BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------------------------------------
MAI THỊ THANH TRÚC
SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------------------------------------
MAI THỊ THANH TRÚC
SỰ CAN THIỆP CỦA CHÍNH PHỦ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS . TS TRẦN THỊ THÙY LINH
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN........... 5
2.1 Khung lý thuyết: .......................................................................................................... 6
2.1.1 Lý thuyết “Nắm bàn tay” (Grabbing hand) .................................................... 6
2.1.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory): ................................................................ 7
2.2 Các nghiên cứu liên quan trước đây .......................................................................... 8
2.2.1 Các nghiên cứu về loại hình sở hữu tác động đến hiệu quả đầu tư. ............. 8
2.2.2 Các nghiên cứu về các kết nối chính trị đến hiệu quả đầu tư. ..................... 10
2.2.3 Các nghiên cứu về tác động của Chính phủ tại các doanh nghiệp phân
theo vị trí địa lý. ........................................................................................................ 16
2.3 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm: .................................................................. 18
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................. 22
3.1 Dữ liệu nghiên cứu ..................................................................................................... 22
3.2 Giả thuyết nghiên cứu: .............................................................................................. 23
3.3 Mô tả biến: ................................................................................................................. 24
3.3.1Biến phụ thuộc INV: ......................................................................................... 24
3.3.2 Biến độc lập: ..................................................................................................... 24
3.3.3 Biến kiểm soát: ................................................................................................. 26
3.4 Mô hình nghiên cứu ................................................................................................... 29
3.4.1 Mô hình nghiên cứu những tác động của cơ hội đầu tư đến hiệu quả
đầu tư của các doanh nghiệp: .................................................................................. 29
3.4.2 Kiểm tra độ nhạy: ............................................................................................ 30
3.4.3 Mô hình phân tích các nhân tố dẫn tới sự thay đổi trong kết nối chính
trị:
…………………………………………………………………………..30
3.5 Phương pháp nghiên cứu: ......................................................................................... 30
3.5.1 Thống kê mô tả: ............................................................................................... 31
3.5.2 Phương pháp ước lượng .................................................................................. 31
3.5.3 Kiểm định chọn POL, REM, FEM................................................................. 32
Thuật ngữ
CSOE
Central State-owned enterprise
Giải thích
Doanh nghiệp Nhà nước Trung
ương
doanh
nghiệp Nhà
Doanh nghiệp Nhà nước.
nước
Non – SOE
Non- state-owned enterprise
SOE
State-owned enterprise
PROEs
Privately owned enterprise
Doanh nghiệp không thuộc sở
hữu Nhà nước
đáng kể hiệu quả đầu tư trong các doanh nghiệp Nhà nước.Tuy nhiên, tác giả không
tìm thấy bằng chứng như vậy ở các doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Kết hợp với
nhau, những phát hiện của tác giả gợi ý rằng sự can thiệp của Chính phủ vào các
doanh nghiệp Nhà nước thông qua quyền sở hữu của đa số Nhà nước hoặc chỉ định
các nhà quản lý có liên quan bóp méo hành vi đầu tư và làm hại hiệu quả đầu tư.
Từ khóa: Sự can thiệp của Chính phủ, SOE – doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà
nước, non – SOE doanh nghiệp không thuộc sở hữu Nhà nước, hiệu quả đầu tư, thị
trường chứng khóan Việt Nam.
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Ngay từ khi Nhà nước ra đời, thì Chính Phủ với tư cách là một thể chế điều
hành quốc gia, đã có những vai trò không thể phủ nhận như xây dựng và bảo vệ các
khuôn khổ pháp lí, đánh thuế vào chi tiêu.Tuy nhiên trong các giai đoạn khác nhau
thì có những quan điểm khác nhau về vai trò của Chính phủ trong việc điều tiết nền
kinh tế. Cụ thể như tư tưởng của Adam Smith, cho rằng cơ chế bàn tay vô hình của
thị trường sẽ dẫn dắt việc sản xuất ra những hàng hóa mà mọi người mong muốn
theo cách tốt nhất, không cần Chính phủ, thị trường sẽ phân bổ nguồn lực một cách
có hiệu quả. Còn Keynes thì cho rằng “ Nhà nước cần thực hiện những chương trình
đầu tư với quy mô lớn để kích cầu có hiệu quả, qua đó Nhà nước can thiệp vào nền
kinh tế. Vào những năm 70s, Paul Samuelson người đã sáng lập ra trường phái kinh
tế học hiện đại đã chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào “cả hai bàn tay” là cơ
chế thị trường và Nhà nước. Ông cho rằng “Cả Thị trường và Chính phủ đều cần
thiết cho một nền kinh tế vận hành lành mạnh. Thiếu một trong hai điều này thì hoạt
động của nền kinh tế chẳng khác gì vỗ tay bằng một bàn tay. (Paul A. Saumuelson,
1967)”. Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều chủ trương phát triển nền
kinh tế hỗn hợp, trong đó cả Nhà nước và thị trường cùng điều tiết nền kinh tế nhằm
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
Từ mục tiêu tổng quát của đề tài, bài nghiên cứu tập trung vào nhừng mục tiêu
cụ thể sau:
-Đầu tiên, bài nghiên cứu giúp ta nhận thấy ảnh hưởng của các cơ hội đầu tư
đến chi đầu tư.
-Tiếp theo đó là làm rõ những tác động của sự can thiệp của Chính phủ đến
hiệu quả đầu tư, so sánh sự khác nhau giữa hiệu quả đầu tư giữa những doanh
nghiệp có sở hữu Nhà nước và không có sở hữu Nhà nước. Tác động của những can
thiệp về chính trị đến hiệu quả đầu tư.
-Và cuối cùng, bài nghiên cứu so sánh hiệu quả đầu tư của những doanh
nghiệp ở nhữngvị trí địa lý khác nhau .
3
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Từ mục tiêu nghiên cứu cụ thể, bài nghiên cứu này tập trung làm rõ, giải quyết
các câu hỏi sau:
1. Các cơ hội đầu tư ảnh hưởng như thế nào đến chi đầu tư của doanh nghiệp
thuộc sở hữu Nhà nước và không thuộc sở hữu Nhà nước?
2. Ảnh hưởng của những CEO có liên quan về chính trị có tác động như thế
nào đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp do họ quản lý?
3. Sự can thiệp của Chính phủ tại những doanh nghiệp ở những khu vực, vị trí
địa lý khác nhau như thế nào?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam.
Sự can thiệp của Chính phủ đến hoạt động đầu tư của những doanh nghiệp.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Tác giả thực hiện nghiên cứu với dữ liệu tại Việt Nam: 158 doanh nghiệp
trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây về sự can thiệp của Chính phủ đến
hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp được niêm yết.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.Trong chương này, tác giả làm rõ mô
hình thực nghiệm, hàm hồi quy, danh sách biến, nguồn dữ liệu và phương pháp ước
lượng.
Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và
rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo.
5
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Trong thế giới hoàn hảo của Modigliani và Miller (1958), chính sách đầu tư
của một công ty chỉ phụ thuộc vào các cơ hội đầu tư của nó. Mặc dù lý thuyết này là
nền tảng của đầu tư của các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu về lý thuyết và thực
nghiệm đã xác định được một loạt các mâu thuẫn và các yếu tố ảnh hưởng để ngăn
cản các doanh nghiệp tối ưu hóa đầu tư. Sự bất cân xứng thông tin và các vấn đề đại
diện là hai vấn đề được chú ý nhiều nhất trong các nghiên cứu trước. Các mô hình
lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào hai sự mâu thuẫn: Sự bất đối
xứng thông tin và các vấn đề đại diện. Các mô hình về tài chính bên ngoài dự đoán
rằng đầu tư yếu kém do sự bất cân xứng về thông tin dẫn đến việc đưa ra những lựa
chọn bất lợi. Có liên quan nhiều hơn đến bài nghiên cứu là các mô hình về chi phí
đại diện – sự xung đột giữa các nhà quản lý và các cổ đông. Vì các nhà quản lý giả
định theo đuổi các mục tiêu riêng của họ, điều đó có thể dẫn đến các mâu thuẫn với
các cổ đông bên ngoài, họ có thể ưa thích hoạt động kinh doanh lớn thay vì lợi
nhuận (ví dụ: Jensen, 1986; Stulz, 1990, Zwiebel, 1996). Bằng chứng kinh nghiệm
phù hợp với việc xây dựng đế chế đã trở nên phổ biến (ví dụ, Lang và cộng sự,
1991, Morck và cộng sự, 1990, Blanchard và cộng sự, 1994).
Nghiên cứu hiện nay logic cơ bản của chúng ta giống với dự đoán từ các mô
doanh nghiệp mà nhà nước không sở hữu, xuất phát từ việc các nhà chính trị và các
quan chức có xu hướng sử dụng công ty cổ phần có phần vốn chi phối của nhà nuớc
để phục vụ các mục tiêu chính trị của họ.
Hầu hết các nhà kinh tế ủng hộ mô hình với sự trợ giúp của Nhà nước vào nền
kinh tế. Những gì Nhà nước làm như là một nỗ lực để cải thiện phúc lợi xã hội, tăng
cường tiềm lực chính trị và tiềm năng phát triển. Các nhà lãnh đạo Chính phủ có
mục tiêu thúc đẩy để hoàn thành các mục tiêu xã hội và chính trị như phát triển khu
vực, sức khoẻ tài chính, và sự ổn định xã hội thông qua sự tham gia của họ vào các
doanh nghiệp Nhà nước. Nhà nước phân phối phúc lợi, đảm bảo mục tiêu cuối cùng
là cân bằng xã hội.
7
2.1.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory):
Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố
năm 1976. Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được
ủy quyền.
Quan hệ nhà quản lý và cổ đông: Các giải pháp để giảm chi phí ủy quyền là
thông qua hợp đồng giữa các cổ đông và nhà quản lý theo hướng khuyến khích nhà
quản lý tối đa hóa giá trị thị trường của công ty và tối đa hóa lợi nhuận công ty.
Phần lớn các kế hoạch khen thưởng này dựa trên các con số kế toán, do đó nhà quản
lý sẽ tìm cách tác động vào báo cáo tài chính thông qua vận dụng chính sách kế toán
để đạt được mục đích được hưởng lợi cá nhân của mình.
Quan hệ cổ đông và chủ nợ: Để giảm chi phí ủy quyền, chủ nợ có thể đưa vào
hợp đồng các điều khoản hạn chế như: kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát hoạt
động đầu tư, yêu cầu thông tin để giám sát tình hình hoạt động doanh nghiệp. Việc
sử dụng các điều khoản hạn chế nói trên phải dựa trên số liệu kế toán của doanh
nghiệp
Do đó, các nhà quản lý sẽ tìm cách vận dụng chính sách kế toán khi lập báo
các doanh nghiệp hiện nay.
2.2 Các nghiên cứu liên quan trước đây
2.2.1 Các nghiên cứu về loại hình sở hữu tác động đến hiệu quả đầu tư.
Theo nghiên cứu của D-Chen (2013) về tác động của sự can thiệp của Chính
phủ đối với đầu tư tương đối cao hơn và quan trọng hơn giữa các doanh nghiệp Nhà
nước so với các doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Sự kết hợp đó làm hạn chế hiệu quả
đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước nhưng không ảnh hưởng đối với các doanh
nghiệp ngoài Nhà nước. Kết luận này cũng phù hợp với giả thiết ban đầu của bài
nghiên cứu.
Theo R Innes (1991) nghiên cứu về vấn đề đầu tư và sự can thiệp của Chính
phủ. Ở mức đầu tư cao hơn sẽ làm cho giảm bớt động lực vay và đầu tư. Vì vậy
đảm bảo cho vay sẽ khuyến khích các chủ doanh nghiệp vay để đầu tư khi mức đầu
9
tư thấp hơn quy mô khoản vay được bảo lãnh. Điều đó dẫn đến việc SOEs có hệ số
đòn bẩy cao hơn so non-SOEs.
Một số nghiên cứu của De Long and Summers (1991), Corrado, Hulten, và
Sichel (2009), Daniele (2011) tập trung vào những ảnh hưởng của sự can thiệp của
Chính phủ, đặc biệt là sự đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định trong số các doanh
nghiệp Nhà nước. Hiệu quả kinh tế của việc can thiệp vào việc phân bổ đầu tư của
doanh nghiệp phần lớn phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế xã hội của Chính phủ,
với các loại hình đầu tư khác nhau (như tài sản cố định, tài nguyên thiên nhiên, vốn
chủ sở hữu và đầu tư R & D) để đáp ứng một loạt các mục tiêu của Chính phủ và
các mối quan tâm .
Theo nghiên cứu của Thomas A. Poynter (2009) về sự can thiệp của Chính
phủ tại các nước kém phát triển. Các hoạt động can thiệp dường như đang hướng tới
việc chuyển giao một phần quyền sở hữu và kiểm soát, gia tăng giá trị gia tăng
trong nước. Một vài vấn đề cần được chú trọng như: Trong mỗi quốc gia, Chính
nước mà Nhà nước có sức mạnh vật chất, để điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thực
hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra. Tóm lại, doanh nghiệp Nhà nước phải
thực hiện các mục tiêu: là công cụ chính sách về ngành, cạnh tranh với doanh
nghiệp nước ngoài, công cụ ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các mục tiêu xã hội.
Kết luận từ những nghiên cứu trước đây cho thấy rằng sự nhạy cảm của chi
đầu tư đối với các cơ hội đầu tư yếu hơn đối với các doanh nghiệp Nhà nước so với
các doanh nghiệp ngoài Nhà nước, cho thấy hiệu quả đầu tư thấp hơn ở các doanh
nghiệp Nhà nước.
2.2.2 Các nghiên cứu về các kết nối chính trị đến hiệu quả đầu tư.
Theo nghiên cứu của Faccio (2006): Ít nhất ở một số quốc gia, các mối liên hệ
về chính trị đã tạo ra sự phân bổ vốn thông qua việc hỗ trợ tài chính khi các doanh
nghiệp gặp khó khăn về kinh tế. Bên cạnh đó các doanh nghiệp có kết nối chính trị
còn có tỷ lệ đòn bẩy cao hơn những doanh nghiệp khác. Có thể là do các nhà cho
vay nhận được sự hỗ trợ kinh tế trực tiếp từ các Chính phủ mà các doanh nghiệp
11
liên kết. Khi IMF hoặc WB cung cấp viện trợ, các doanh nghiệp có liên quan đến
chính trị thường được các nước láng giềng hỗ trợ nhiều hơn , do đó cho thấy các
doanh nghiệp có liên quan đến chính trị sử dụng đòn bẩy lớn hơn. Thứ hai là họ bị
buộc phải cho các doanh nghiệp có liên quan đến chính trị vay . Thứ ba là người
cho vay nhận được bù đắp các khoản lợi ích từ Chính phủ cho việc cho vay như
vậy. Ở đây có một khả năng khác là các nhà cho vay cân nhắc đến các quyết định
cho vay của họ bởi vì người đi vay sẽ được “hỗ trợ” khi họ gặp khủng hoảng về
kinh tế và do đó họ sẽ được cho vay nhiều hơn. Các doanh nghiệp có liên quan đến
chính trị vay mượn nhiều hơn, nhưng họ cũng có nhiều khả năng sẽ được Chính phủ
của họ hỗ trợ khi họ gặp phải sự bất ổn về kinh tế. Các nhà cho vay đối với các
doanh nghiệp được kết nối cho phép các doanh nghiệp này có nhiều thời gian thanh
toán hơn khi các doanh nghiệp này có hiệu quả hoạt động kém hơn so với các doanh
Chính phủ. Ngoài việc mở rộng bằng chứng trong tài liệu, nghiên cứu của tác giả
cho thấy những ràng buộc về thể chế và quản lý Nhà nước về cơ bản ảnh hưởng đến
quản trị doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động ở cấp độ công ty.
Theo nghiên cứu của Joseph PH Fan và các cộng sự (2007): các lựa chọn về
tài chính của công ty không chỉ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của công ty và ngành
mà còn bởi các yếu tố thể chế của đất nước. Nghiên cứu này tập trung vào vai trò
của quản trị công trong các mô hình tài chính công ty.
Trái ngược với các nghiên cứu liên quốc gia trước đây, nghiên cứu về vấn đề
ở một nước cho phép chúng ta tập trung vào một yếu tố thể chế cụ thể trong khi vẫn
giữ các yếu tố tổ chức khác liên tục có thể tương quan với các quyết định tài chính
của công ty. Trong một nền kinh tế mà quản lý Nhà nước kém, các công ty có khả
năng sẽ tăng nguồn tài chính thông qua nợ nhiều hơn chứ không phải là vốn cổ
phần. Thứ nhất, nợ cung cấp cho các nhà đầu tư mức độ giám sát và thực thi pháp
luật cao hơn (Smith and Warner (1979)) so với yêu cầu bồi thường vốn cổ phần mở,
ít bảo vệ khỏi sự chiếm đoạt bởi các nhà quản lý hoặc quan chức. Thứ hai, các quan
chức tự quan tâm có thể dễ dàng hơn trong việc cấp vốn cho các doanh nghiệp mà
họ có kết nối thông qua các ngân hàng mà họ kiểm soát (La Porta và cộng sự
13
(2002). Sapienza ( 2004)) chứ không phải thông qua thị trường chứng khoán rằng
họ ít có khả năng ảnh hưởng hơn.
Đòn bẩy tài chính của các công ty được kết nối, được đo bằng tổng nợ trên
tổng tài sản, thấp hơn đáng kể so với các công ty không kết nối.. Điều này hoàn
toàn phù hợp với các tài liệu kinh tế, cho thấy tìm kiếm thuê chính trị giải thích
hành vi và giá trị của công ty, phát triển ngành tài chính và tăng trưởng kinh tế
(Shleifer và Vishny (1994, 1998), Fisman (2001), Johnson và cộng sự, (2002); và
Mitton, (2003), Ramalho (2003), Acemoglu và Johnson (2005) Faccio (2006),
Charumilind và cộng sự (2006); Leuz và Oberholzer-Gee (2006). Trong một nghiên
vào của sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn
nhân lực và khoa học công nghệ. Doanh nghiệp Nhà nước phải cung cấp những
dịch vụ công, nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ vốn có của Chính phủ, của bộ
máy Nhà nước, phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân, hiệu
quả và công bằng, không vì mục tiêu lợi nhuận.
Quan điểm, chủ trương về kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trên thực tế ở
nhiều mặt đã bị cách làm không phù hợp cơ chế chính sách, quản lý Nhà nước bất
cập, tư duy nhiệm kỳ, lợi ích nhóm chi phối gây ra những hậu quả không như mong
muốn. Để thực hiện tốt vai trò chủ đạo, doanh nghiệp Nhà nước phải thực hiện bốn
chức năng chính: bảo đảm những sản phẩm cần thiết cho sự phát triển chung kinh tế
cả nước; nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cả nước đối với các quốc gia
khác trên thị trường; đáp ứng những yêu cầu liên quan mật thiết đến an ninh và
quốc phòng; tăng cường các yếu tố công bằng và an sinh xã hội trong quá trình phát
triển kinh tế.
Theo Đỗ Hòa (2016) thì với doanh nghiệp Nhà nước, do vốn là từ tài sản công
chứ không phải là của một cá nhân nào, nên việc thể hiện trách nhiệm làm chủ, dù
muốn dù không cũng có phần hạn chế. Với doanh nghiệp Nhà nước thì công việc
làm vai trò đại diện phần vốn chủ sở hữu của Nhà nước cũng là một công việc như
bao nhiêu công việc khác, nên thường mang tính nhiệm kỳ. Cứ mỗi vài năm, doanh
15
nghiệp Nhà nước lại có những người chủ mới.Điều này khiến cho những người đại
diện cho phần vốn Nhà nước không thể có được những kiến thức và kinh nghiệm về
doanh nghiệp và thị trường như người chủ của doanh nghiệp ngoài Nhà nước.
Thêm nữa, với doanh nghiệp Nhà nước, nếu không thể thực hiện được các chỉ
tiêu được giao, thì người chịu trách nhiệm quản lý doanh nghiệp Nhà nước (tổng
giám đốc) thường có thể xin điều chỉnh một cách dễ dàng. Điều đó khiến cho một
số tổng giám đốc doanh nghiệp Nhà nước ỷ lại, họ ít chịu áp lực về hiệu quả hoạt
đầu tư như vậy chủ yếu được tìm thấy trong các doanh nghiệp Nhà nước ở địa
phương chứ không phải ở các doanh nghiệp Nhà nước ở trung ương hoặc các doanh
nghiệp tư nhân. Sự can thiệp của Chính phủ cũng gây ra hiệu ứng đông đảo trong
đầu tư tài nguyên thiên nhiên cho các doanh nghiệp tư nhân, cho thấy rằng điều này
có khả năng làm méo mó các khoản phân bổ đầu tư và làm giảm hiệu quả đầu tư.
Chính phủ có xu hướng can thiệp để tăng đầu tư vào tài sản cố định, vốn cổ
phần trong các doanh nghiệp Nhà nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên như
dầu mỏ, khí tự nhiên, nhưng để giảm đầu tư R & D, cho thấy động lực của các quan
chức chính quyền địa phương tập trung vào tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, quy mô
của nền kinh tế và lợi thế độc quyền có ảnh hưởng đáng kể đến phân bổ đầu tư của
doanh nghiệp.
Cụ thể, những ảnh hưởng của sự can thiệp của Chính phủ đối với việc phân bổ
đầu tư này chủ yếu được tìm thấy ở các doanh nghiệp Nhà nước ở địa phương, cho
thấy các chính quyền địa phương yêu cầu các doanh nghiệp Nhà nước địa phương
phải đầu tư nhiều hơn vào tài sản sẽ có tác động trực tiếp đến các mục tiêu tăng
trưởng kinh tế ngắn hạn và đáp ứng các tiêu chí đánh giá chính quyền địa phương.
Ngược lại, sự can thiệp của Chính phủ đóng vai trò nhỏ trong việc phân bổ đầu tư
của CSOEs và PROEs. Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy rằng sự can thiệp của
Chính phủ có xu hướng làm giảm sự đầu tư của khu vực tư nhân vào tài nguyên
thiên nhiên vì các doanh nghiệp tư nhân không phải là một bộ phận của hệ thống