BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ DIỄM HẰNG
CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM – SO SÁNH
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trương Quang Vinh
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
với sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trương Quang Vinh. Các số liệu, thông tin
và kết quả được nêu trong Luận văn là chính xác và trung thực. Những kết luận
khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
khoa học nào.
Tác giả Luận văn
Lê Thị Diễm Hằng
Bảng 1.3. Tổng số vụ án và bị cáo tội Cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 BLHS năm
1999) từ năm 2011 – 2015
96
Bảng 1.4. Tổng số vụ án và bị cáo tội Giao cấu với trẻ em (Điều 115 BLHS năm
1999) từ năm 2011 – 2015
96
Bảng 1.5. Tổng số vụ án và bị cáo tội Dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS năm
1999) từ năm 2011 – 2015
97
Bảng 1.6. Tổng số vụ án và bị cáo tội Mua dâm người chưa thành niên (Điều 256
BLHS năm 1999) từ năm 2011 – 2015
97
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM THEO PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái quát về các tội xâm phạm tình dục trẻ em
31
1.2.4. Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS năm 1999)
33
1.2.5. Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS năm 1999)
35
1.3. Một số điểm mới về các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo Bộ luật Hình
sự Việt Nam năm 2015
1.3.1. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS năm 2015)
37
39
1.3.2. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144 BLHS năm
2015)
41
1.3.3. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 BLHS năm 2015)
41
1.3.4. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146 BLHS năm 2015)
47
2.1.2. Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong Bộ luật Hình sự Trung Quốc
65
2.1.3. Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga
69
2.1.4. Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong Bộ luật Hình sự Hoa Kỳ
75
2.2. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về các tội xâm
phạm tình dục trẻ em
83
Kết luận chương 2
87
KẾT LUẬN
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
tượng dễ bị xâm hại, dụ dỗ, lôi kéo ngày càng gia tăng. Và tình hình nhóm các tội
xâm phạm tình dục trẻ em cũng không nằm ngoài quy luật đó. Theo số liệu của Tòa
án nhân dân tối cao, tổng số vụ án và bị cáo thuộc nhóm các tội xâm phạm tình dục
trẻ em có chiều hướng tăng nhanh. Năm 2010, có 1166 vụ án bị đưa ra giải quyết với
1263 bị cáo thì đến năm 2015, con số này là 1767 vụ án và 1896 bị cáo1. Đây mới chỉ
là con số được thống kê các vụ án đã bị đưa ra xét xử, tuy nhiên, trên thực tế, con số
1 Xem thêm phụ lục 1
8
này chắc chắc còn cao hơn, bởi trẻ em nhận thức còn hạn chế, không biết việc mình
bị xâm hại hoặc lo sợ người thực hiện tội phạm; cũng có thể do sự e ngại của các gia
đình có nạn nhân bị xâm hại... dẫn đến không tố cáo hành vi phạm tội.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,
nhận thấy tình hình phức tạp của các tội xâm phạm tình dục trẻ em hiện nay, trong
bối cảnh Bộ luật Hình sự năm 2015 vừa được thông qua còn cần nhiều góp ý hoàn
thiện, người nghiên cứu đã lựa chọn “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em – So sánh
pháp luật hình sự Việt nam với pháp luật hình sự của một số nước” là đề tài
luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu các tội xâm phạm tình dục trẻ em không phải là một đề tài mới,
đặc biệt đối với các hành vi xâm phạm tình dục trẻ em được nghiên cứu không chỉ
dưới góc độ pháp luật mà còn bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau như xã hội học,
hôn nhân gia đình... Cụ thể:
- Về bài đăng trên tạp chí có các công trình:
+ Phạm Mạnh Hùng (2002), Hoàn thiện các quy định của Pháp luật Hình sự về các
tội xâm phạm tình dục trẻ em, Tòa án nhân dân, (12);
+ Nguyễn Thị Xuân (2007), Một số vấn đề về tội phạm xâm hại đến trẻ em trong
Bộ luật Hình sự Việt Nam, Kiểm sát, (6);
+ Nguyễn Phương Lan (2013), Hành vi xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ
dung liên quan. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về các tội xâm phạm tình dục
trẻ em đặt trong sự so sánh với pháp luật nước ngoài, đặc biệt từ sau khi BLHS năm
2015 được thông qua, những điểm mới về các tội phạm này so với BLHS năm 1999
vẫn chưa được phân tích làm rõ. Chính những vấn đề này dẫn đến sự khó khăn khi
nghiên cứu cũng như áp dụng pháp luật.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu về các tội xâm phạm tình dục trẻ em được quy
định trong cả BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015. Luận văn được nghiên cứu dưới
góc độ luật hình sự và so sánh luật. Tác giả tập trung phân tích nội dung từng điều
luật, có sự so sánh giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015; từ đó so sánh quy định
của BLHS Việt Nam với quy định tương ứng của BLHS một số nước điển hình.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Đề tài được nghiên cứu nhằm làm rõ các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong
BLHS, từ đó có so sánh để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt giữa quy
định về của BLHS Việt Nam và BLHS một số nước. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất
10
phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm này.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu nhằm trả lời những câu hỏi sau:
-
Thế nào là trẻ em và các tội xâm phạm tình dục trẻ em?
-
Pháp luật quốc tế quy định như thế nào về xâm phạm tình dục trẻ em?
luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như:
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chứng minh, phương
pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp...
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu các tội xâm phạm tình dục trẻ em, tuy không phải là một vấn đề
mới, nhưng đặt trong bối cảnh hiện nay, khi Hiến pháp 2013 đã đi vào đời sống,
BLHS năm 2015 đã được Quốc hội thông qua, thì vấn đề này cần được nghiên cứu
một cách chi tiết, cụ thể. Luận văn được thực hiện, với mong muốn của tác giả, sẽ:
- Phân tích và bàn luận những quy định của pháp luật hiện hành về các tội
xâm phạm tình dục trẻ em, những quan điểm còn chưa thống nhất nội dung các quy
định này.
- Là luận văn đầu tiên nghiên cứu về các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong
BLHS năm 2015; đặt trong sự so sánh với BLHS một số nước trên thế giới.
11
Về thực tiễn, tác giả hi vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho việc
xây dựng và áp dụng pháp luật, cho việc đào tạo và nghiên cứu...
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được chia thành hai chương, bao gồm:
- Chương 1: Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo pháp luật Hình sự Việt Nam
- Chương 2: So sánh quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm
tình dục trẻ em với pháp luật Hình sự của một số nước và một số đề xuất hoàn thiện
pháp luật.
12
CHƯƠNG 1: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
xét xử người lớn”. Như vậy, có thể thấy, trong các điều ước quốc tế của thế giới
hiện nay đều thống nhất quan điểm trẻ em là người dưới 18 tuổi.
13
Tại Việt Nam, khái niệm “trẻ em” được sử dụng rộng rãi trong các ngành
khoa học khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, luật học; tuy nhiên,
việc thống nhất một khái niệm chung cho thuật ngữ này hiện nay vẫn còn là một
vấn đề được đưa ra tranh luận.
Dưới góc độ xã hội học, trẻ em là một bộ phận của cơ cấu xã hội, dựa vào
tiêu chí đặc điểm nhân khẩu, kết cấu xã hội được chia thành nam - nữ, người già người trẻ, người lớn – trẻ em, trình độ dân trí cao – thấp2. Như vậy, trẻ em được
xác định là người có vị thế, vai trò xã hội khác với người lớn, vì vậy, cần được quan
tâm, tạo điều kiện sinh trưởng, nuôi dưỡng, bảo vệ, chăm sóc, phát triển thành
người lớn.
Dưới góc độ tâm lý học, xác định trẻ em căn cứ vào độ tuổi và yếu tố tâm lý
trong từng giai đoạn phát triển. Cụ thể là các giai đoạn: 0 – 1,5 tuổi; từ 1,5 – 3 tuổi,
từ 3 – 6 tuổi, từ 6 – 12 tuổi, từ 13 tuổi – 18 tuổi.
Cũng có quan điểm cho rằng “Trẻ em là một nhóm người ở một độ tuổi nhất
định, trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người, có những đặc điểm về sức
khỏe, tâm – sinh lý khác với nhóm khác trong xã hội và được hưởng những quy chế
pháp lý đặc thù”3
Có thể thấy, các quan điểm trên đây đều đề cập khái niệm trẻ em dựa vào
những đặc điểm về tâm sinh lý hoặc dựa vào căn cứ đặc thù của từng ngành nghiên
cứu nhưng chưa thống nhất được căn cứ chung để xác định thế nào là trẻ em.
Dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay, có thể thấy, dưới góc độ
luật học, việc xác định trẻ em căn cứ vào việc phân định độ tuổi. Tuổi là một trong
những căn cứ để đánh giá giai đoạn phát triển về thể chất, nhận thức cũng như tâm –
sinh lý của con người. Cụ thể, tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 đã quy định “Trẻ em
là người dưới 16 tuổi”. Có thể thấy, quy định về trẻ em giữa Luật trẻ em năm 2016
và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 không có sự khác nhau về
Baker và Ducan (1985) trong cuốn “Xâm hại tình dục trẻ em” nghiên cứu về
thực trạng ở Anh đã nêu “Trẻ em (dưới 16 tuổi) được coi là bị xâm hại tình dục khi
một người đã trưởng thành về sinh lý lôi kéo vào bất kỳ hoạt động kích thích nhằm
thỏa mãn nhu cầu về mặt tình dục”5. Định nghĩa này kết hợp giữa sự phân loại về ý
nghĩa của từ tình dục với những chỉ dẫn về mặt tuổi tác của trẻ em.
Tuy nhiên, có một số định nghĩa khác liên quan đến các chuẩn mực, giá trị
xã hội và khả năng của trẻ em trong việc chấp thuận và đáp ứng những sự tiếp xúc
về tình dục, như định nghĩa của Schechter và Roberge:
4 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học Hà Nội, Đà Nẵng
5 Baker and Ducan (1985), Xâm hại tình dục trẻ em, UK trích trong tài liệu: Viện Gia đình và Giới (2008),
Tổng quan nghiên cứu về tình trạng xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam trong những năm gần đây, Báo cáo
nghiên cứu, Hà Nội, tr 3.
15
“Xâm hại tình dục được hiểu là sự lôi kéo trẻ em và vị thành niên, là những
người sống phụ thuộc và chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất, vào các hoạt động
tình dục mà chúng không thực sự hiểu đầy đủ hoặc không có khả năng đưa ra sự
đồng ý một cách có hiểu biết hoặc vi phạm vào các cấm kỵ xã hội về các vai trò
trong gia đình”6.
Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) coi xâm hại tình dục trẻ em là:
“Sự lôi kéo trẻ em vào hoạt động tình dục mà trẻ không có khả năng đồng ý
một cách có hiểu biết (hoặc không hiểu biết đầy đủ) hoặc trẻ chưa phát triển đầy đủ
và không có khả năng đồng tình, hoặc vi phạm pháp luật và các điều cấm kỵ của xã
hội. Người có hành vi xâm hại có thể là vị thành niên, thanh niên mà về mặt tuổi tác
và sự phát triển có mối quan hệ về trách nhiệm và quyền hạn với trẻ” 7.
Khái niệm này chỉ ra rằng trẻ em bị xâm hại tình dục có thể không nhận thức
được điều đó, chúng chỉ được coi như là khách thể hoặc công cụ hành động. Tuy
nhiên, khái niệm này của UNICEF lại giới hạn phạm vi chủ thể của hành vi này, khi
chỉ quy định chủ thể là người “có mối quan hệ về trách nhiệm và quyền hạn với trẻ”.
lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp
dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại
dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”.
Như vậy, hiện nay, Luật trẻ em đã đưa ra một khái niệm cụ thể về xâm hại
tình dục trẻ em. Và rõ ràng, các nhà nghiên cứu cũng như trong quy phạm pháp của
Việt Nam đều đưa ra khái niệm thông qua liệt kê các hành vi được xem là xâm
phạm tình dục trẻ em.
Theo quan điểm của người nghiên cứu, sau khi tham khảo quan điểm của
nước ngoài và Việt Nam, thì “Xâm phạm tình dục trẻ em là những hành vi dùng vũ
lực, đe dọa dùng vũ lực, lôi kéo, dụ dỗ người dưới 16 tuổi vào các hành vi liên quan
đến tình dục”.
Về khái niệm tội phạm, khoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 quy định “Tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do
người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm độc lập chủ quyền...”.
Từ khái niệm tội phạm trong luật, nghiên cứu một số khái niệm tội phạm
trong giáo trình của các cơ sở đào tạo và một số sách chuyên khảo, theo quan điểm
người nghiên cứu, tội phạm phải thỏa mãn các đặc điểm:
- Thứ nhất, phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội – đó là những hành vi gây
thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những khách thể được luật Hình sự bảo vệ.
của đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em, Báo cáo, Hà Nội trích trong tài liệu: Viện Gia đình và Giới, tlđd, chú
thích 4, tr 3
9 Nguyễn Vương Thùy Dương (2013), Trẻ em bị xâm hại tình dục trong gia đình – Thực trạng và giải pháp ,
Luận văn thạc sĩ luật học, Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Lan, Trường Đại học Luật Hà
Nội, tr 14.
17
- Thứ hai, tính có lỗi – theo đó, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là
tội phạm nếu chủ thể có lỗi khi thực hiện hành vi đó. Lỗi được xác định là kết quả
18
quốc gia ký kết thông qua vào ngày 31/12/1994. Theo hiệp ước này, bất cứ phương
tiện truyền thông nào, dưới bất kỳ hình thức nào, mô tả hoặc mô phỏng các hoạt
động tình dục liên quan tới trẻ em dưới 16 tuổi hoặc gửi nhận các tài liệu khiêu dâm
qua thư điện tử và cho trẻ em xem đều bị nghiêm cấm. Mọi hình thức, vô tình hay
chủ ý, buôn bán, phát tán, triển lãm công cộng, sản xuất hay sở hữu các tranh, ảnh,
sách, ấn phẩm in, ấn phẩm điện tử... khiêu dâm trẻ em đều có thể bị xử phạt.
Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989: Đây là điều ước
quốc tế liên quan trực tiếp đến trẻ em, quy định về quyền của trẻ em và nghĩa vụ
của các quốc gia thành viên để đảm bảo thực hiện những quy định đó. Tại Điều 19
CƯQTE đã nêu:
“Các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp lập pháp, hành
chính, xã hội và giáo dục thích hợp để bảo vệ trẻ em khỏi tất cả các hình thức bạo
lực về thể chất hoặc tinh thần, bị thương tổn hay lạm dụng, bị bỏ mặc hoặc sao
nhãng việc chăm sóc, bị ngược đãi hoặc bóc lột, gồm cả lạm dụng tình dục trong
khi trẻ em vẫn nằm trong vòng chăm sóc của cha mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ, một hay
nhiều người giám hộ pháp lý, hoặc của bất kỳ người nào khác được giao việc chăm
sóc trẻ em”.
Điều 34 CƯQTE buộc các quốc gia thành viên cam kết bảo vệ trẻ em chống
lại tất cả các hình thức bóc lột tình dục và lạm dụng tình dục. Vì mục đích này, các
quốc gia thành viên phải đặc biệt thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp ở cấp
quốc gia, song phương và đa phương để ngăn ngừa việc xúi giục hay ép buộc trẻ em
tham gia bất kì hoạt động tình dục trái pháp luật; việc sử dụng có tính chất bóc lột
trẻ em trong mại dâm hay các hoạt động tình dục trái pháp luật khác; việc sử dụng
có tính chất bóc lột trẻ em trong các cuộc biểu diễn hay tài liệu khiêu dâm.
Điều 39 quy định các quốc gia thành viên phải tiến hành tất cả các biện pháp
thích hợp để thúc đẩy sự phục hồi về thể chất, tâm lý và tái hòa nhập xã hội của trẻ
em là nạn nhân của bất kỳ hình thức bỏ mặc, bóc lột hay lạm dụng nào, tra tấn hay
bất kỳ hình thức đối xử hay trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và nhục hình nào khác,
em và là cơ sở quan trọng trong công tác phòng chống du lịch mại dâm trẻ em, hoạt
động có nguy cơ làm bùng phát nạn buôn bán, mại dâm và khiêu dâm trẻ em.
Ngoài ra, còn một số công ước quốc tế khác, trực tiếp hoặc gián tiếp, đề cập
đến bảo vệ trẻ em khỏi những hành vi xâm phạm tình dục. Như vậy, có thể kết luận,
11 Điều 4 (1) Nghị định thư không bắt buộc liên quan đến phòng chống buôn bán, mại dâm và khiêu dâm trẻ
em.
12 Điều 6, Điều 7, tlđd, chú thích 10.
20
xâm phạm tình dục trẻ em là một vấn đề được quốc tế quan tâm, và đã có nhiều văn
kiện pháp lý quốc tế được thống nhất để bảo vệ, phòng ngừa cho những thế hệ
tương lai này khỏi những hành vi bóc lột tình dục nói riêng và đảm bảo cho các em
có một cuộc sống lành mạnh nói chung.
1.2.
Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999
Từ khái niệm về các tội xâm hại tình dục trẻ em như đã phân tích trên, có thể
thấy, Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:
- Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112);
- Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114);
- Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115);
- Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116);
- Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256)
Là các tội thuộc nhóm các tội xâm phạm tình dục trẻ em. Và từ sự nghiên
cứu cấu thành tội phạm của các tội này, có thể chỉ ra một số dấu hiệu pháp lý chung
như sau:
- Thứ nhất, về khách thể của tội phạm.
“Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội
hội lây qua đường tình dục như HIV/AIDS, trẻ em là nữ có thể mang thai ngoài ý
muốn...15
- Thứ ba, về mặt chủ quan của tội phạm.
Nếu mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ
quan lại là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội”16. Mặt chủ quan và
mặt khách quan của tội phạm luôn gắn liền với nhau tạo thành một thể thống nhất.
Những nội dung cụ thể của hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao
gồm: Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi
phạm tội cố ý; Mục đích là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra
phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội; Lỗi là thái độ tâm lý của con người
đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó
gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Lỗi là dấu hiệu quan trọng
nhất, được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm. Theo Điều 9 BLHS thì căn
cứ vào cấu trúc tâm lý của yếu tố lý trí và ý chí, lỗi được chia làm lỗi cố ý và lỗi vô
ý. Lỗi cố ý được chia làm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp. Lỗi vô ý bao gồm lỗi vô ý
do cẩu thả và vô ý do quá tự tin.
15 http://tuvantamly.com.vn/hau-qua-tu-hanh-vi-xam-hai-tinh-duc-tre-em-2/
16 Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Xem “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Tập 1”, tlđd, chú thích
13, tr. 133
22
Đối với nhóm tội này, có thể khẳng định lỗi của chủ thể là lỗi cố ý. Cụ thể ở
đây, người phạm tội nhận thức rõ được hành vi của mình có tính chất nguy hiểm
cho xã hội; thấy trước hậu quả mà hành vi của mình có thể gây ra cho trẻ em và
mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Tuy nhiên, một vấn đề
đặt ra khi định tội trong nhóm tội này, đó là việc chủ thể của tội phạm biết hay
không biết tuổi của nạn nhân. Về vấn đề này sẽ được người nghiên cứu phân tích
khi đi vào các tội cụ thể.
buộc trên, một số loại tội còn đòi hỏi chủ thể phải có những dấu hiệu khác, gọi là
chủ thể đặc biệt. Tội hiếp dâm trẻ em, cũng như tội hiếp dâm, theo quan điểm của
một số nhà nghiên cứu cũng như thực tiễn xét xử Việt Nam được thừa nhận là tội có
chủ thể đặc biệt. Người phạm tội ngoài thỏa mãn hai dấu hiệu về năng lực TNHS và
độ tuổi thì họ phải là nam giới. Cần chú ý, trong các vụ án đồng phạm hiếp dâm trẻ
em, điều kiện là nam giới chỉ đòi hỏi ở người thực hành. Nữ giới cũng có thể là chủ
thể của tội phạm này khi là người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức trong vụ
án đồng phạm.
* Nạn nhân của tội phạm
“Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể của tội phạm, bị
hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ”20. Đối tượng tác động của tội phạm có
thể là con người, các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội
hoặc hoạt động bình thường của chủ thể. Như vậy, con người hay nạn nhân của tội
hiếp dâm chính là đối tượng tác động của tội này. Tuy nhiên, con người ở đây là
nam giới hay nữ giới vẫn đang là một vấn đề gây tranh cãi. Pháp luật hình sự Việt
Nam từ trước đến nay chỉ thừa nhận nạn nhân của tội hiếp dâm là nữ giới, và tương
tự với tội hiếp dâm trẻ em, nạn nhân là trẻ em gái, cụ thể là trẻ em dưới 16 tuổi.
Mặc dù một số nhà nghiên cứu cũng như thực tiễn xét xử đồng tình với quan
điểm chủ thể của tội hiếp dâm trẻ em là nam giới và nạn nhân là trẻ em nữ dưới 16
tuổi, nhưng trên thực tế đã có những trường hợp mới phát sinh mà pháp luật chưa
quy định. Ví dụ trong những năm gầy đây, những vụ án hiếp dâm trẻ em đồng giới
ngày càng nhiều, có thể kể đến vụ Nguyễn Đình Việt thực hiện hành vi tình dục với
bé trai gần nhà tại Quảng Ninh21 hay vụ án của Thi Trường Hận22. Trong vụ án
của bị cáo Nguyễn Đình Việt, nạn nhân là bé trai 3 tuổi còn vụ án của Thi Trường
Hận, tuổi của các nạn nhân là từ 8 đến 14 tuổi; và cả hai đối tượng này chỉ bị xét xử
về tội dâm ô đối với trẻ em. Tuy nhiên, về bản chất, nếu nạn nhân của Việt hay Hận
là trẻ em nữ, thì rõ ràng Việt và Hận đã phạm tội Hiếp dâm trẻ em do có hành vi
20 Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Xem “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Tập 1”, tlđd, chú thích
13, tr. 94.
bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với ý thức ấn vào
trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể có xuất tinh
hay không”. Pháp luật hình sự Việt Nam coi giao cấu là sự cọ xát trực tiếp giữa
dương vật và bộ phận sinh dục nữ, nghĩa là gián tiếp thừa nhận hành vi giao cấu chỉ
23 Lê Quang Bình (2012), “Đánh giá dưới góc độ xã hội về tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền của người
đồng tính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình”, Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường ISEE.
25
xảy ra giữa hai người khác giới tính. Có thể thấy rằng, đây là một định nghĩa được
đưa ra từ những năm 1967 nên đã không còn phù hợp với khái niệm giao cấu thông
thường, thực tiễn cũng như xu hướng lập pháp của các nước trên thế giới hiện nay.
Trong việc quan hệ tình dục nhằm thỏa mãn khoái cảm của bản thân, con người
không chỉ đơn thuần sử dụng một hành vi duy nhất là đưa dương vật vào âm hộ. Để
làm rõ về vấn đề này, người nghiên cứu đã tìm hiểu về hành vi tình dục của con
người dưới góc độ sinh học. Trong cuốn “Tình dục học đại cương” của bác sỹ Đào
Xuân Dũng có đề cập đến khái niệm tình dục như sau: “Tình dục là hành vi để tìm
kiếm khoái cảm hoặc để sinh sản, có nội hàm rộng, không chỉ có nghĩa là giao hợp
giữa người nam và người nữ mà còn bao gồm cả nhiều hành vi khác nhằm đem lại
khoái cảm bằng tay hay bằng miệng, ở vùng cơ quan sinh dục hay ở những bộ phận
khác của cơ thể. Cũng vẫn là tình dục khi thực hành tìm kiếm khoái cảm với bạn
tình khác giới hay cùng giới, với một hay nhiều hơn một người, tự mình gây ra
khoái cảm hay gây khoái cảm cho nhau, mơ tưởng đến chuyện tình dục hay sử dụng
dụng cụ chuyên dụng”24. Như vậy hành vi tình dục ở con người là rất rộng, ngoài
hành vi đưa dương vật vào âm hộ, họ còn có thể đưa dương vật vào nhiều bộ phận
khác trên cơ thể như miệng, hậu môn,… bạn tình nhằm thỏa mãn khoái cảm; không
những sử dụng dương vật, người tham gia quan hệ tình dục còn có thể dùng tay,
miệng hoặc các dụng cụ hỗ trợ tình dục khác như đồ chơi tình dục, dương vật giả…
Đặc biệt trong quan hệ tình dục đồng giới thì việc đưa dương vật vào âm hộ bạn
tình là điều không thể, do đó những hành vi trên xảy ra rất phổ biến như hai người