Nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị công ty đối với sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán việt nam - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN THỊ KIỀU OANH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA QUẢN TRỊ
CÔNG TY ĐỐI VỚI SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT
TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số

: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : TS. ĐƢỜNG NGUYỄN HƢNG

Đà Nẵng, Năm 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Trần Thị Kiều Oanh


MỤC LỤC


2.2. SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 20112013 ................................................................................................................... 37
2.3. TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM
YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM .............................................. 44
2.3.1. Kết quả chung .................................................................................... 45
2.3.2. Tình hình thực hiện quản trị công ty theo quy mô công ty ............... 47
2.3.3. Tình hình thực hiện quản trị công ty theo cơ cấu sở hữu .................. 48
2.3.4. Quản trị công ty và thành phần hội đồng quản trị ............................. 49
2.4. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN SAI
PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM
YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM .............................................. 50
2.4.1. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................... 50
2.4.2. Chọn mẫu nghiên cứu và thu thập số liệu.......................................... 58
2.4.3. Phân tích kết quả nghiên cứu ............................................................. 59
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG VAI TRÒ CỦA QUẢN
TRỊ CÔNG TY VÀ CÁC ĐỐI TƢỢNG CÓ LIÊN QUAN TRONG VIỆC
NGĂN NGỪA VÀ PHÁT HIỆN SAI PHẠM TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM .......................................................................................................... 67
3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN TRỊ CÔNG TY
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM .......................................................................................................... 67
3.2. QUAN ĐIỂM ĐƯA RA GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN
TRỊ CÔNG TY CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM CỦA TÁC GIẢ ................................................. 68
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ CÔNG
TY VÀ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ LIÊN QUAN TRONG VIỆC NGĂN NGỪA




33

2.3

Thống kê các chính sách kế toán được vận dụng

41

2.4

Thống kê các doanh nghiệp sai phạm báo cáo tài chính
theo ngành giai đoạn 2011- 2013

43

2.5

Kết quả đánh giá tình hình quản trị công ty

46

2.6

Thống kê các công ty theo điểm số quản trị công ty

47

2.7


Bảng tổng hợp chiều tác động của các biến độc lập lên
biến phụ thuộc

63


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ

Tên biểu đồ

Trang

2.1

Tình hình điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp
niêm yết năm 2013

37

2.2

Chênh lệch giảm lợi nhuận trước và sau kiểm toán năm
2013 của một số doanh nghiệp

38

2.3


ánh trung thực, khách quan và làm cơ sở cho các đối tượng quan tâm đánh giá
đúng tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về quản trị công ty và mối quan hệ
giữa nó với chất lượng báo cáo tài chính, trong đó có sự xuất hiện không chỉ
của những quốc gia phát triển mà còn cả những nền kinh tế đang phát triển


2

hoặc mới nổi như Ba Lan, Thái Lan, Indonesia, Trung Quốc… nhưng tuyệt
nhiên không có nghiên cứu được thiết kế riêng cho Việt Nam. Vậy hiện nay,
tình hình quản trị công ty tại các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam như thế
nào và chúng ảnh hưởng ra sao đến chất lượng báo cáo tài chính là câu hỏi
cấp thiết. Qua việc nghiên cứu mức độ và các yếu tố của quản trị công ty ảnh
hưởng đến sai phạm trên báo cáo tài chính, tác giả mong muốn đưa ra một
đánh giá khách quan về tình hình quản trị công ty của các doanh nghiệp niêm
yết trên sàn chứng khoán Việt Nam thời gian qua. Từ đó đề xuất giải pháp
tăng cường quản trị công ty trong việc ngăn ngừa và phát hiện sai phạm trên
báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết, góp phần phát triển thị
trường chứng khoán Việt Nam theo hướng bền vững.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Luận văn nhằm hướng đến các mục tiêu sau:
- Phân tích các yếu tố của quản trị công ty ảnh hưởng đến sai phạm trên
báo cáo tài chính của các công ty niêm yết.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản trị công ty trong việc ngăn
ngừa và phát hiện sai phạm trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm
yết, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam theo hướng bền
vững.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về quản trị công ty, sai phạm

6. Tổng quan tài liệu
Nội dung quản trị công ty đã được nghiên cứu tại nhiều quốc gia, trong
nhiều thời điểm và phạm vi khác nhau:
Tại Trung Quốc, Yi Zhang (2006) đã thu thập và phân tích một tập hợp
chứa thông tin chi tiết các đặc điểm quản trị công ty của hai mẫu các doanh
nghiệp, một mẫu gồm 160 doanh nghiệp niêm yết Trung Quốc đã vi phạm


4

pháp luật chứng khoán thời kỳ 1993- 2003 và một mẫu 160 doanh nghiệp
không mắc phải các vụ bê bối có kích thước, ngành nghề tương đương. Kết
quả nghiên cứu cho thấy tại Trung Quốc, đặc điểm sở hữu doanh nghiệp có
liên quan đến xác suất một doanh nghiệp mắc phải sai phạm, trong khi các đặc
điểm quản trị công ty khác như quy mô hội đồng quản trị, sự độc lập của hội
đồng quản trị và thể chế sở hữu thì không. Những phát hiện này cho thấy rằng
trong quản lý chung, cơ chế không giúp tránh được những vụ bê bối doanh
nghiệp nghiêm trọng ở Trung Quốc. Hơn nữa, phân tích cũng chỉ ra rằng mức
độ phát triển của hệ thống luật pháp của một quốc gia có liên quan đến xác
suất một doanh nghiệp mắc phải sai phạm. Các bằng chứng cho thấy trong thị
trường mới nổi Trung Quốc, sự phát triển của pháp luật là một yếu tố quan
trọng hơn cơ chế quản trị công ty trong việc ảnh hưởng một doanh nghiệp có
lựa chọn gian lận. Nói cách khác, do sự yếu kém của hệ thống pháp luật, cơ
chế quản trị công ty không có hiệu quả ở Trung Quốc.
Năm 2013, Nadia Smaili, Réal Labelle tiến hành nghiên cứu trên mẫu
gồm 107 doanh nghiệp Canada sai phạm ở ba cấp độ (doanh nghiệp có thể
xác định lại, doanh nghiệp bị đề nghị ngừng hoạt động và doanh nghiệp lừa
đảo) và 107 doanh nghiệp không sai phạm có cùng quy mô, ngành nghề, cùng
niêm yết trên thị trường chứng khoán Canada nhằm xem xét mức độ mà quản
trị công ty hoạt động như một phương tiện hiệu quả bảo vệ các nhà đầu tư đối

báo cáo tài chính.
Trong nghiên cứu thực nghiệm trên các doanh nghiệp niêm yết Italia về
mối quan hệ giữa đặc điểm báo cáo tài chính và gian lận báo cáo tài chính
(2012), Giuseppe D’Onza, Rita Lamboglia đã xác định 26 công ty niêm yết
liên quan đến các trường hợp bị cáo buộc gian lận kế toán trong thời kỳ 10
năm từ 2001- 2011. Kết quả phân tích hồi quy của 26 công ty gian lận và 26
công ty tương tự không gian lận cho thấy không có sự khác biệt đáng kể liên
quan đến sự hiện diện của chủ sở hữu nội bộ giữa hai nhóm công ty. Trong


6

khi đó, sự tồn tại của một ban kiểm soát phù hợp với các yêu cầu về quản trị
công ty tại Italia làm giảm khả năng gian lận. Hơn nữa, khả năng báo cáo tài
chính gian lận cũng giảm khi số lượng các cuộc họp ủy ban kiểm toán tăng
lên.
Có thể thấy, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty
và chất lượng báo cáo tài chính tại các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, Việt
Nam vẫn là một quốc gia ít được nghiên cứu trong các công trình về quản trị
công ty. Trong một số cuốn sách và bài báo khoa học tổng quan về quản trị
công ty tại nhiều quốc gia trên thế giới vẫn chưa thấy xuất hiện nội dung nào
về Việt Nam. Ví dụ như cuốn “Corporate Governance and Accountability”
(Solomon 2007) có giới thiệu khái quát về quản trị công ty tại
36 nước trên thế giới, bao gồm không chỉ các nước phát triển mà cả những
nền kinh tế đang phát triển hoặc chuyển đổi như Ba Lan, Thái Lan, Indonesia,
Hungary, nhưng hoàn toàn không có một dòng nào nhắc đến Việt Nam.
Trong các nghiên cứu và báo cáo các năm sau này của Tổ chức hợp tác
phát triển kinh tế (OECD) như “Báo cáo về tình hình tuân thủ chuẩn mực và
nguyên tắc quản trị công ty” (2006), cái tên Việt Nam được nhắc tới thường
xuyên hơn với tư cách là một trong những quốc gia tham gia khảo sát. Đây là

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ BÁO CÁO
TÀI CHÍNH
1.1.1. Khái quát chung về quản trị công ty
a. Khái niệm quản trị công ty
Quan niệm và nội dung của quản trị công ty ở các quốc gia khác nhau là
rất khác nhau. Điều này do sự khác nhau về văn hóa, trình độ phát triển của
thị trường tài chính, thể chế luật pháp tại mỗi nước… từ đó ảnh hưởng đến
quyền của cổ đông, quyền của chủ nợ và các bên liên quan khác.
Năm 1999, tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã xuất bản tài
liệu “Các nguyên tắc quản trị công ty” trong đó đưa ra một định nghĩa về quản
trị công ty được nhiều quốc gia, tổ chức chấp nhận và sử dụng định nghĩa này
trong các nghiên cứu của mình:
Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát
công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị
và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan. Quản trị
công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định
các phương tiện để đạt được mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt
động của công ty. Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ
được ban giám đốc và hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của
công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc
giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công
ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn.


9

Quản trị công ty được đặt trên cơ sở của sự tách biệt giữa quản lý và sở
hữu doanh nghiệp. Công ty là của chủ sở hữu nhưng để công ty tồn tại và phát
triển phải có sự dẫn dắt của hội đồng quản trị, sự điều hành của ban giám đốc
và sự đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào

quyết định vì lợi ích của những người đứng đầu. Ngược lại, các đại diện
không nhất thiết phải ra quyết định vì các lợi ích lớn nhất của cổ đông. Cổ
đông quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng là lợi ích của chính họ),
trong khi đó, người quản lý về cơ bản quan tâm đến lợi ích của mình (lương,
thưởng, phụ cấp, nguồn thu khác dựa trên vị trí công tác) hơn là lợi ích cổ
đông. Xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị,
chẳng hạn giữa các cổ đông (đa số và thiểu số, kiểm soát và không kiểm soát,
các nhân và tổ chức) và các thành viên hội đồng quản trị (điều hành và không
điều hành, bên trong và bên ngoài, độc lập và phụ thuộc).
Như vậy, một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó là thiết
lập cấu trúc hội đồng quản trị nhằm đảm bảo lợi ích của các cổ đông, những
người chủ sở hữu của công ty. Xuất phát từ hai quan điểm đối lập, hội đồng
quản trị có thể được thiết lập theo nhiều cách khác nhau nhằm đạt được mục
tiêu chung của tổ chức. Quan điểm thứ nhất cho rằng hội đồng quản trị được
thiết lập để hỗ trợ sự kiểm soát của đội ngũ quản lý, tạo ra kết quả hoạt động
vượt trội dựa trên sự hiểu biết tường tận tình hình công ty của ban giám đốc
điều hành. Quan điểm thứ hai cho rằng, hội đồng quản trị được thiết lập để tối
thiểu hóa các “chi phí đại diện” thông qua các cấu trúc cho phép thành viên
hội đồng quản trị bên ngoài phê chuẩn và giám sát các hành vi của đội ngũ
quản lý, vì vậy cũng giảm được sự khác nhau về mặt lợi ích giữa cổ đông và
nhà quản lý.
Một cơ chế quan trọng của cấu trúc hội đồng quản trị là cấu trúc lãnh đạo,
nó phản ánh vị trí, vai trò của chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều
hành. Cấu trúc lãnh đạo hợp nhất diễn ra khi giám đốc đảm nhiệm cùng lúc


11

hai vai trò là giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị. Mặt khác, cấu
trúc lãnh đạo phân tách diễn ra khi vị trí chủ tịch hội đồng quản trị và giám

nhằm mục đích giám sát các chức năng thực thi như kiểm toán, tiền lương và
bổ nhiệm. Tầm quan trọng của các ủy ban này đã được công nhận trong mọi
môi trường kinh doanh. Do đó, năm 1992, ủy ban Cadbury đã khuyến nghị
rằng các hội đồng quản trị nên bổ nhiệm các tiểu ban đảm nhận các chức năng
sau:
- Ủy ban kiểm toán có trách nhiệm giám sát quy trình kế toán và kiểm
toán độc lập.
- Ủy ban tiền lương quy định chế độ tiền lương cho thành viên hội đồng
quản trị, đội ngũ quản lý điều hành công ty.
- Ủy ban bổ nhiệm có trách nhiệm giới thiệu, chỉ định thành viên hội
đồng quản trị tới hội đồng quản trị.
Các ủy ban trên có thể sẽ chỉ mang tính hình thức trừ khi chúng độc lập,
có khả năng tiếp cận tới thông tin và các nghiệp vụ chuyên môn, và có các
thành viên có nghiệp vụ về tài chính. Vì vậy, ủy ban Cadbury và tổ chức
OECD đã khuyến nghị các ủy ban này nên bao gồm các thành viên hội đồng
quản trị không điều hành để nâng cao khả năng kiểm soát nội bộ của công ty.
Các ủy ban này sẽ giúp cho hội đồng quản trị đương đầu với vấn đề giới hạn
về mặt thời gian cũng như sự phức tạp của thông tin mà họ cần giải quyết.
c. Vai trò của hội đồng quản trị, nhà đầu tư tổ chức, sự minh bạch,
kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro trong quản trị công ty
* Vai trò của hội đồng quản trị trong quản trị công ty:
Cơ cấu và hoạt động của hội đồng quản trị các quốc gia là rất khác nhau.
Một số quốc gia có hội đồng quản trị theo mô hình hai cấp, tách chức năng
kiểm soát và chức năng quản lý thành hai cơ quan riêng biệt. Hệ thống như
vậy thường có “Ban kiểm soát” bao gồm các thành viên hội đồng quản trị


13

không điều hành và “Ban giám đốc” bao gồm toàn bộ các cán bộ quản lý. Các

Các nhà đầu tư tổ chức cần công bố thông tin về cách thức họ thực thi
quyền sở hữu. Đối với tổ chức hoạt động ủy thác như quỹ hưu trí, các chương
trình đầu tư tập thể và một số hoạt động của công ty bảo hiểm, quyền biểu
quyết có thể được coi làm một phần giá trị của khoản đầu tư được thực hiện
thay mặt khách hàng. Không thực hiện quyền sở hữu có thể gây thua lỗ cho
nhà đầu tư. Vì vậy, họ cần được thông báo về chính sách mà nhà đầu tư tổ
chức sẽ thực hiện.
Thêm vào đó, các nhà đầu tư tổ chức hoạt động ủy thác cần công bố cách
thức quản lý các xung đột lợi ích quan trọng có thể ảnh hưởng tới việc thực
hiện các quyền sở hữu cơ bản liên quan đến các khoản đầu tư của họ. Trong
nhiều trường hợp, động lực để các nhà đầu tư trung gian biểu quyết và thực
hiện các quyền sở hữu cơ bản có thể khác với chủ đầu tư trực tiếp. Sự khác
biệt đó đôi khi có thể do lý do thuần túy thương mại nhưng cũng có thể nảy
sinh từ xung đột lợi ích đặc biệt nghiêm trọng khi tổ chức ủy thác là một chi
nhánh hay công ty con của một tổ chức tài chính khác. Khi những xung đột
như vậy nảy sinh từ các quan hệ kinh doanh chủ chốt thì chúng cần được xác
định và công bố. Đồng thời, các nhà đầu tư tổ chức cũng cần phải công bố các
biện pháp mà họ đang thực hiện để giảm thiểu tác động tiêu cực tiềm tàng đối
với khả năng thực hiện các chức năng sở hữu cơ bản của họ.
* Vai trò của sự minh bạch, kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro trong
quản trị công ty:
Hệ thống công bố thông tin tốt nâng cao tính minh bạch là đặc điểm then
chốt của việc giám sát công ty dựa vào thị trường, và đóng vai trò chủ yếu
giúp cổ đông có thể thực hiện quyền sở hữu của mình một cách có hiểu biết.
Đây cũng có thể là một công cụ hiệu quả để tác động tới hoạt động của công
ty và bảo vệ nhà đầu tư. Một hệ thống công bố thông tin tốt có thể giúp thu
hút vốn và duy trì lòng tin của thị trường. Ngược lại, công bố thông tin yếu


15

16

Tuy nhiên, kiểm soát nội bộ đóng một vai trò quan trọng, hỗ trợ cho quản trị
công ty được hoàn thiện hơn.
d. Khuôn khổ quản trị công ty
Năm 1999, Bộ Nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD được Hội đồng
Bộ trưởng OECD phê chuẩn lần đầu và từ đó trở thành chuẩn mực quốc tế
cho các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư, công ty và các bên có quyền
lợi liên quan khác trên toàn thế giới. Từ năm 2002 đến năm 2004, bộ Nguyên
tắc được sửa đổi dựa trên cuộc khảo sát toàn diện về cách thức các quốc gia
thành viên giải quyết các vấn đề trong quản trị công ty mà họ gặp phải. Bộ
nguyên tắc là tài liệu sống cung cấp khuôn khổ không bắt buộc và thông lệ tốt
cũng như hướng dẫn thực hiện khuôn khổ và thông lệ này, có thể điều chỉnh
cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia.
Quản trị công ty chỉ là một phần của bối cảnh kinh tế rộng lớn hơn trong
đó công ty hoạt động, bao gồm các chính sách kinh tế vĩ mô, mức độ cạnh
tranh trong thị trường sản phẩm và thị trường tư liệu sản xuất... Khuôn khổ
quản trị công ty cũng phụ thuộc vào môi trường pháp lý, quản lý và tổ chức.
Ngoài ra, các yếu tố như đạo đức kinh doanh và ý thức của công ty về các lợi
ích môi trường và xã hội của cộng đồng nơi công ty hoạt động cũng có thể
ảnh hưởng tới danh tiếng và sự thành công lâu dài của công ty.
Trong khi có vô số các yếu tố ảnh hưởng tới quản trị và quá trình ra
quyết định cũng như giữ vai trò quan trọng đối với thành công lâu dài của
công ty, bộ Nguyên tắc tập trung vào các vấn đề quản trị bắt nguồn từ việc
tách rời quyền sở hữu và quyền kiểm soát, cụ thể như sau:
[1] Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả:
Khuôn khổ quản trị công ty cần thúc đẩy tính minh bạch và hiệu quả của thị
trường, phù hợp với quy định của pháp luật, và phân định rõ ràng trách nhiệm
giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi.



18

tác quản lý của Hội đồng quản trị và trách nhiệm của Hội đồng quản trị đối
với công ty và cổ đông.
1.1.2. Khái quát chung về báo cáo tài chính
a. Khái niệm báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là kênh thông tin mang tính chính thống quan trọng
nhất mà các đối tượng sử dụng thông tin làm căn cứ để ra các quyết định. Theo
chuẩn mực kế toán quốc tế số 1 (2008), các báo cáo tài chính theo nghĩa hẹp là
các báo cáo trình bày về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh cũng như
việc quản lý các nguồn vốn kinh doanh của một đơn vị kinh tế. Tuy nhiên,
theo nghĩa rộng thì các báo cáo tài chính công bố thông tin về một công ty,
không chỉ bao gồm các báo cáo tài chính như trên mà còn bao gồm báo cáo
phân tích và đánh giá của nhà quản lý, báo cáo kiểm toán và các báo cáo khác.
Nghiên cứu này tiếp cận báo cáo tài chính theo nghĩa thứ nhất, là báo cáo về
tình hình tài chính được trình bày theo mẫu trong quyết định số 15/2006-BTC
và các văn bản liên quan.
Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản,
vốn và công nợ cũng như tình hình tài chính và kết quả kinh doanh trong kỳ
của doanh nghiệp.
b. Vai trò của báo cáo tài chính
Nhìn chung, giống như “một cây cầu” kết nối một công ty với rất nhiều
đối tượng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài doanh nghiệp, thông tin kế
toán- những thông tin được trình bày trong báo cáo tài chính của một công tyđóng vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích
giúp cho người sử dụng thông tin ra quyết định:
- Đối với doanh nghiệp: Báo cáo tài chính giúp cho nhà quản trị phân
tích đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình
thực hiện các chỉ tiêu trong kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài chính, trong hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status