HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THÚY MAI
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG
LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP CỦA NGƯỜI DÂN VEN
BIỂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: XÃ HỘI HỌC
Mã số: 62 31 03 01
HÀ NỘI – 2018
Công trình đƣợc hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS Lê Ngọc Hùng
2. PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh
Phản biện 1: ...............................................................................
...............................................................................
Phản biện 2: ...............................................................................
...............................................................................
Phản biện 3: ...............................................................................
...............................................................................
Luận án đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi......giờ…...ngày…...tháng…...năm 201…
rét đậm, rét hại bất thường kéo dài tại Thái Bình cho thấy sự gia tăng của
thiên tai và các hiện tượng cực đoan của khí hậu, thời tiết làm ảnh hưởng
trực tiếp đến sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp. Nắng nóng kéo dài do tác
động của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây, khiến sâu bệnh phát
sinh trên diện rộng, dịch bệnh gia súc, gia cầm bùng phát ở nhiều nơi gây
tâm lý lo ngại, người nông dân không yên tâm đầu tư phát triển sản xuất,
cây trồng sinh trưởng chậm, ảnh hưởng thời vụ.
Trước tình hình đó, việc chủ động thích ứng trước những tác động
xấu của biến đổi khí hậu là một việc làm quan trọng và cần thiết của người
dân nơi đây. Đề tài “Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nông
nghiệp của người dân ven biển Tiền Hải, tỉnh Thái Bình” muốn đi sâu tìm
hiểu những cách thức được cộng đồng người dân áp dụng để thích ứng với
tác động của biến đổi khí hậu. Thêm vào đó, đề tài cũng đi tìm hiểu trong
2
quá trình ứng phó người dân huy động những nguồn lực nào nhằm thích
ứng với những biến đổi khí hậu tại địa phương.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đánh giá thực trạng, yếu tố ảnh
hưởng đến việc thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân ở ven biển,
trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thích
ứng với biến đổi khí hậu ở ven biển.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Tìm hiểu tác động của biến đổi khí hậu đến trồng trọt, chăn nuôi,
nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản ở khu vực ven biển huyện Tiền Hải; (2)
Tìm hiểu các cách thức thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân ven
biển huyện Tiền Hải trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và
đánh bắt thủy hải sản; (3) Làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn
phương thức thích ứng với biến đổi khí hậu dựa của người dân ven biển ở
bắt thủy hải sản?
Câu hỏi 3: Yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thích ứng với biến đổi khí
hậu của người dân ven biển tỉnh Tiền Hải?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Biến đổi khí hậu cụ thể là các hiện tượng thời tiết cực đoan
như bão lũ, nắng nóng bất thường, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng tiêu cực
đối với trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản của các hộ
gia đình cư dân ven biển Tiền Hải trên nhiều phương diện khác nhau như
gây khó khăn trong quá trình sản xuất, làm giảm năng suất và giảm sản
lượng.
Giả thuyết 2: Người dân ven biển Tiền Hải đã dựa vào nhiều loại
vốn khác nhau trong cộng đồng như vốn kinh tế (điều kiện kinh tế gia
đình), vốn con người (tuổi, học vấn), vốn xã hội (mạng lưới người thân,
bạn bè…) để đưa ra các cách thức khác nhau nhằm thích ứng với biến đổi
khí hậu trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản như
thay đổi giống, thay đổi cách thức nuôi trồng, đánh bắt và đa dạng hóa sinh
kế.
Giả thuyết 3: Các đặc điểm của hộ gia đình và cộng đồng như quy
mô hộ gia đình, vốn kinh tế (điều kiện kinh tế gia đình), vốn con người
(tuổi, học vấn), vốn xã hội (mạng lưới người thân, bạn bè…) là những yếu
tố ảnh hưởng đến việc thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân ven
biển Tiền Hải.
5.3. Các biến số
Biến số độc lập
- Số thế hệ: 1- 1 thế hệ, 2-hai thế hệ, 3-ba thế hệ, 4- bốn thế hệ trở
lên
- Quy mô hộ gia đình: được đo bằng số người trong hộ và số thành
viên trong độ tuổi lao động, số thành viên trong độ tuổi lao động có việc
làm.
- Điều kiện kinh tế của hộ: là điều kiện kinh tế hiện tại của hộ so
- Hợp tác làm ăn với hộ khác
- Tham gia tập huấn
- Tuổi, giới tính, học vấn người
tham gia chính
Biến phụ thuộc
Thích ứng với BĐKH trong
các lĩnh vực trồng trọt, chăn
nuôi, nuôi trồng, đánh bắt
thủy sản
- Thay đổi biện pháp/cách
thức
- Chuyển sang hoạt động khác
- Chấp nhận tổn thất
Bối cảnh KTXH địa phương
Chiến lược, chính sách liên quan đến BĐKH
5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa khoa học
Ý nghĩa khoa học của luận án được thể hiện trên hai phương diện sau
đây. Thứ nhất, luận án cung cấp thêm một góc nhìn mới từ tiếp cận xã hội
học đối với chủ đề thích ứng với biến đổi khí hậu của cư dân ven biển, qua
đó góp phần mở rộng sự hiểu biết trên cơ sở khoa học về mối quan hệ giữa
biến đổi khí hậu và các cộng đồng dân cư ở những địa phương cụ thể. Thứ
hai, tác giả vận dụng các quan điểm lý thuyết xã hội học để phân tích, luận
giải các dữ liệu định tính và định lượng thu được từ thực địa nhằm khái
quát lên, ở một mức độ nhất định, một số quan điểm lý thuyết về quá trình
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH
VỰC TRỒNG TRỌT, CHĂN NUÔI
1.1.1. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt
Điểm chung các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
cho thấy: Biến đổi khí hậu gây hậu quả nặng nề đến hoạt động trồng trọt
của người dân như làm giảm diện tích canh tác, giảm năng suất và sản
lượng, làm gia tăng dịch bệnh, mất mùa… Trước những ảnh hưởng này,
người nông dân đưa ra nhiều cách thức thích ứng khác nhau Các biện pháp
thích ứng chính được người dân chủ động sử dụng là thay đổi giống cây
trồng, thay đổi kỹ thuật canh tác, thay đổi cơ cấu cây trồng hoặc chuyển
sang hoạt động sản xuất kinh doanh khác như nuôi trồng thủy sản, làm thuê
trong các ngành nghề khác,…
1.1.2. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực chăn nuôi
Tổng thuật các nghiên cứu cho thấy, biến đổi khí hậu biểu hiện là
các hiện tượng thời tiết cực đoan cũng gây nhiều tổn thất đối với chăn nuôi
như: làm hỏng cở sở khu nuôi, vật nuôi bị chết hoặc chậm lớn. Biến đổi khí
hậu còn đe dọa môi trường sống, đe dọa đến nguồn cung cấp thức ăn cho
nước uống cho chăn nuôi, giảm sức đề kháng và tăng nguy cơ bùng phát
các dịch bệnh. Để giảm thiểu những thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra đối
với chăn nuôi, người dân thích ứng bằng cách các hộ gia đình tập trung vào
thay đổi giống vật nuôi, kỹ thuật nuôi, đầu tư vào thức ăn và phòng bệnh,
giảm số lượng vật nuôi hoặc tìm các công việc phi nông nghiệp khác để
làm.
1.2. THÍCH ỨNG VỚI BĐKH TRONG LĨNH VỰC NUÔI
TRỒNG VÀ ĐÁNH BẮT THỦY SẢN
1.2.1. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực nuôi trồng
thủy sản
Các nghiên cứu cho thấy, biến đổi khí hậu với biểu hiện là các hình
1.4 Một số điểm chính rút ra từ tổng quan nghiên cứu
Tổng quan nghiên cứu các công trình trên giúp tác giả vận dụng và
kế thừa các nghiên cứu đi trước luận án sẽ đi tìm hiểu và khai thác những
khoảng trống còn lại nhằm mang đến một cách tiếp cận mang màu sắc xã
hội học về vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu. Cụ thể, luận án sẽ tìm
hiểu những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng như các hoạt động thích
ứng của người dân với biến đổi khí hậu như thế nào, các nhân tố xã hội
(nguồn lực xã hội nào) ảnh hưởng đến cách lựa chọn các phương thức thích
ứng. Ngoài ra, luận án cũng tìm hiểu xem xét vai trò về mạng lưới xã hội
của người dân được tận dụng như thế nào trong quá trình thích ứng.
Chƣơng 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. CÁC KHÁI NIỆM VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Biến đổi khí hậu
Nghiên cứu dựa vào quan niệm của Công ước khung của Liên Hiệp
Quốc nhằm tìm hiểu những biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu.
8
Biến đổi khí hậu là do hoạt động của con người gây ra một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và do
sự biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong thời kỳ có thể so
sánh được
2.1.2. Thích ứng với biến đổi khí hậu
Luận án dựa vào quan niện của IPCC (2001): Thích ứng với biến đổi
khí hậu là sự điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên hoặc con người nhằm
ứng phó với những biến đổi thực tế hoặc dự kiến của khí hậu hoặc các ảnh
hưởng của chúng, để giảm bớt tác hại hoặc khai thác những cơ hội có ích
do chúng mang lại.
9
bảo đảm phương tiện sinh sống: sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương
đầu với và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài
sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và
đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn
cầu, trong ngắn hạn và dài hạn.
2.2. CÁC LÝ THUYẾT VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thích ứng với BĐKH từ tiếp cận khung sinh kế bền vững
Theo khung này, những người sống và tồn tại trong bối cảnh dễ bị
tổn thương, họ phải đối mặt với những cú shock, những rủi ro, bất
thường. Những điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sinh kế và cuộc sống của
họ. Do vậy để vượt qua và đảm bảo cuộc sống mỗi hộ gia đình đều phải
có chiến lược sinh kế dựa vào các nguồn lực có sẵn trong bối cảnh kinh tế
xã hội, chính sách nhất định của địa phương. Vận dụng cách tiếp cận của
DFID, luận án sẽ đi tập trung tìm hiểu và phân tích cách thức người dân
vận dụng các loại vốn trong bối cảnh của địa phương nhằm ứng phó với
tình hình thời tiết và đưa ra những chiến lược sinh kế để thích ứng với
tình hình biến đổi khí hậu đó.
2.2.2. Lý thuyết mạng lƣới xã hội
Vận dụng lý thuyết và phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội vào việc
thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng những người dân ta có thể
tìm hiểu các kiểu quan hệ xã hội mà các cá nhân tìm kiếm nhằm trao đổi
thông tin và học hỏi trong việc tìm kiếm phương thức và hỗ trợ nhau trong
việc thích ứng. Đối với các hộ gia đình nói chung và các hộ gia đình ven
biển tại địa bàn nghiên cứu nói riêng, mạng lưới xã hội có thể hiểu là những
mối quan hệ họ hàng, làng xóm, bạn bè, người quen, các mối quan hệ với
chính quyền với các tổ chức chính trị xã hội, với các hội nhóm … Mạng
lưới những quan hệ này vừa là chỗ dựa tinh thần vừa là nguồn lực được
khai thác trong quá trình thích ứng với biến đổi khí hậu. Thông qua mạng
lưới các hộ gia đình có thể học hỏi trao đổi thông tin nhằm nâng cao kiến
Tình hình biến đổi khí hậu và những biểu hiện của biến đổi khí hậu
tại huyện như: bão, lũ lụt, hạn hán, lũ, ngập úng, xâm nhập mặn ở vùng ven
biển của huyện,.... đang diễn ra ngày một phức tạp và khó lường. Chính
những diễn biến phức tạp này khiến cho cây trồng vật nuôi của địa bàn bị
ảnh hưởng nghiêm trọng, gây khó khăn tới đời sống của người dân.
2.4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu
Để có thêm nhiều thông tin, kiến thức, nghiên cứu phân tích, tìm
hiểu nội dung các tài liệu có liên quan đến thực trạng, tác động, hoạt động
ứng phó với BĐKH như: các tài liệu, bài viết, sách, báo, báo cáo; Các báo
cáo thống kê của tỉnh – huyện – xã…
2.4.2. Phƣơng pháp quan sát
Để có thông tin đầy đủ và chính xác hơn, nghiên cứu sử dụng
phương pháp quan sát tại thực địa để tìm hiểu về tình hình biến đổi khí hậu,
các lĩnh vực sinh kế của người dân, quan sát cách thức người dân sử dụng
để thích ứng với biến đổi khí hậu.
2.4.3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng trong suốt quá trình thu
thập thông tin bao gồm 3 giai đoạn:
11
Giai đoạn tìm hiểu và đánh giá sơ bộ về địa bàn nghiên cứu: tiến
hành phỏng vấn sâu nhằm thu thập thông tin về địa bàn nghiên cứu, và giúp
cho việc xây dựng thang đo, hoàn thiện bảng hỏi.
Giai đoạn tiếp theo: phỏng vấn sâu tiến hành song song với quá trình
thu thập thông tin định lượng, nhằm thu thập các thông tin sâu hơn, như các
thông tin về lý do, nguyên nhân, mục đích của hoạt động thích ứng.
Giai đoạn thứ 3: phỏng vấn sâu được thực hiện sau khi thu thập và
xử lý thông tin định lượng. Trong giai đoạn này, phỏng vấn sâu nhằm giúp
p = là ước tính tỷ lệ % của tổng thể (giả định p = 0.5)
12
q = 1-p (= 0,5).
e = sai số cho phép (+-5%).
Từ công thức trên ta tính được cỡ mẫu là: 385 hộ và đƣợc làm tròn
lên 400 hộ.
Phương pháp chọn mẫu:
Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ 8 xã ven biển huyện Tiền Hải, bằng phương pháp
chọn ngẫu nhiên không hoàn lại, tác giả chọn được 2 xã: Đông Hoàng và
Nam Thịnh.
Giai đoạn 2: từ 2 xã này tác giả lập danh sách mẫu của từng xã:
Xã Đông Hoàng có khoảng 1234 hộ, gồm 7 thôn: Thôn Bạch Long,
Thôn Chỉ Trung, Thôn Đông Hoàng, Thôn Hải Long, Thôn Mỹ Đức, Thôn
Tân Lạc, Thôn Vũ Xá. Dân số giữa các thôn tương đối đồng đều về số
lượng (Danh sách các hộ được đưa vào phần mềm excel và xếp thứ tự theo
tên chủ hộ theo trật tự bảng chữ cái của từng thôn, sau đó nối các thôn lại
với nhau cũng theo thứ tự bảng chữ cái đầu tiên của tên thôn đó: Bạch
Long, Chỉ Trung, Đông Hoàng, Hải Long, Mỹ Đức, Tân Lạc, Vũ Xá).
Xã Nam Thịnh: khoảng 1712 hộ, gồm 5 thôn: Thôn Quang Thịnh,
Thôn Đồng Lạc, Thôn Hợp Châu, Thôn Thiện Châu, Thôn Thiện Tường.
Dân số giữa các thôn tương đối đồng đều về số lượng. Danh sách mẫu của
Xã Nam Thịnh làm tương tự như xã Đông Hoàng.
Tiếp theo danh sách chọn mẫu của hai xã được nối với nhau (nối
danh sách theo xã: từ hộ đầu tiên của xã Nam Thịnh đến hộ cuối cùng xã
Nam Thịnh nối với hộ đầu tiên của xã Đông Hoàng đến hộ cuối cùng của
xã Đông Hoàng.
Các hộ lựa chọn dựa trên bước nhảy k = N/n = (2946/400) = 7
Trong chương này nghiên cứu cung cấp bức tranh về tình hình biến
đổi khí hậu của huyện thông qua những thông tin được cung cấp từ các đơn
vị chức năng của tỉnh, huyện và qua phỏng vấn cán bộ, người dân. Đồng
thời, nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông
nghiệp được đo thông qua những trải nghiệm của người dân về những tác
động của các biểu hiện thời tiết bất thường xuất hiện tại địa phương tới các
hoạt động sản xuất này. Từ đó, tìm hiểu người dân đã có những phương
thức nào, họ vận dụng những nguồn lực nào để thích ứng với những ảnh
hưởng đó.
3.1. THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH
VỰC TRỒNG TRỌT
3.1.1. Ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến trồng trọt
Quá trình nghiên cứu thực địa cho thấy nhiều hiện tượng thời tiết cực
đoan – biểu hiện cụ thể của biến đổi khí hậu diễn ra ở các địa bàn nghiên
cứu và tác động đến các loại cây trồng. Cụ thể là, người dân tại các địa bàn
nghiên cứu cho biết các hiện tượng thời tiết cực đoan như xâm nhập mặn,
rét đậm, rét hại, nắng nóng, ngập lụt, hạn hán, bão gây ảnh hưởng khá
nghiêm trọng đối với lúa và hoa màu của họ. Đối với cây lúa, tại địa bàn
khảo sát người dân gieo trồng hai vụ: vụ xuân và vụ mùa. Tuy nhiên, năng
suất hầu như không ổn định do phụ thuộc vào điều kiện khí hậu từng mùa
và từng năm. Đối với hoa màu, tình hình cũng tương tự. Nhiều diện tích
14
hoa màu bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết, khí hậu: năng suất mùa màng
giảm, cây trồng bị chết...
3.1.2. Các phƣơng thức thích ứng trong lĩnh vực trồng trọt
Trước những ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan,
người dân đưa ra nhiều hoạt động nhằm thích ứng nhằm hạn chế những
thiệt hại. Kết quả khảo sát cho thấy, người dân sử dụng nhiều cách khác
thể nhóm đã từng tham gia tập huấn về biến đổi khí hậu có tỷ lệ thay đổi
giống cây trồng nhiều hơn
15
Đối với biện pháp thích ứng “chuyển một số lao động sang hoạt
động khác” (hoạt động đa dạng hóa sinh kế): nghiên cứu kiểm định bằng
mô hình hồi quy logistic cho thấy: việc lựa chọn biện pháp thích ứng
“chuyển một số lao động của hộ sang hoạt động khác” hay nói cách khác
biện pháp đa dạng hóa sinh kế của các hộ nông nghiệp phụ thuộc vào số lao
động trong độ tuổi lao động và loại hình kinh tế hộ. Cụ thể: Những hộ gia
đình kinh tế phi nông và hỗn hợp có tỷ lệ chuyển cao hơn là những hộ
thuần nông.
Những hộ gia đình có số lao động trong độ tuổi lao động
cao hơn cũng sẽ có tỷ lệ chuyển bớt lao động sang các ngành nghề khác
nhiều hơn.
Trong hoạt động thích ứng thay đổi kỹ thuật canh tác, có sự khác
nhau giữa các nhóm tuổi, và nhóm có học hỏi kinh nghiệm từ người khác.
Cụ thể, tỷ lệ thay đổi kỹ thuật canh tác tỷ lệ nghịch với nhóm tuổi, trong
những người có thay đổi kỹ thuật canh tác thì nhóm ít tuổi hơn có tỷ lệ thay
đổi kỹ thuật canh tác cao hơn, đa số người thuộc nhóm này có học hỏi thêm
kinh nghiệm sản xuất
3.2. THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH
VỰC CHĂN NUÔI
3.2.1. Ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến chăn nuôi
Chăn nuôi trong địa bàn được khảo của huyện chủ yếu là chăn nuôi
hộ gia đình. Vật nuôi chủ yếu là gia súc, gia cầm: lợn, bò, gà, vịt,… Gần
đây, xu hướng mở rộng chăn nuôi dưới hình thức gia trại, trang trại có xu
hướng gia tăng. Trong những năm gần đây, thời tiết thất thường quanh năm
gây ảnh hưởng không nhỏ đến chăn nuôi. Kết quả khảo sát cho thấy nắng
lực: vốn, kiến thức, kỹ năng…
Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến phương thức thích ứng “thay đổi
giống chăn nuôi: nghiên cứu đưa vào các yếu tó nhân khẩu cá nhân và hộ
gia đình với biến số phụ thuộc, kết quả cho thấy việc chọn biện pháp “thay
đổi giống” phụ thuộc vào các yếu tố: có tham gia tập huấn về biến đổi khí
hậu hay không và có học thêm kinh nghiệm sản xuất hay không. Cụ thể:
Nhóm có tham gia tập huấn và nhóm có học hỏi thêm kinh nghiệm sản xuất
có tỷ lệ thay đổi giống cao hơn.
Đối với biện pháp “thay đổi phương thức chăn nuôi”
Nghiên cứu chỉ ra có mối quan hệ giữa các yếu tố và học vấn,
nhóm tuổi với việc thay đổi phương thức chăn nuôi có mối quan hệ với
nhau. Cụ thể, những người có trình độ học vấn cao hơn thường áp dụng
biện pháp thay đổi phương thức cao hơn, đáng chú ý những người học từ
cấp 3 đặc biệt là trung cấp trở lên tỷ lệ thay đổi phương thức chăn nuôi cao
gấp 2 lần so với nhóm học vấn cấp 1 và cấp 2. Với nhóm ít tuổi hơn có tỷ lệ
thay đổi phương thức chăn nuôi cao hơn nhất là nhóm trẻ từ 40 trở xuống
tỷ lệ áp dụng thay đổi phương thức chăn nuôi trong nhóm là 85% trở lên.
Nhóm có học hỏi kinh nghiệm sản xuất có lệ thay đổi phương thức chăn
nuôi cao hơn so với nhóm không học hỏi thêm kinh nghiệm sản xuất.
Yếu tố liên quan đến hoạt động thích ứng “Chuyển một số lao động
của hộ sang nghề khác”: việc chuyển lao động sang các nghề khác phụ
thuộc vào các yếu tố: số thành viên trong độ tuổi lao động và tổng số người
17
đang sinh sống tại hộ. Cụ thể: hộ có số thành viên trong độ tuổi lao động
nhiều hơn sẽ có tỷ lệ chuyển sang công việc khác cao hơn.
Yếu tố ảnh hưởng đến phương thức thích ứng “Đầu tư thêm chi
phí” trong chăn nuôi: Việc đầu tư chi phí có liên quan đến vốn đầu tư nên
tỷ lệ áp dụng ở những hộ gia đình khá giả cao hơn. Cụ thể trong số những
Chƣơng 4
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH VỰC NUÔI
TRỒNG VÀ ĐÁNH BẮT THỦY SẢN
4.1. THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH
VỰC NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
4.1.1. Ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản
Trong nuôi trồng, theo cảm nhận của người dân thì mọi sự biến
động của thời tiết khí hậu đều ảnh hưởng đến nghề nuôi trồng, trong đó ảnh
hưởng nhiều nhất là bão, nắng nóng, mưa lớn, ngập lụt. Những ảnh hưởng
chủ yếu là làm gia tăng dịch bệnh, vật nuôi bị chết, dịch bệnh nhiều hơn và
mất trắng mùa vụ,.. Còn hạn hán và nước biển dâng chưa nhận thấy nhiều
ảnh hưởng.
4.1.2. Các phƣơng thức thích ứng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy
sản
Trước những ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu, người nuôi
trồng chủ động đưa ra nhiều biện pháp thích ứng nhằm đảm bảo ổn định
sinh kế và thu nhập: hoạt động thích ứng được người dân áp dụng nhiều
nhất là thay đổi giống (48.5%), thay đổi phương thức nuôi trồng (37.3%),
tiếp đến là đầu tư thêm các trang thiết bị (33.6%), chuyển một số lao động
của hộ sang nghề khác (34.3%). Ngoài ra, một số biện pháp khác cũng
được áp dụng thay đổi cơ cấu nuôi trồng (28.4%), đáng chú ý tỷ lệ bỏ nuôi
trồng cũng khá cao (26.1%), các hộ khá giả hơn đầu tư vào nâng cấp ao
đầm (19.4%)…
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, trong quá trình nuôi trồng, người
dân biết tận dụng vốn xã hội (mạng lưới xã hội) nhằm trao đổi học hỏi các
thông tin về thị trường, nguồn giống, kinh nghiệm nuôi trồng. Đồng thời,
những mối quan hệ chặt chẽ như họ hàng và bạn bè thân thiết còn là kênh
huy động vốn khi gặp khó khăn về tài chính.
4.1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng đến việc lựa chọn phƣơng thức
thích ứng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản
hộ”. Tức là: nhóm có thu nhập từ nuôi trồng ít hơn sẽ có tỷ lệ chuyển lao
động của hộ sang nghề khác nhiều hơn, và hộ có nhiều người trong độ tuổi
lao động nhiều hơn thì tỷ lệ chuyển lao động sang ngành nghề khác cũng
nhiều hơn.
4.2. THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG LĨNH
VỰC ĐÁNH BẮT THỦY SẢN
4.2.1. Ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến đánh bắt thủy sản
Trong đánh bắt thủy sản, theo kết quả nghiên cứu thì nắng nóng và
bão gây ảnh hưởng nhiều nhất, nhất là bão gây nhiều thiệt hại. Những thiệt
hại chủ yếu là năng suất giảm, vùng đánh bắt thay đổi, chủng loại hải sản
giảm, hỏng tàu thuyền. Các hiện tượng khác có ít ảnh hưởng hơn.
4.2.2. Các phƣơng thức thích ứng trong lĩnh vực đánh bắt thủy
sản
Biến đổi khí hậu cùng với việc khai thác quá đà, khiến cho ngư dân
gặp nhiều khó khăn trong việc đảm bảo sản lượng khai thác. Những cơn
bão mấy năm nay nhiều hơn trước, cường độ mạnh hơn và tính bất thường
của bão cũng lớn hơn, người làm nghề đánh bắt cũng phải tính toán để đưa
20
ra các biện pháp thích ứng phù hợp. Kết quả khảo sát định lượng cho thấy,
hoạt động thích ứng được người dân chú ý nhất vẫn là theo dõi dự báo thời
tiết (chiếm 95.2%), tiếp theo là các hoạt động khác như: thay đổi vùng đánh
bắt (63.9%), nâng câp tàu thuyền (44.6%), chuyển sang làm nghề khác
(39.8%)…
Trong hoạt động đánh bắt, các mối quan hệ bạn bè, người cùng
nghề góp phần hỗ trợ nhau cung cấp các thông tin về tình hình thời tiết,
thông tin về ngư trường. Đồng thời, việc hợp tác làm ăn giữa các hộ cũng
phổ biến: cùng nhau góp vốn để đóng thuyền bè...
4.2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc lựa chọn phƣơng thức
ngành nghề khác phụ thuộc vào quy mô hộ gia đình (số người sống tại hộ
và số thành viên trong độ tuổi lao động).
4.3. TIỂU KẾT
Một là, Các biểu hiện của biến đổi khí hậu gây nhiều ảnh hưởng
đến người nuôi trồng thủy hải sản nhất là đối với hoạt động nuôi trồng. Hai
là, Người dân dựa vào nhiều nguồn lực để đưa ra các biện pháp thích ứng
phù hợp., những yếu tố: học vấn, tham gia tập huấn về biến đổi khí hậu,
hợp tác với các hộ khác. Ba là, Những hỗ trợ từ các mạng lưới xã hội hay
nói cách khác là vốn xã hội đóng vai trò quan trọng:. Ví dụ, thông qua mối
quan hệ bạn bè người thân, họ trao đổi cách thức, phương thức mới, đồng
thời đây cũng là nguồn lực quan trọng để họ huy động vốn tài chính trong
quá trình thích ứng. Thông qua các tổ chức chính trị xã hội, chính quyền,
người dân được cung cấp kiến thức, cách thức nuôi trồng và những chủ
chương chính sách hỗ trợ.
KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã góp phần tìm hiểu những ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu đối với từng lĩnh vực sinh kế của người dân ven biển Tiền Hải, mô
hình thích ứng được người dân sử dụng, những nhân tố ảnh hưởng đến việc
lựa chọn đến từng phương thức thích ứng.
Nghiên cứu đưa ra 3 mô hình thích ứng: thay đổi cách thức/biện
pháp, chuyển sang hoạt động khác, chấp nhận tổn thất với các biến số được
cụ thể hóa với từng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho
thấy, mô hình được ưu tiên sử dụng nhất là thay đổi cách thức biện pháp
tiếp đến là chuyển sang hoạt động khác, mô hình chấp nhận tổn thất (cụ thể
không đưa ra biện pháp gì) không phải là mô hình được lựa chọn của người
dân. Cụ thể, trong từng lĩnh vực sản xuất các hộ gia đình và họ đều phải tự
điều chỉnh bằng những thay đổi để thích ứng được với điều kiện hiện tại:
thay đổi giống cây trồng vật nuôi, thay đổi phương thức sản xuất, đầu tư
vào việc nâng cao về kỹ thuật, đa dạng hóa sinh kế (chuyển một số thành
viên của hộ sang hoạt động sản xuất khác). Kết quả nghiên cứu cũng cho
thông tin về thị trường việc làm, thị trường đầu vào/đầu ra của các sản
phẩm, chia sẻ các thông tin kỹ thuật, phương thức sản xuất mới phù hợp
hơn... Ngoài ra, mạng lưới bạn bè, người thân, những mối quan hệ chặt còn
là kênh hỗ trợ những khó khăn tài chính trong bối cảnh nguồn lực gia đình
và những hỗ trợ từ cơ chế chính sách còn hạn chế.
KHUYẾN NGHỊ
Đối với chính quyền địa phương:
Chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc nâng
cao năng lực thích ứng của cộng đồng tại địa phương. Chính quyền là kênh
cung cấp thông tin và ban hành các chính sách quan trọng, là cầu nối của
dân với các cơ quan liên quan. Do vậy cần phát huy một cách hiệu quả vai
trò trách nhiệm của chính quyền địa phương trong các chương trình ứng
phó với biến đổi khí hậu tại địa bàn. Cụ thể:
Tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trồng trọt,
trong đó chú trọng phát triển các loại giống cây trồng, giống vật nuôi thích
ứng tốt với những thay đổi của thời tiết và tình hình dịch bệnh. Kết quả
phỏng vấn cũng cho thấy, người dân đều cho rằng việc lựa chọn được cây
23
và con giống tốt, phù hợp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng sản phẩm và phòng bệnh. Do vậy chính quyền địa phương cần tăng
cường khuyến khích, liên kết với các cơ sở có uy tín để đảm bảo phát triển
và cung cấp chất lượng cây trồng, vật nuôi tốt cho địa phương.
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ
cao phát huy lợi thế của vùng. Đó là, ứng dụng và kết hợp các công nghệ
mới, tiên tiến và bền vững vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất,
tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, giải phóng sức lao
động đối với người làm nông nghiệp.
Cần nâng cao nhận thức, tuyên truyền phổ biến thông tin tới