Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp của người dân ven biển huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình - Pdf 52

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
---------------

NGUYỄN THỊ THÚY MAI

THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH VỰC
NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI DÂN VEN BIỂN
HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC

Hà Nội – 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trang
1
12

1.1.

Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi

13

1.2.



46

2.4.

Phương pháp nghiên cứu

51

CHƢƠNG 3: THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH VỰC

57

TRỒNG TRỌT VÀ CHĂN NUÔI

3.1.

Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt

57

3.2.

Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực chăn nuôi

82

CHƢƠNG 4: THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH VỰC

103

: Biến đổi khí hậu

CBA

: Community based adaptation (thích ứng dựa vào cộng
đồng)

DFID

: Bộ phát triển Quốc tế Anh (Department for
International Development)

IIED

: Viện Môi trường và Phát triển quốc tế (International
Institute for Environment and Development)

IPCC

: Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change)

PCLB TW

: Phòng chống lụt bão Trung ương

TK

Thống kê


Tên bảng
Mối quan hệ hoạt động sản xuất nông nghiệp của hộ và
nhóm tuổi
Mô hình logistic: Yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn
phương thức “chuyển lao động của hộ sang làm nghề
khác”
Mối quan hệ giữa yếu tố: nhóm tuổi, học hỏi kinh
nghiệm và việc thay đổi kỹ thuật canh tác
Mô hình hồi quy logistic: Yếu tố ảnh hưởng đến
phương thức thích ứng “thay đổi giống trong chăn
nuôi”
Yếu tố liên quan đến việc thay đổi phương thức chăn
nuôi
Mô hình hồi quy logistic – Yếu tố ảnh hưởng đến việc
lựa chọn phương thức “chuyển một số lao động sang
nghề khác” trong chăn nuôi
Mối quan hệ giữa phương thức “Đầu tư nhiều chi phí
hơn và tình trạng kinh tế gia đình
Hồi quy logistic – Yếu tố liên quan đến phương thức
thích ứng thay đổi giống nuôi trồng
Tương quan giữa điều kiện kinh tế, hợp tác làm ăn với
các hộ khác và phương thức thích ứng “Đầu tư thêm
trang thiết bị nuôi trồng”
Mối quan hệ giữa cách thức thay đổi phương thức nuôi
trồng và yếu tố học hỏi thêm kinh nghiệm, tham gia tập
huấn
Mối quan hệ giữa các biến số độc lập và biện pháp
thích ứng “bỏ nuôi trồng”
Hồi quy logistic – Các yếu tố liên quan đến phương
thức thích ứng “chuyển một số lao động của hộ sang


Bảng 4.9:
Bảng 4.10:
Bảng 4.11:

phương thức “thay đổi vùng đánh bắt”
Mối quan hệ tình trạng kinh tế hộ và một số hoạt động
thích ứng trong đánh bắt thủy sản
Mô hình hồi quy logistics giữa bỏ đánh bắt và độ tuổi
Mô hình logistic: Yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển
lao động của hộ sang nghề khác trong đánh bắt

143
143
144


DANH MỤC CÁC BIỂU
Thứ tự
Biểu đồ 3.1:
Biểu đồ 3.2:
Biểu đồ 3.3 :
Biểu đồ 3.4:
Biểu đồ 3.5:
Biểu đồ 3. 6:
Biểu đồ 3.7:
Biểu đồ 3.8:
Biểu đồ 3.9:
Biểu đồ 3.10:
Biểu đồ 3.11:

Nguồn lực để người dân thay đổi giống
Nguồn lực cộng đồng người dân dựa vào trong hoạt
động thay đổi lịch thời vụ
Công việc các thành viên trong hộ làm khi chuyển lao
động sang nghề khác
Nguồn lực cộng đồng để người dân dựa vào khi
Chuyển một số lao động của hộ sang nghề khác
Nguồn lực cộng đồng người dân lựa chọn trong hoạt
động thay đổi kỹ thuật canh tác
Cách thức bố trí nhân công trong sản xuất nông nghiệp
Mối quan hệ giữa hoạt động thích ứng thay đổi giống
cây trồng và việc tham gia tập huấn về biến đổi khí
hậu
Ảnh hưởng của rét đậm rét hại đến chăn nuôi
Ảnh hưởng của hạn hán đến chăn nuôi
Ảnh hưởng của nắng nóng đến chăn nuôi
Ảnh hưởng của ngập lụt đến chăn nuôi
Ảnh hưởng của mưa lớn đến chăn nuôi
Ảnh hưởng của bão đến chăn nuôi
Các hoạt động thích ứng trong chăn nuôi
Nguồn lực cộng đồng người dân lựa chọn để
Nguồn lực cộng đồng người dân lựa chọn để thay đổi
phương thức chăn nuôi
Nguồn huy động vốn để đầu tư chi phí cho chăn nuôi
Các công việc hộ chăn nuôi làm khi chuyển bớt lao

59
60
60
61

Biểu đồ 4.5:
Biểu đồ 4.6:
Biểu đồ 4.7:
Biểu đồ 4.8:
Biểu đồ 4.9:
Biểu đồ 4.10:
Biểu đồ 4.11:
Biểu đồ 4.12:
Biểu đồ 4.13:
Biểu đồ 4.14:
Biểu đồ 4.15 :
Biểu đồ 4.16:
Biểu đồ 4.17:
Biểu đồ 4.18:
Biểu đồ 4.19:
Biểu đồ 4.20:
Biểu đồ 4.21:

động sang nghề khác
Nguồn lực để một số lao động trong hộ chăn nuôi
chuyển sang làm nghề khác
Ảnh hưởng của rét đậm rét hại đến nuôi trồng thủy sản
Ảnh hưởng của hạn hán đến nuôi trồng thủy sản
Ảnh hưởng của nắng nóng đến nuôi trồng thủy sản
Ảnh hưởng của mưa lớn đến nuôi trồng thủy sản
Ảnh hưởng của ngập lụt đến nuôi trồng thủy sản
Ảnh hưởng của bão đến nuôi trồng thủy sản
Các hoạt động thích ứng trong nuôi trồng thủy sản
Nguồn lực cộng đồng để người dân học hỏi trong
Nguồn lực cộng đồng trong hoạt động thay đổi

132
133
133
134
135
135
136
140


1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia trên thế giới chịu
ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu [82]. Thực tế, trong những thập kỷ
gần đây, chúng ta đã và đang hứng chịu nhiều ảnh hưởng từ những biểu hiện
bất thường của thời tiết như nước biển dâng, nắng nóng, bão, lũ…. Đặc biệt
phải kể đến là các khu vực ven biển. Theo đánh giá thì đây là một trong những
khu vực chịu nhiều tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu [12,
58, 92]. Bởi đa phần dân cư ven biển thường sống tại những khu vực địa lý dễ
bị tổn thương bởi thiên tai trong khi năng lực thích ứng lại hạn chế, các nguồn
lực nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu thiếu thốn. Hơn nữa thu nhập chủ yếu
từ các hoạt động sinh kế dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi thời tiết
như nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp.
Theo nghiên cứu của các nhà khí tượng học, khí hậu Việt Nam đã có
những biến đổi rõ rệt. Cụ thể, trong 50 năm qua nhiệt độ trung bình năm tăng
0.5oC trên phạm vi cả nước, lượng mưa giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam
lãnh thổ [34] . Đến cuối thế kỷ 21, mực nước biển dâng trung bình toàn dải
ven biển Việt Nam từ 57 – 73cm [8]. Bên cạnh đó, lượng phát thải nhà kính từ
các hoạt động giao thông, công nghiệp, sử dụng năng lượng, … đang góp phần

Là một huyện ven biển của tỉnh Thái Bình, Tiền Hải có đường bờ biển
dài trên 23km và có ba cửa sông lớn đổ ra biển đó là sông Ba Lạt, cửa Lân, cửa
Trà Lý. Với điều kiện địa lý - tự nhiên như vậy, giúp cho Tiền Hải có nhiều lợi
thế để phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, việc nằm tiếp giáp với biển và các
con sông lớn cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là trong điều kiện biến đổi khí
hậu đang diễn biến khó lường như hiện nay. Cụ thể, trong những thập kỷ gần
đây, người dân liên tục phải gánh chịu những ảnh hưởng của các hiện tượng
thời tiết cực đoan như: bão, lụt, áp thấp nhiệt đới... Cụ thể, nhiều cơn bão với
cường độ mạnh đã tàn phá nhiều cánh rừng ngập mặn cũng như rừng phòng


3
hộ, làm suy thoái hệ sinh thái ven biển, ảnh hưởng lớn tới nông nghiệp và
ngành thủy hải sản của địa phương. Các đợt rét đậm, rét hại bất thường kéo dài
tại Thái Bình cho thấy sự gia tăng của thiên tai và các hiện tượng cực đoan của
khí hậu, thời tiết làm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông - lâm - ngư
nghiệp. Nắng nóng kéo dài do tác động của biến đổi khí hậu trong những năm
gần đây, khiến sâu bệnh phát sinh trên diện rộng, dịch bệnh gia súc, gia cầm
bùng phát ở nhiều nơi gây tâm lý lo ngại, người nông dân không yên tâm đầu
tư phát triển sản xuất, cây trồng sinh trưởng chậm, ảnh hưởng thời vụ.
Trước tình hình đó, việc chủ động thích ứng trước những tác động xấu
của biến đổi khí hậu là một việc làm quan trọng và cần thiết của người dân nơi
đây. Đề tài “Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông nghiệp của
người dân ven biển Tiền Hải, tỉnh Thái Bình” muốn đi sâu tìm hiểu những
cách thức được cộng đồng người dân áp dụng để thích ứng với tác động của
biến đổi khí hậu. Thêm vào đó, đề tài cũng đi tìm hiểu trong quá trình ứng phó
người dân huy động những nguồn lực nào nhằm thích ứng với những biến đổi
khí hậu tại địa phương.
2. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu

- Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc thích ứng với biến đổi khí hậu
dựa của người dân ven biển ở Tiền Hải.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Qua trải nghiệm của cư dân địa phương ven biển tỉnh Tiền
Hải, biến đổi khí hậu đã tác động như thế nào đến trồng trọt, chăn nuôi, nuôi
trồng và đánh bắt thủy hải sản?
Câu hỏi 2: Người dân ven biển tỉnh Tiền Hải thích ứng với biến đổi khí
hậu như thế nào trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt
thủy hải sản?


5
Câu hỏi 3: Yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thích ứng với biến đổi khí hậu
của người dân ven biển tỉnh Tiền Hải?
5. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Biến đổi khí hậu cụ thể là các hiện tượng thời tiết cực
đoan như bão lũ, nắng nóng bất thường, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng tiêu cực
đối với trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản của các hộ
gia đình cư dân ven biển Tiền Hải trên nhiều phương diện khác nhau như gây
khó khăn trong quá trình sản xuất, làm giảm năng suất và giảm sản lượng.
Giả thuyết 2: Người dân ven biển Tiền Hải đã dựa vào nhiều loại vốn
khác nhau trong cộng đồng như vốn kinh tế (điều kiện kinh tế gia đình), vốn
con người (tuổi, học vấn), vốn xã hội (mạng lưới người thân, bạn bè…) để đưa
ra các cách thức khác nhau nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu trong trồng
trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản như thay đổi giống, thay
đổi cách thức nuôi trồng, đánh bắt và đa dạng hóa sinh kế.
Giả thuyết 3: Các đặc điểm của hộ gia đình và cộng đồng như quy mô hộ
gia đình, vốn kinh tế (điều kiện kinh tế gia đình), vốn con người (tuổi, học
vấn), vốn xã hội (mạng lưới người thân, bạn bè…) là những yếu tố ảnh hưởng
đến việc thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân ven biển Tiền Hải.


Bối cảnh KTXH địa phương
Chiến lược, chính sách liên quan đến BĐKH

Hình 1: Khung phân tích
6.2. Biến số
6.2.1. Biến số độc lập
- Số thế hệ: 1- 1 thế hệ, 2-hai thế hệ, 3-ba thế hệ, 4- bốn thế hệ trở lên
- Quy mô hộ gia đình: được đo bằng số người trong hộ và số thành viên
trong độ tuổi lao động, số thành viên trong độ tuổi lao động có việc làm.
- Điều kiện kinh tế của hộ: là điều kiện kinh tế hiện tại của hộ so với khu
vực mình đang cư trú như thế nào? (nghèo/trung bình/khá giả).


7
- Loại hình kinh tế: thuần nông, hỗn hợp (cả nông nghiệp và phi nông
nghiệp)
- Tham gia tập huấn với biến đổi khí hậu: đã từng tham gia/chưa từng
tham gia
- Học hỏi thêm kinh nghiệm từ người khác: có/không
- Hợp tác làm ăn với hộ khác: có/không
6.2.2. Biến phụ thuộc
Hoạt động thích ứng của người dân với biến đổi khí hậu trong các lĩnh
vực: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, đánh bắt. Các hoạt động này được tìm
hiểu ở các khía cạnh:
- Thay đổi cách thức/biện pháp
- Chuyển sang hoạt động khác
- Chấp nhận tổn thất
Biến phụ thuộc được cụ thể như sau:
- Thay đổi cách thức/ 1. Đầu tư nhiều chi phí hơn


Có/không

2. Một số lao động trong hộ


8
chuyển đến địa phương khác làm
ăn
3. Không trồng trọt nữa
- Chấp nhận tổn thất

1. Không có cách thích ứng gì

Có/ không
- Thay đổi cách thức/ 1. Đầu tư nhiều chi phí hơn
biện pháp:

2. Bố trí thêm nhân công

Có/không

3. Thay đổi phương thức chăn
nuôi
4. Thay đổi giống vật nuôi
5. Tăng/giảm quy mô chăn nuôi

2. Thích ứng
trong lĩnh
vực chăn


trồng

vực nuôi

3. Thay đổi cơ cấu nuôi trồng

trồng thủy

4. Đầu tư thêm trang thiết bị

sản

5. Nâng cấp ao/đầm
6. Bố trí thêm nhân công


9
7. Tăng/giảm quy mô
- Chuyển sang hoạt 1. Một số người trong hộ chuyển
động khác

sang làm thêm nghề khác

Có/không

2. Một số lao động trong hộ
chuyển đến địa phương khác làm
ăn
3. Không chăn nuôi nữa


thủy sản

Có/không

2. Một số lao động trong hộ
chuyển đến địa phương khác làm
ăn
3. Bỏ hoạt động đánh bắt

- Chấp nhận tổn thất
Có/không

1. Không có cách thức gì


10
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1. Ý nghĩa khoa học
Ý nghĩa khoa học của luận án được thể hiện trên hai phương diện sau đây.
Thứ nhất, luận án cung cấp thêm một góc nhìn mới từ tiếp cận xã hội học đối
với chủ đề thích ứng với biến đổi khí hậu của cư dân ven biển, qua đó góp
phần mở rộng sự hiểu biết trên cơ sở khoa học về mối quan hệ giữa biến đổi
khí hậu và các cộng đồng dân cư ở những địa phương cụ thể. Thứ hai, tác giả
vận dụng các quan điểm lý thuyết xã hội học để phân tích, luận giải các dữ liệu
định tính và định lượng thu được từ thực địa nhằm khái quát lên, ở một mức độ
nhất định, một số quan điểm lý thuyết về quá trình thích ứng của người dân
ven biển đổi với biến đổi khí hậu.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa thực tiễn của luận án được thể hiện qua hai điểm sau đây. Trước

Biến đổi khí hậu cùng với những biểu hiện của nó đang trở thành một
vấn đề thách thức của nhân loại trong thế kỷ 21. Những tác động tiềm tàng của
biến đổi khí hậu được ghi nhận ở mọi nơi, mọi lĩnh vực. Do vậy, thích ứng với
biến đổi khí hậu được coi là chìa khóa để giảm khả năng dễ bị tổn thương và
tăng cường năng lực chống chịu với những biến đổi của thời tiết. Đây là vấn
đề không những nhận được sự quan tâm của mọi cộng đồng, mọi quốc gia mà
còn nhận được sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới. Nhiều nghiên cứu
đã chỉ ra những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của biến đổi khí hậu đến mọi
mặt của đời sống xã hội từ các lĩnh vực sản xuất đến sức khỏe của con người.
Mặt khác, các nghiên cứu cũng cho thấy, để hạn chế những ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu, cộng đồng đã tự tìm cách thích ứng thông qua những cách
thức khác nhau tùy thuộc vào ảnh hưởng đến từng lĩnh vực.
Việt Nam được đánh giá là một trong bốn quốc gia chịu nhiều tổn
thương nhất bởi biến đổi khí hậu trên thế giới. Do vậy, việc tìm cách thích ứng
phù hợp là vấn đề cần thiết được đặt ra trong các chiến lược phát triển cũng
như vấn đề đặt ra cho các học giả trong và ngoài nước. Vậy, vấn đề này đã
được nghiên cứu ra sao?
Để có cái nhìn rõ hơn về vấn đề này, tổng quan nghiên cứu sẽ phân tích
những đóng góp của các nghiên cứu đi trước dưới hai hướng nghiên cứu
chính. Thứ nhất, tìm hiểu hoạt động thích ứng của người dân trước những ảnh
hưởng của biến đổi khí hậu đối với các hoạt động sinh kế của người dân. Thứ
hai, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thích ứng. Khách thể nghiên
cứu chủ yếu là cộng đồng ven biển, bởi đây là một trong những nhóm đối
tượng được đánh giá là chịu nhiều tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu.


13
1.1. THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH VỰC TRỒNG
TRỌT, CHĂN NUÔI


trồng [16, 91]. Khi nhiệt độ tăng thêm 10C, nó sẽ làm chậm quá trình phát triển
của lúa từ 5 đến 8 ngày, và đối với đậu và khoai tây là 3 đến 5 ngày [60]. Nhiệt
độ tăng cao và sự thay đổi lượng mưa cũng là nguyên nhân gây làm gia tăng
các loài sinh vật gây hại cho cây trồng như sâu cuốn lá, dày nâu, sâu bướm, bọ
cánh cứng, nấm … [60]. Nghiên cứu của tác giả Đinh Vũ Thanh cũng cho
thấy, nhiệt độ tăng lên khiến cho lượng nước bốc hơi cũng tăng cao dẫn đến
lượng nước tưới tiêu bị thiếu hụt nghiêm trọng [37].
Ngoài ra, biến đổi khí hậu làm gia tăng tình trạng ngập lụt và khiến mùa
màng bị thay đổi: “Khoảng giữa tháng 6 đến tháng 9 và tháng 12 đến tháng 4
là thời vụ chính cho nông nghiệp, nhưng những năm gần đây những cơn lũ có
chiều hướng thay đổi, đã ảnh hưởng tới mùa vụ” [80]. Cũng chung quan điểm
này IIED cho rằng: Nông nghiệp trở nên khó khăn và rủi ro hơn bởi vì tính bất
thường của thời tiết, không thể biết được mùa mưa và lượng mưa do vậy
không thể quyết định được thời điểm thích hợp để trồng trọt, gieo hạt, thu
hoạch [69].
Trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với hoạt động trồng
trọt, các nghiên cứu cũng cho thấy người dân đưa ra nhiều hoạt động thích ứng
khác nhau. Các biện pháp thích ứng chính được người dân chủ động sử dụng
là thay đổi giống cây trồng, thay đổi kỹ thuật canh tác, thay đổi cơ cấu cây
trồng hoặc chuyển sang hoạt động sản xuất kinh doanh khác như nuôi trồng
thủy sản, làm thuê trong các ngành nghề khác,…:
Thay đổi giống cây trồng
Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cũng như trong khu vực và trên thế
giới: Đặng Thị Hoa and Quyền Đình Hà năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi
trường năm 2010, Nguyễn Tuấn Anh năm 2012, Coretha Komba và Edwin


15
Muchapondwa năm 2012, Gutu năm 2014… cho thấy việc thay đổi giống cây
trồng phù hợp với tình hình thời tiết, điều kiện thổ nhưỡng được coi là

cây trồng truyền thống [Dẫn theo 12]. Tại Ninh Bình, trong những năm gần
đây, người dân cấy lúa theo tỷ lệ 50%-50%. Tức là, 50% diện tích canh tác
của mỗi hộ gia đình được dùng để cấy lúa cao sản, nhằm tăng nâng suất. 50%
diện tích đất còn lại được dung để cấy lúa chất lượng cao. Việc thay đổi tỷ lệ
diện tích gieo trồng như thế này giúp cho người dân ở đây vừa có gạo chất
lượng cao để ăn, vừa tránh được suy giảm năng suất, hay thiệt hại. Đối với
những loại giống cho năng suất cao, chống chọi tốt hơn với thời tiết bất
thường, nhưng chất lượng gạo không được ngon thì có thể dùng để chăn nuôi
gia súc, gia cầm [4].
Thay đổi kỹ thuật canh tác
Cùng với thay đổi giống cây trồng thì thay đổi kỹ thuật canh tác cũng
được người dân chú trọng. Bởi việc thay đổi giống mới cũng cần song hành
với kỹ thuật canh tác mới như: phân bón, thời gian gieo trồng, thuốc trừ
sâu,… [16].
Nhiều nghiên cứu tại các khu vực ven biển Việt Nam: Nguyễn Tuấn
Anh năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2010, Đặng Thị Hoa và
Quyền Đình Hà năm 2014, … cho thấy trước các thay đổi về quy luật mùa
màng. Cụ thể, những biểu hiện thời tiết không mang tính đặc trưng của mùa
đó. Ví dụ, Thông thường, mùa xuân là điều kiện tốt để sản xuất nông nghiệp
nhưng những năm gần đây nó lại thể hiện không rõ nét là mùa xuân. Đáng ra
phải ấm áp thì nó vẫn cứ rét buốt. Hay, Đôi khi lại sang mùa hạ sớm, mùa
xuân ít, mùa hạ nắng rất nóng [4]. Do vậy, các cộng đồng phải tính toán cụ
thể về thời gian hoạt động sinh kế để giảm thiểu khả năng tổn thương trước
những rủi ro về biến đổi khí hậu: ví dụ, họ thay đổi thời gian trồng và thu
hoạch lúa (chuyển vụ mùa lên sớm hoặc muộn hơn) nhằm tránh mùa lũ hoặc


17
nguy cơ thời tiết xấu [4, 7, 16]. Nghiên cứu của Trầnn Văn Hiếu tại An Giang
cho thấy, người dân chuyển từ việc cấy hai vụ dài ngày sang 3 vụ ngắn ngày

Bangladesh cho thấy để thích ứng với những điều kiện thời tiết cực đoan do
biến đổi khí hậu như: triều cường, lốc xoáy, xâm nhập mặn, lũ lụt và hạn hán,
bên cạnh các biện pháp đa dạng hóa mùa vụ, trồng loại giống ngắn ngày thì
việc chú trọng vào biện pháp tưới tiêu, thủy lợi được quan tâm hàng đầu. Bởi
theo người dân ở đây, biện pháp thủy lợi, tưới tiêu giúp làm tăng sản lượng,
nâng cao dinh dưỡng cho cây trồng [87].
Chuyển sang hoạt động sản xuất khác
Ngoài hai biện pháp thay đổi giống cây và thay đổi kỹ thuật canh tác,
nhiều hộ gia đình đặc biệt những gia đình có điều kiện kinh tế khá và vừa
chuyển sang hoạt động nuôi trồng thủy sản [12, 16, 17], hoặc chuyển hẳn
sang các hoạt động phi nông nghiệp, đi làm ăn xa ở các địa phương khác [4,
13]; liên kết làm ăn giữa các hộ, dưới hình thức vài hộ gia đình cùng nhau
đóng góp làm ăn chung với nhau, điều này giúp giảm gánh nặng đầu tư [87].
1.1.2. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực chăn nuôi
Đối với vật nuôi, biến đổi khí hậu biểu hiện là các hiện tượng thời tiết
cực đoan cũng gây nhiều tổn thất như: làm hỏng cở sở khu nuôi, vật nuôi bị
chết hoặc chậm lớn [60]. Biến đổi khí hậu còn đe dọa môi trường sống, đe dọa
đến nguồn cung cấp thức ăn cho nước uống cho chăn nuôi, giảm sức đề kháng
và tăng nguy cơ bùng phát các dịch bệnh [14]. Theo báo cáo của Cục chăn
nuôi trong đợt rét vào năm 2011, đã có hơn 28.690 gia súc bị chết rét; trong đó
96% là bê nghé non và trâu, bò già; số còn lại là các gia súc khác. Ước tính
thiệt hại đối với đàn vật nuôi do rét đậm, rét hại là hơn 130 tỷ đồng, chưa tính
đến công lao động, vật tư và sức sản xuất của vật nuôi giảm sút. Theo thống kê
sơ bộ của Cục chăn nuôi, số gia súc bị chết do rét đậm, rét hại lên tới 25.260



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status