách mạng. Hiểu
nghĩa và làm theo nghĩa, ngƣời cách mạng sẽ có phƣơng châm sống và hành
động đúng đắn vì lợi ích chung của Đảng, của Tổ quốc. Trí là không bị mù
quáng, đầu óc trong sạch, sáng suốt, dễ hiểu lý luận, dễ tìm phƣơng hƣớng.
Biết xem ngƣời, biết xét việc. Biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho
Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc ngƣời tốt, đề phòng ngƣời gian. Trí là hiểu
biết, nhƣng những hiểu biết ấy phải gắn với nhiệm vụ cách mạng, phải giúp
cho ngƣời cách mạng hoàn thành nhiệm vụ, bổn phận của mình. Dũng là
dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa
chữa. Cực khổ khó khăn có gan chịu đựng. Có gan chống lại vinh hoa phú quí
không chính đáng. Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ
quốc. Không bao giờ rụt rè, nhút nhát. Nhƣ vậy, ngƣời cách mạng phải có
dũng, không có dũng thì không làm đƣợc cách mạng. Dũng giúp ngƣời cách
mạng vƣợt qua khó khăn thử thách, giám hy sinh bản thân mình vì cách
mạng. Tuy nhiên, dũng phải đi đôi với trí thông minh, chứ chỉ có dũng thôi thì
không thể thành công, bởi vũ dũng vô mƣu thì chỉ có thất bại mà không có
thành công. Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung
sƣớng, không ham ngƣời tâng bốc mình, là quang minh chính đại, không hủ
hoá.
17
Đã có nơi mở lớp huấn luyện, thế rất tốt. Song những lớp ấy còn
nhiều khuyết điểm. Thí dụ: huấn luyện cho cán bộ trong các cơ
quan hành chính mà không đụng đến công việc hành chính. Còn
dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực, học rồi không
dùng đƣợc [38, tr. 269].
Cán bộ có cán bộ đảng, cán bộ nhà nƣớc, cán bộ đoàn thể, cán bộ ở
Trung ƣơng, địa phƣơng và cơ sở... Huấn luyện cán bộ cũng phải có nội
dung, kế hoạch phù hợp với từng loại cán bộ trong những lĩnh vực cụ thể. Tuy
nhiên “Huấn luyện lý luận cho những cán bộ cao cấp, đến nay hoặc chƣa làm,
hoặc làm không đúng, lý luận và thực tế không ăn khớp với nhau, dạy theo
cách học thuộc lòng” [38, tr. 269-270] mà một trong những nguyên nhân cơ
bản của hạn chế, khuyết điểm trên do “Phần đông cán bộ là công nhân và
nông dân, văn hoá rất kém. Đảng chƣa tìm đủ cách để nâng cao trình độ văn
hoá của họ” [38, tr. 269].
Giải pháp để khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trên trong vấn đề
cán bộ chính là huấn luyện cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng huấn
luyện, đào tạo, bồi dƣỡng là khâu có ý nghĩa quyết định đến chất lƣợng cán
bộ, vì vậy phải làm thiết thực. Học để làm việc, nội dung huấn luyện phải rất
cụ thể tránh tình trạng học không thiết thực, học rồi không sử dụng đƣợc.
Nguyên tắc huấn luyện là phải chú ý đến kinh nghiệm, thực tế, lý luận phải đi
đôi với thực tế. Việc huấn luyện, bồi dƣỡng cán bộ gồm những nội dung huấn
luyện về nghề nghiệp, huấn luyện về chính trị, huấn luyện về văn hóa, huấn
luyện về lý luận.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ huấn luyện nghề nghiệp cho cán bộ là khâu
đầu tiên. Bởi, cho dù cán bộ ở bất kỳ chuyên môn nào, đảm nhiệm ngành
nghề nào cũng phải học cho thành thạo công việc ở môn ấy; đồng thời, phải
nghiên cứu những chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ; học