thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp của người dân ven biển tiền hải, tỉnh thái bình - Pdf 52

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
---------------

NGUYỄN THỊ THÚY MAI

THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH VỰC
NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI DÂN VEN BIỂN
HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2018


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
---------------

NGUYỄN THỊ THÚY MAI

THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH VỰC
NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI DÂN VEN BIỂN
HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số:
62 31 03 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Ngọc Hùng
PGS.TS. Nguyễn Tuấn Anh

Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nuôi trồng và đánh

19

bắt thủy sản
1.3.

Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thích ứng với biến đổi khí hậu

23

CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

31

2.1.

Các khái niệm vận dụng trong nghiên cứu

31

2.2.

Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu

40

2.3.

Địa bàn nghiên cứu


NUÔI TRỒNG VÀ ĐÁNH BẮT THỦY SẢN

4.1.

Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản

103

4.2.

Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực đánh bắt thủy sản

129

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

156

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH


USAID

: Cơ quan Phát triển Quốc tế của Hoa Kỳ (United States
Agency for International Development)


Thứ tự
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:

Bảng 3.3:
Bảng 3.4:

Bảng 3.5:
Bảng 3. 6:

Bảng 3.7:
Bảng 4.1:
Bảng 4. 2:

Bảng 4. 3:

Bảng 4. 4:
Bảng 4. 5:

Bảng 4. 6:
Bảng 4.7:
Bảng 4.8:

DANH MỤC BẢNG

nghề khác”
Hồi quy logistic – Các yếu tố liên quan đến
phương thức thích ứng “thay đổi cơ cấu nuôi trồng”
Các nguồn huy động vốn tài chính trong một số hoạt
động thích ứng trong lĩnh vực đánh bắt thủy sản
Mô hình logistic: Yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn

Trang
72
81

82
97

98
99

100
124
125

126

127
128

129
139
142


Biểu đồ 3. 12:
Biểu đồ 3.13:
Biểu đồ 3. 14:
Biểu đồ 3.15:

Biểu đồ 3.16:
Biểu đồ 3.17:
Biểu đồ 3.18:
Biểu đồ 3.19:
Biểu đồ 3. 20:
Biểu đồ 3. 21:
Biểu đồ 3.22:
Biểu đồ 3.23:
Biểu đồ 3.24:
Biểu đồ 3. 25:
Biểu đồ 3.26:

Tên biểu

Trang

Ảnh hưởng của rét đậm rét hại đến trồng trọt
Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến trồng trọt
Ảnh hưởng của hạn hán đến trồng trọt
Ảnh hưởng của nắng nóng đến trồng trọt
Ảnh hưởng của ngập lụt đến trồng trọt
Ảnh hưởng của bão đến trồng trọt
Ảnh hưởng của các biểu hiện của biến đổi khí hậu đến
hiện tượng mất trắng mùa vụ
Các hoạt động thích ứng trong lĩnh vực trồng trọt

62
63
64
65
68
70
73
74
76
77
80

83
84
84
85
86
86
87
89
92
93
95


Biểu đồ 3.27:
Biểu đồ 4.1:
Biểu đồ 4.2:
Biểu đồ 4.3:
Biểu đồ 4.4:

Nguồn lực cộng đồng để huy động vốn trong đầu tư
thêm trang thiết bị nuôi trồng
Nguồn lực cộng đồng trong hoạt động thay đổi cơ cấu
nuôi trồng
Ảnh hưởng của bão đến đánh bắt thủy sản
Ảnh hưởng của rét đậm rét hại đến đánh bắt thủy sản
Ảnh hưởng của hạn hán đến đánh bắt thủy sản
Ảnh hưởng của nắng nóng đến đánh bắt thủy sản
Ảnh hưởng của mưa lớn đến đánh bắt
Ảnh hưởng của ngập lụt đến đánh bắt
Độ tuổi tham gia hoạt động đánh bắt hiện nay
Các hoạt động thích ứng trong đánh bắt thủy sản
Mạng lưới cộng đồng trong hoạt động
Các công việc một số lao động khác làm khi chuyển
việc trong lĩnh vực đánh bắt thủy sản

96
105
106
107
108
109
110
111
112
116
117
121
130
131

làm tăng thêm sự nóng lên toàn cầu và nước biển dâng [12]. Cũng theo ước
tính, nếu nước biển dâng lên 1m có khả năng ảnh hưởng tới 12% diện tích và
20% dân số Việt Nam, làm ngập khoảng từ 0,3 đến 0,5 triệu ha tại đồng bằng
sông Hồng và 1,5-2 triệu ha tại đồng bằng sông Cửu Long và hàng trăm ngàn
ha ven biển miền Trung [37]. Bão, lũ trong những năm vừa qua cũng gây ra
nhiều hậu quả nặng nền về người cũng như tài sản đặc biệt đối với các khu vực
ven biển. Những cơ sở nuôi trồng, tàu thuyền đánh bắt, mùa màng của người
dân bị tàn phá gây thiệt hại nặng nề. Những cơn gió mạnh và những cơn bão
bất thường thậm chí ở những vùng mà trước đây ít chịu ảnh hưởng bởi bão


2
cũng gây nhiều thiệt hại về nhà cửa, công trình, mùa màng cũng như tính mạng
người dân.
Điều này cho thấy, biến đổi khí hậu là một vấn đề hiện hữu, là xu hướng
chung của toàn cầu, không một quốc gia hay vùng lãnh thổ nào có thể tránh
khỏi. Do vậy, thích ứng với biến đổi khí hậu là vấn đề cần thiết và cấp bách
giúp giảm thiểu tối đa những thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra. Tuy nhiên,
nhiều bằng chứng cho thấy những tác động của biến đổi khí hậu cũng như
những chiến lược ứng phó thích hợp hay khả năng thích ứng lại phụ thuộc vào
từng địa phương cụ thể [48]. Bởi với mỗi địa phương, mức độ ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu lại phụ thuộc vào đặc điểm địa hình cũng như tình hình kinh
tế và cơ sở vật chất riêng có của địa phương đó. Do vậy việc thích ứng biến
đổi khí hậu ở cấp độ hộ gia đình được coi là nhân tố chính của quá trình thích
ứng [48]. Ví dụ, để ứng phó với biến đổi khí hậu, người nông dân có thể có
những cách thức phối hợp với nhau nhằm đưa biện pháp tăng cường khả năng
chống chịu và khắc phục những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ra [53].
Do vậy, có thể nói chính những người chịu tác động trực tiếp có thể xây dựng
khả năng chống chịu và thích ứng với những bất thường do biến đổi khí hậu
[48, 85].

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự thích ứng với biến đổi khí hậu của
người dân ven biển huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình trong lĩnh vực nông
nghiệp.
2.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là: Người dân ven biển huyện Tiền Hải,
tỉnh Thái Bình.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu việc thích ứng của người dân
ven biển đối với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp, cụ thể là các lĩnh
vực: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.


4
- Phạm vi không gian: Về mặt không gian, tác giả luận án triển khai
nghiên cứu tại các xã ven biển huyện Tiền Hải, cụ thể là xã Đông Hoàng và xã
Nam Thịnh.
- Phạm vi thời gian: Luận án giới hạn các nội dung nghiên cứu ở trên
trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2017.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đánh giá thực trạng, yếu tố ảnh hưởng
đến việc thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân ở ven biển, trên cơ sở
đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thích ứng với biến đổi
khí hậu ở ven biển.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu tác động của biến đổi khí hậu đến trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng và đánh bắt thủy hải sản ở khu vực ven biển huyện Tiền Hải.
- Tìm hiểu các cách thức thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân
ven biển huyện Tiền Hải trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và
đánh bắt thủy hải sản.



6
6. Khung phân tích và các biến số
6.1. Khung phân tích
Để làm rõ nội dung nghiên cứu, việc phân tích trong các chương nội
dung của luận án dựa trên các biến số độc lập và phụ thuộc cụ thể. Các biến số
và mối quan hệ giữa các biến số được thể hiện qua khung phân tích dưới đây
(hình 1):

Biến đổi khí hậu

Biến độc lập
- Số thế hệ
- Quy mô hộ
- Điều kiện kinh tế
- Loại hình kinh tế
- Học hỏi thêm kinh nghiệm
- Hợp tác làm ăn với hộ khác
- Tham gia tập huấn
- Tuổi, giới tính, học vấn người
tham gia chính

Biến phụ thuộc
Thích ứng với BĐKH trong các lĩnh vực
trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, đánh bắt
thủy sản
- Thay đổi biện pháp/cách thức
- Chuyển sang hoạt động khác
- Chấp nhận tổn thất

biện pháp:

2. Bố trí thêm nhân công

Có/không

3. Thay đổi giống cây trồng
4. Thay đổi cơ cấu cây trồng
5. Điều chỉnh lịch thời vụ

1. Thích ứng

6. Thay đổi kỹ thuật canh tác

trong lĩnh

7. Tăng diện tích canh tác

vực trồng

8. Giảm diện tích canh tác

trọt

9. Nâng cấp hệ thống tưới tiêu
10. Cải tạo đồng ruộng
- Chuyển sang hoạt 1. Một số lao động của hộ gia
động khác

đình chuyển sang làm nghề khác

nuôi

6. Nâng cấp hệ thống chuồng trại
- Chuyển sang hoạt 1. Một số người trong hộ chuyển
động khác

sang làm nghề khác

Có/không

2. Một số lao động trong hộ
chuyển đến địa phương khác làm
ăn
3. Không chăn nuôi nữa

- Chấp nhận tổn thất

1. Không có cách thức gì

Có/không
- Thay đổi cách thức/ 1. Thay đổi giống
3. Thích ứng

biện pháp:

2. Thay đổi phương thức nuôi

trong lĩnh

Có/không


- Chấp nhận tổn thất

1. Không có cách thức gì

Có/không
- Thay đổi cách thức/ 1. Đầu tư thêm thiết bị đánh bắt
biện pháp:

2. Nâng cấp tàu thuyền đánh bắt

Có/không

3. Bố trí thêm nhân công
4. Thay đổi vùng đánh bắt
5. Tăng/giảm số lượng tàu đánh
bắt
6. Tăng cường theo dõi dự báo
thời tiết

4. Thích ứng
trong lĩnh

- Chuyển sang hoạt 1. Một số người trong hộ chuyển

vực đánh bắt

động khác

sang làm thêm nghề khác

hết, luận án cung cấp nhiều dữ liệu định tính và định lượng về thực tiễn tác
động của biến đổi khí hậu và sự thích ứng của người dân ven biển đối với biến
đổi khí hậu trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt
thủy, hải sản. Những dữ liệu này giúp các nhà quản lý có thêm cơ sở để đưa ra
các quyết định quản lý phù hợp trong các lĩnh vực liên quan đến biến đổi khí
hậu. Thứ hai, trên cơ sở phân tích, luận giải các dữ liệu định tính và định
lượng, luận án đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thích ứng
với biến đổi khí hậu của người dân ven biển trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn
nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản. Những khuyến nghị này không chỉ
hữu ích đối với nhà quản lý trong hoạt động thực tiễn mà còn hữu ích đối với
người dân ở địa phương trong quá trình thích ứng với biến đổi khí hậu.
8. Kết cấu luận án
Kết cấu của luận án gồm ba phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án có bốn chương. Chương 1 là


11
chương tổng quan về các nghiên cứu đi trước liên quan đến chủ đề luận án.
Chương 2 trình bày cơ sở lý luận, địa bàn nghiên cứu, và phương pháp nghiên
cứu. Chương 3 và chương 4 làm rõ thực tiễn biến đổi khí hậu tại địa bàn
nghiên cứu, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng và đánh bắt thủy sản. Hai chương này cũng chỉ ra cách thức thích ứng
với biến đổi khí hậu của người dân địa phương đối với biến đổi khí hậu trong
các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản cũng như
các yếu tố tác động đến những cách thức thích ứng này.


12
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt
Nông nghiệp là một lĩnh vực phụ thuộc và nhạy cảm với tình hình thời
tiết. Biến đổi khí hậu cùng với nó là nước biển dâng và các hình thức thời tiết
cực đoan như nắng nóng, hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn… liên tiếp xảy ra gây
khó khăn cho ngành nông nghiệp. Các nghiên cứu cho thấy các biểu hiện cực
đoan của biến đổi khí hậu đều ảnh hưởng đến diện tích canh tác, sự sinh
trưởng và năng suất mùa màng cây trồng. Cụ thể:
Theo tác giả Đinh Vũ Thanh, nước biển dâng sẽ khiến cho diện tích
canh tác nông nghiệp giảm. Cụ thể, nếu nước biển dâng lên 1m có khả năng
ảnh hưởng tới 12% diện tích và 20% dân số Việt Nam, làm ngập khoảng từ 0,3
đến 0,5 triệu ha tại đồng bằng sông Hồng và 1,5-2 triệu ha tại đồng bằng sông
Cửu Long và hàng trăm ngàn ha ven biển miền Trung. Ước tính Việt Nam sẽ
mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số khoảng hơn 4 triệu ha hiện
nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực quốc gia và ảnh hưởng đến
hàng chục triệu người dân [37]. Theo kịch bản BĐKH được Bộ Tài nguyên và
Môi trường cập nhật năm 2011, nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng
39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích vùng đồng bằng
sông Hồng và Quảng Ninh, và trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven biển
miền Trung có nguy cơ bị ngập [37]. Cùng với kết quả nghiên cứu trên UNJP
cũng cho rằng, những thay đổi về điều kiện thời tiết do biến đổi khí hậu cũng
góp phần làm gia tăng các quá trình xói mòn, sạt lở, ngập úng, ngập mặn…
khiến cho diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp. Hậu quả là năng suất
và sản lượng bị giảm sút. Theo dự báo sản lượng lúa vụ đông xuân của khu
vực Nam Trung Bộ sẽ giảm 10% vào năm 2020 và giảm 8% vào năm 2070,
còn khu vực đồng bằng sông Hồng sẽ giảm là 12,5% và 16,5 % [91].


14
Biến đổi khí hậu còn là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự tăng trưởng các
loại hoa màu bằng việc rút ngắn thời gian tăng trưởng và giảm năng suất cây

phương thức thích ứng hợp lý:
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Thị Hoa và Quyền Đình Hà tại ven
biển Nam Định cho thấy, để thích ứng với những tác động tiêu cực do biến
đổi khí hậu trong trồng trọt cụ thể là trồng lúa nước, nhiều người đã thay đổi
giống lúa từ kém chống chịu, dài ngày sang giống lúa có khả năng chống chiụ
tốt hơn, ngắn ngày hơn và thích ứng với điều kiện ngập mặn (ví dụ: đối với
lúa thuần: chuyển từ Bắc Thơm sang BC15, RVT thơm,…; đối với lúa lai:
chuyển từ Tạp giao 838, 903, CT16 sang TH3-3) [16]. Nghiên cứu của Trần
Văn Hiếu tại nhiều vùng đồng bằng sông Cửu Long cho thấy người dân trồng
những loại lúa nổi để thích ứng với tình hình ngập lụt [67].
Nghiên cứu tại nhiều quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí
hậu cũng cho thấy việc thay đổi sang những giống cây trồng ngắn ngày được
người dân lựa chọn khá phổ biến. Nghiên cứu tại Tazania, một đất nước thuộc
khu vực châu Phi với nền nông nghiệp được coi là hoạt động sinh kế chính,
Coretha Komba và Edwin Muchapondwa cho thấy trong các hoạt động nhằm
thích ứng với biến đổi khí hậu trong nông nghiệp thì hoạt động chủ yếu là
thay đổi những giống cây trồng ngắn ngày hoặc các giống chịu hạn [75, tr11].
Ngoài ra, việc chuyển hẳn sang giống cây trồng khác cũng là một lựa
chọn, ví dụ người dân Hà Tĩnh và Thừa Thiên Huế chuyển sang các loại cây
trên đất cao như lạc và khoai tây, vốn không cần nhiều nước [7]. Hay nghiên
cứu tại quận Seke ở Zimbawei, người dân tự chuyển sang trồng cây thuốc lá
do năng suất trồng ngô giảm về chất lượng, năng suất và giá cả [64, tr29].
Thay đổi cơ cấu cây trồng cũng được áp dụng khá phổ biến: thay đổi cơ
cấu cây trồng theo hướng đa dạng hóa [64], thử nghiệm xen giống lúa cá hoặc
luân canh cây trồng [16, 67]. Các hộ gia đình ven biển Tây Nam, Camerun để


16
thích ứng với những ảnh hưởng ngày càng tăng của lũ lụt, bão, sóng lớn họ tự
đa dạng hóa cây trồng bằng cách trồng thêm các loại cây ăn quả bên cạnh các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status