Xử lý ngữ liệu thành ngữ tục ngữ trong giảng dạy tiếng việt cho người nước ngoài - Pdf 52

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƢƠNG THỊ THU PHƢƠNG

XỬ LÝ NGỮ LIỆU THÀNH NGỮ TỤC NGỮ
TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT CHO
NGƢỜI NƢỚC NGOÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

HÀ NỘI – 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƢƠNG THỊ THU PHƢƠNG

XỬ LÝ NGỮ LIỆU THÀNH NGỮ TỤC NGỮ
TRONG GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT CHO
NGƢỜI NƢỚC NGOÀI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
Mã số: 60 22 01 13

NGƢỜI HƢỚNG DẪN: PGS.TS VŨ VĂN THI

HÀ NỘI – 2018


LỜI CAM ĐOAN


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tr : Trang
NXB: Nhà xuất bản

3


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU

6

1. Lý do chọn đề tài

6

2. Lịch sử nghiên cứu

7

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

10

4. Mục đích nghiên cứu

10



20

1.3.

Một số phƣơng pháp dạy tiếng Việt chủ yếu

32

1.4.

Tiểu kết

37

Chƣơng 2: KHẢO SÁT THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TRONG MỘT SỐ
TÀI LIỆU DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƢỜI NƢỚC NGOÀI

39

2.1. Thống kê

39

2.2. Phân loại ý nghĩa các câu thành ngữ, tục ngữ

58

2.3. Một vài nhận xét về xu hƣớng giới thiệu ngữ liệu thành ngữ tục ngữ trong
các sách dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài

3.4. Tiểu kết

87

KẾT LUẬN

89

TÀI LIỆU THAM KHẢO

91

PHỤ LỤC

98

5


LỜI MỞ ĐẦU
Ngƣời nƣớc ngoài học tiếng Việt không chỉ để biết và sử dụng tiếng
Việt mà còn muốn thông qua học tiếng Việt để hiểu thêm về con ngƣời và văn
hóa Việt Nam. Dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài cũng chính là góp phần
quảng bá văn hóa Việt, do đó ngƣời dạy tiếng Việt là ngƣời có vai trò quan
trọng trong việc đƣa hình ảnh, văn hóa của đất nƣớc đến với các học viên
quốc tế. Thành ngữ, tục ngữ trong tiếng Việt góp phần làm phong phú thêm
vốn từ trong tiếng Việt và phong cách của ngƣời nói; đồng thời phần nào thể
hiện, phản ánh văn hóa và phản ánh một phần đời sống của ngƣời dân Việt.
Việc vận dụng đúng và tốt thành ngữ có thể đƣợc coi là một phần của thƣớc
đo cho sự hiểu biết và khả năng sử dụng tiếng Việt. Đƣợc đánh giá cao khi sử

trình dạy học tiếng Việt của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các công trình nghiên cứu đi trƣớc, chúng tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài: “Xử lý ngữ liệu thành ngữ tục ngữ trong giảng dạy
tiếng Việt cho người nước ngoài”. Đây là một đề tài khá mới mẻ và có nhiều
điểm khác so với các công trình nghiên cứu trƣớc đó. Sở dĩ có thể khẳng định
điều đó bởi qua sự tìm hiểu, thống kê chúng tôi thấy vấn đề này đã đƣợc tác
giả đi trƣớc mới nghiên cứu ở những vấn đề, khía cạnh sau:
Thứ nhất: Tập hợp và giải thích các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt. Đây
là công trình nghiên cứu của các tác giả làm từ điển. Tác giả cuốn Thành ngữ
- tục ngữ Việt Nam (2007) đã tập hợp đƣợc rất nhiều các câu thành ngữ, tục
ngữ Việt Nam rất phong phú và đa dạng. Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam là
một kho tàng vô cùng quý giá của tiếng nói dân tộc đƣợc truyền từ đời này
qua đời khác, qua hàng nghìn năm lịch sử. Các tác giả cuốn Từ điển Thành

7


ngữ - tục ngữ Việt Nam (2007), NXB Văn hoá thông tin do Đặng Hồng
Chƣơng (chủ biên) cũng đã tập hợp đƣợc số lƣợng những câu thành ngữ, tục
ngữ quen thuộc của nƣớc ta và giải thích ý nghĩa của các câu thành ngữ, tục
ngữ đó. Các câu thành ngữ, tục ngữ này là một kho báu của văn hoá dân tộc,
đã thể hiện đƣợc những đặc trƣng độc đáo của tƣ duy dân tộc, quan điểm
thẩm mỹ, đạo lý làm ngƣời, luật đối nhân xử thế, thái độ đối với cái thiện, cái
ác... Ngoài ra còn có cuốn Từ điển thành ngữ tục ngữ ca dao Việt Nam của tác
giả Việt Chƣơng đã tổng hợp những câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ trong đó
có một số thành ngữ Hán Việt tham khảo.
Thứ hai: Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc của thành ngữ, tục ngữ. Chẳng
hạn theo Đỗ Xuân Thảo - Lê Hữu Tỉnh tác giả cuốn sách Giáo trình Tiếng
Việt 2 đã đƣa ra khái niệm và đặc điểm của cụm từ cố định. Theo tác giả

phận cơ thể ngƣời thƣờng gặp để tiếp cận với văn hoá ngƣời Việt qua ngôn
ngữ tiếng Việt. (Tạp chí ngôn ngữ và đời sống, Hội ngôn ngữ học Việt Nam
(2008)).
Rõ ràng là cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ
thể về phát triển vốn thành ngữ, tục ngữ cho sinh viên nƣớc ngoài học tiếng
Việt. Trong đề tài, chúng tôi sẽ thống kê, phân loại các thành ngữ, tục ngữ
trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài và đƣa ra một số
biện pháp giúp sinh viên phát triển vốn thành ngữ, tục ngữ của mình. Chúng
tôi thực hiện đề tài này mong muốn tìm hiểu tính chất và ý nghĩa của các
thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng văn hoá dân gian phong phú và đa dạng của
dân tộc. Qua đó góp phần nâng cao chất lƣợng giảng dạy các thành ngữ, tục
ngữ cho sinh viên là ngƣời nƣớc ngoài học tiếng Việt.

9


3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt cho mình nhiệm vụ trọng tâm là thống kê, phân loại các
thành ngữ, tục ngữ trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.
Đề xuất việc lựa chọn những thành ngữ, tục ngữ thông dụng, phân định các
thành ngữ, tục ngữ vào trong các giáo trình thuộc các bậc học một cách hợp
lý. Từ đó áp dụng vào thực tiễn giúp giảng dạy thành ngữ, tục ngữ cho ngƣời
nƣớc ngoài và đề xuất việc đƣa và giải thích cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ
trong các giáo trình thuộc các trình độ.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là khảo sát, nghiên cứu thực trạng việc
đƣa và hƣớng dẫn những vấn đề cơ bản liên quan đến thành ngữ, tục ngữ. Từ
đó đƣa ra một số ý kiến về dạy thành ngữ, tục ngữ cho đối tƣợng là ngƣời
nƣớc ngoài học tiếng Việt và đƣa ra các phƣơng pháp dạy phù hợp, giúp cho
việc giảng dạy và biên soạn các giáo trình tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
 Tiếng Việt cơ sở dành cho ngƣời nƣớc ngoài – quyển 2, (2013),
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
 Tiếng Việt nâng cao dành cho ngƣời nƣớc ngoài – quyển 1,
(2014), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
 Tiếng Việt nâng cao dành cho ngƣời nƣớc ngoài – quyển 2,
(2013), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
 Bộ giáo trình Giáo trình tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài do
Nguyễn Văn Huệ chủ biên (5 tập).
 Giáo trình tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài 1, (2010), NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.

11


 Giáo trình tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài 2, (2008), NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
 Giáo trình tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài 3, (2004), NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
 Giáo trình tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài 4, (2004), NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
 Giáo trình tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài 5, (2007), NXB Đại
học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.
 Bộ giáo trình do Đoàn Thiện Thuật chủ biên (4 quyển)
 Click tiếng Việt Tập 1, (2014), NXB Thế giới, Hà Nội.
 Click tiếng Việt Tập 2, (2013), NXB Thế giới, Hà Nội.
 Thực hành tiếng Việt trình độ B, (2013), NXB Thế giới, Hà Nội.
 Thực hành tiếng Việt trình độ C, (2014), NXB Thế giới, Hà Nội .
 Bộ sách Tiếng Việt của Bửu Khải – Phan Văn Giƣỡng (4 quyển)
 Tiếng Việt – Vietnamese for beginers 1, Bửu Khải, Phan Văn

và xác định rõ hơn giá thực tiễn, luận văn cũng sử dụng các thủ pháp phân
tích ngữ nghĩa, thủ pháp so sánh, đối chiếu để khảo sát các giáo trình dạy
tiếng Việt đang đƣợc sử dụng phổ biến hiện nay.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, để hoàn thành và nhằm làm rõ kết
quả của luận văn, tôi cũng sẽ kết hợp các phƣơng pháp nhƣ: Phƣơng pháp
nghiên cứu tài liệu, điền dã, phƣơng pháp phân tích ngữ pháp, phƣơng pháp
thống kê phân loại và phƣơng pháp hệ thống hóa.
7. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn sẽ góp phần phát triển vấn đề lí luận có liên quan đến thành
ngữ, tục ngữ trong việc giảng dạy cho ngƣời nƣớc ngoài, làm rõ ý nghĩa, vai
trò của thành ngữ, tục ngữ trong thực hành giao tiếp. Về mặt thực tiễn luận
văn sẽ bổ sung những tri thức cần thiết cho ngƣời nƣớc ngoài học tiếng Việt,

13


giúp họ có thể sử dụng thành ngữ, tục ngữ đạt đƣợc hiệu quả trong giao tiếp
tiếng Việt. Đồng thời, luận văn sẽ giúp ích cho việc giảng dạy cũng nhƣ việc
biên soạn học liệu cho ngƣời nƣớc ngoài.
8. Bố cục luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có
nội dung chính nhƣ sau:
1, Cơ sở lý thuyết
2, Khảo sát thành ngữ, tục ngữ trong một số giáo trình dạy tiếng Việt
cho ngƣời nƣớc ngoài
3, Phƣơng pháp giảng dạy ngữ liệu thành ngữ, tục ngữ trong giảng dạy
tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài.

14




trúc hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, đƣợc sử dụng rộng rãi trong giao tiếp
thƣờng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ. Ví dụ: “Lẩn như chạch”. [14; 3]
Thành ngữ là một nhóm những từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó
thƣờng khó giải thích một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên câu
đó. Theo Lê Gia thì thành ngữ là một phần nhỏ của tục ngữ. Thành ngữ là
những câu nói, cụm từ quen thuộc của một lớp ngƣời trong xã hội, có thể bắt
nguồn ở thời điểm hiện nay hoặc từ thời trƣớc, dùng để chỉ một hiện tƣợng,
sự việc,... [21; 5].
Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tình nguyên khối về ngữ
nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý
nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động
nhƣ một từ riêng biệt trong câu. (Thuật ngữ ngôn ngữ học).
Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng,
(1977) cho rằng: Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của
nó thƣờng không thể giải thích đƣợc một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ
tạo nên nó. Theo từ điển Bách khoa: Thành ngữ hoặc là những cụm từ mang
ngữ nghĩa cố định (phần lớn không tạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữ
pháp) (không thể thay thế và sửa đổi về mặt ngôn từ) và độc lập riêng rẽ với
từ ngữ hay hình ảnh mà thành ngữ sử dụng, thành ngữ thƣờng đƣợc sử dụng
trong việc tạo thành những câu nói hoàn chỉnh.
Vì vậy có thể nói thành ngữ là một cụm từ cố định đã quen dùng. Xét
về mặt ngữ pháp thì nó chƣa thể là một câu hoàn chỉnh, vì thế nó có thể chỉ
tƣơng đƣơng với một từ.
1.1.2. Đặc điểm của thành ngữ
1.1.2.1. Về cấu trúc
Thành ngữ trong tiếng Việt có thể đƣợc chia thành 3 loại nhƣ sau

16

c. Thành ngữ làm định ngữ trong câu
Ví dụ:
- Mặc dù còn nhỏ nhƣng em ấy có tinh thần tự lực cánh sinh rất lớn.
- Nhìn cảnh màn trời chiếu đất của mẹ con họ mà ai cũng rơi nƣớc mắt.
d. Thành ngữ làm bổ ngữ trong câu
Ví dụ:
- Tôi cho anh vay tiền cũng đƣợc, nhƣng anh phải viết cho tôi mấy chữ, tôi sợ
lời nói gió bay lắm.
- Cô ấy chọn mãi mà vẫn chƣa chọn đƣợc ngày lành tháng tốt để khai trƣơng
cửa hàng.
e. Thành ngữ làm trạng ngữ trong câu
Ví dụ:
- Khi nhìn thấy cảnh sát, tên trộm chạy bán sống bán chết vào tòa nhà gần đó
- Đồng không mông quạnh, tôi biết gọi thợ sửa xe ở đâu đây.
Qua các ví dụ trên, ta có thể thấy, thành ngữ có khả năng đảm nhận tất
cả các thành phần trong câu.
1.1.2.3. Các lớp nghĩa của thành ngữ
Thành ngữ bao giờ cũng có hai lớp ý nghĩa là: nghĩa đen và nghĩa
bóng. Nghĩa đen là nghĩa có trƣớc những nghĩa khác, đƣợc mọi ngƣời hiểu
một cách trực tiếp và thông thƣờng.
Nghĩa bóng là nghĩa suy ra từ nghĩa chính vốn để chỉ một vật hoặc sự
việc cụ thể, đƣợc dùng để gợi ý hiểu cái trừu tƣợng.

18


Với thành ngữ, nghĩa bóng có vai trò quan trọng hơn. Nó không phải là
sự tổng hợp số nghĩa của các thành tố có trong thành ngữ mà nó có nghĩa khái
quát, tƣợng trƣng cho toàn bộ tổ hợp.
Nghĩa của thành ngữ đƣợc tạo nên bởi nhiều phƣơng thức biểu hiện

một cách độc đáo, đúng đắn, tinh tế.
Tính hình tượng
Tính hình tƣợng của thành ngữ là kết quả tất yếu của tính biểu trƣng.
Nhờ có tính hình tƣợng mà thành ngữ thƣờng tạo ra những ấn tƣợng mạnh
mẽ. Ý nghĩa của thành ngữ thƣờng vƣợt ra khỏi ý nghĩa trực tiếp của các sự
vật, hiện tƣợng nên chúng có giá trị phổ biến, khái quát.
Tính tình thái
Thành ngữ không phải có thể sử dụng cho bất kì đối tƣợng nào. Bởi vì
các thành ngữ thƣờng kèm theo thái độ, cảm xúc, sự đánh giá, có thể nói lên
hoặc lòng kính trọng, hoặc sự ái ngại hoặc xót thƣơng, hoặc sự không tán
thành, lòng khinh bỉ, thái độ chê bai, sự phủ định... của ngƣời nói đối với đối
tƣợng đƣợc nói (ngƣời, vật hay việc). Nếu không chú ý đến các sắc thái biểu
cảm khác nhau thì việc dùng các thành ngữ có thể làm hỏng các nội dung “trí
tuệ” của câu nói.
1.2. Khái niệm tục ngữ
1.2.1. Quan niệm về tục ngữ
Cũng nhƣ thành ngữ, đã có nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra những định
nghĩa khác nhau về tục ngữ.

20


Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng
(1977) cho rằng: Tục ngữ là câu nói ngắn gọn, thƣờng có vần điệu, đúc kết từ
tri thức kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân.
Ví dụ: “Đói cho sạch, rách cho thơm”
“Một giọt máu đào hơn ao nước lã”

Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh
nghiệm, một luân lý, có khi là một phê phán. [20; 3]

thức và chia phán đoán làm hai loại cơ bản là phán đoán khẳng định (có điều
kiện hoặc lựa chọn và không điều kiện) và phán đoán phủ định, trong đó hầu
hết là tục ngữ phán đoán khẳng định
Ví dụ:
Phán đoán khẳng định có điều kiện hoặc lựa chọn: Kiến tha lâu cũng
đầy tổ, Có làm thì mới có ăn, không dưng ai dễ mang phần đến cho…
Phán đoán khẳng định không điều kiện: Không có lửa sao có khói,
Gieo gió gặt bão…
Cũng theo Chu Xuân Diên, những quan hệ đƣợc phản ánh trong tục
ngữ thƣờng là quan hệ so sánh (ví dụ: Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về
chồng), quan hệ mâu thuẫn (ví dụ: Được người mua, thua người bán) và quan
hệ nhân quả (ví dụ: Tốt vay dày nợ)
Còn Phan Thị Đào cho rằng: tục ngữ có ba dạng kết cấu là kết cấu
logic, kết cấu so sánh và kết cấu đối xứng.
a, Kết cấu logic của tục ngữ, tác giả đã sử dụng các khái niệm, kí hiệu
của logic hình thức trong phân định. Kết cấu logic bao gồm hai loại là kết cấu

22


đơn và kết cấu phức. Kết cấu đơn lại gồm kết cấu khẳng định toàn thể (Mọi /
tất cả S là P) ví dụ: Miếng ăn là miếng nhục; kết cấu phủ định toàn thể (Mọi /
Tất cả S không là P) ví dụ: Ai uốn câu cho vừa miệng cá.
Kết cấu phức gồm kết cấu cơ bản và kết cấu mở rộng. Kết cấu câu phức
cơ bản (A ^ B) (A hội B) và (A → B) (A kéo theo B)
Ví dụ:
(A ^ B) Ai giàu ba họ, ai khó ba đời, Cây muốn lặng mà gió chẳng
ngừng…
(A → B) Ở hiền gặp lành, Không đẻ không đau…
Kết cấu phức mở rộng gồm có:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status