BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ TRUNG DŨNG
SỰ THAY ĐỔI CỦA CÁN CÂN THƯƠNG MẠI VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
THỰC THEO THỜI GIAN: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT
NAM VÀ THÁI LAN
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
Thành Phố Hồ Chí Minh, Tháng 11 năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “sự thay đổi của cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực
theo thời gian: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam và Thái Lan” là công trình do
chính tôi nghiên cứu và soạn thảo.
2.1.3 Mô hình nền kinh tế mở có nền thương mại năng động 10
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân
thương mại 13
CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI
VIỆT NAM VÀ THÁI LAN 18
3.1 Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 18
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 18
3.1.1.1 Mô hình tham số thay đổi theo thời gian với những ràng buộc dài hạn 19
3.1.1.2 Xác định cấu trúc ràng buộc dài hạn 20
3.1.1.3 Phân tích sự biến động theo thời gian của biến nghiên cứu 22
3.1.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam và Thái Lan 23
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 27
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
4.1 Thống kê mô tả 30
4.1.1 Thống kê mô tả REER và cán cân thương mại của Việt Nam 30
4.1.2 Thống kê mô tả REER và cán cân thương mại của Thái Lan 33
4.2 Kiểm định tính dừng của các biến 37
4.3 Mối tương quan theo thời gian giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực
38
4.4 Tác động của các cú sốc lên cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo
thời gian 40
4.4.1 Tác động của cú sốc cầu lên cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực
theo thời gian 40
4.4.2 Tác động của cú sốc cung lên cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo
thời gian 47
4.4.3 Tác động của cú sốc danh nghĩa lên cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái
thực theo thời gian 52
OLS: Ước lượng theo phương pháp bình phương bé nhất
REER: Tỷ giá hiệu thực đa phương
TB: Cán cân thương mại
THB: Đồng Baht Thái
TVP-VAR: Mô hình tham số thay đổi theo thời gian với những biến động ngẫu nhiên
USD: Đồng đôla Mỹ - VND: Đồng tiền Việt Nam
VAR: Mô hình Vecto tự hồi quy
1
TÓM TẮT
Bài viết này nhằm mục tiêu nghiên cứu sự thay đổi của cán cân thương mại và tỷ
giá hối đoái thực theo thời gian tại Việt Nam và Thái Lan trong khoảng thời gian từ
quý I năm 1998 đến quý II năm 2014 dưới tác động của các cú sốc kinh tế (cú sốc
cung, cú sốc cầu và cú sốc danh nghĩa). Chúng tôi sử dụng ý tưởng nghiên cứu của
Rafiq (2013), khi nhận thấy các biến số kinh tế có tính động và có sự thay đổi theo thời
gian trong suốt giai đoạn nghiên cứu. Bằng cách ứng dụng mô hình hệ số thay đổi theo
thời gian với những biến động ngẫu nhiên TVP-VAR (mô hình được đề xuất bởi
Primiceri (2005)), để xem xét các hệ số thay đổi theo thời gian và những biến động
ngẫu nhiên khi ước lượng. Chúng tôi sử dụng 5 biến trong quá trình hồi quy: Cán cân
thương mại (TB), tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER), chi tiêu chính phủ (GEX),
tổng sản phẩm quốc nội thực (GDP), cung tiền thực (M2). Kết quả hồi quy thực
nghiệm ở Việt Nam và Thái Lan cho các kết quả sau: (I) Cán cân thương mại và tỷ giá
hối đoái thực có sự thay đổi theo thời gian (II) Dưới tác động của các cú sốc kinh tế (cú
sốc cung, cú sốc cầu và cú sốc danh nghĩa) thì cán cân thương mại không có tác động
đến sự biến động theo thời gian của tỷ giá hối đoái thực, trong khi tỷ giá hối đoái thực
3
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU
Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) bắt nguồn từ Thái Lan có nguồn gốc
từ sự sai lầm trong chính sách điều hành tỷ giá của Chính Phủ nước này, và nó đã tạo ra
một sự thay đổi lớn trong tư duy điều hành của các nhà hoạch định chính sách ở các
quốc gia. Các quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam và Thái Lan bắt đầu quản lý chặt
chẽ sự biến động của đồng nội tệ so với các đồng tiền khác và thường được xem là
chiến lược hỗ trợ xuất khẩu, nhưng sự chênh lệch cán cân thương mại ở các quốc gia đã
gây ra sự mất cân bằng vĩ mô toàn cầu. Trong bối cảnh tham vấn đa phương và các
cuộc họp G20 đã dậy lên các câu hỏi về việc liệu các nước thặng dư lớn trong tài khoản
vãng lai có nên đánh giá cao đồng tiền của mình hay không? Phần lớn hướng sự tập
trung vào sự thặng dư lớn trong cán cân thương mại của Trung Quốc
1
. Bài viết này,
phân tích sự biến động của cán cân thương mại của Việt Nam và Thái Lan để hiểu
được các yếu tố ảnh hưởng đến sự biến động trong thương mại giữa hai quốc gia, điều
này rất quan trọng trong việc hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách để đưa ra các
chính sách kinh tế trong nước và quốc tế. Những phân tích gần đây được tiến hành dựa
trên nền tảng của các mô hình kinh tế vĩ mô mới, với những cách tiếp cận có sự chặt
chẽ về lý thuyết thường dẫn đến những kết quả mâu thuẫn (Chinn và Lee, 2006)
2
của sự biến động trong cán cân thương mại sẽ dẫn đến ước lượng OLS của các hệ số
VAR trở nên không hiệu quả, dẫn tới sự phân tách phương sai và phương trình phản
ứng đẩy trở nên không tối ưu
4
.
1.1a – Việt Nam 3
xem Rafid (2013)
4
xem Rafid (2013)
5
1.1b – Thái Lan
Hình 1.1: Đồ thị mô tả sự biến động của M2, GEX, GDP, TB, REER qua các năm ở Việt Nam và Thái Lan
Để phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại, bài
viết này sử dụng một tập hợp những giả định xác định trong dài hạn để mở rộng một
mô hình vector tự hồi quy (VAR) - bằng cách xem xét các hệ số thay đổi theo thời gian
và những biến động ngẫu nhiên khi ước lượng (TVP-VAR). Các hệ số thay đổi có thể
giải thích cơ chế lan truyền của tỷ giá hối đoái và các cú sốc trong cán cân thương mại
mà không phải chịu một điểm gẫy cụ thể, trong khi các mô hình thành phần biến động
ngẫu nhiên thay đổi trong những cú sốc cấu trúc và tác động trực tiếp của nó
5
. Bài
nghiên cứu tại Việt Nam và Thái Lan đạt được những kết quả sau:
giá hối đoái thực thay đổi theo thời gian, mà sự tác động của các cú sốc
kinh tế lên hai biến này cũng thay đổi theo thời gian về chiều hướng và
cường độ tác động và có sự khác nhau giữa các quốc gia.
Tóm lại, bài viết này tập trung phân tích sự biến động của cán cân thương mại
và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian cũng như xem xét mối quan hệ giữa chúng dưới
tác động của ba cú sốc kinh tế (cú sốc cung, cú sốc cầu và cú sốc danh nghĩa) tại Việt
Nam và Thái Lan để trả lời các câu hỏi sau:
1. Mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực theo thời gian
dưới tác động tổng hợp của các cú sốc kinh tế?
7
2. Các cú sốc kinh tế tác động đến sự biến động của cán cân thương mại và tỷ
giá hối đoái thực theo thời gian như thế nào?
3. Sự tác động của các cú sốc kinh tế có thay đổi theo thời gian hay không?
Để giải quyết các câu hỏi trên chúng tôi sử dụng ý tưởng trong bài viết của
Rafiq (2013), bằng cách ứng dụng mô hình TVP-VAR để nắm bắt sự biến động theo
thời gian của cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập
tại Việt Nam và Thái Lan từ quý I năm 1998 đến quý II năm 2014. Nội dung nghiên
cứu tiếp theo được trình bày như sau:
Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây làm cơ sở lý thuyết cho
bài nghiên cứu.
Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu thực
nghiệm cho Việt Nam và Thái Lan.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận bài nghiên cứu
9
so với lãi suất nước ngoài, tạo ra một dòng vốn lớn chảy ra ngoài làm cho cán cân
thanh toán bị thâm hụt và tỷ giá hối đoái có xu hướng tăng lên (nội tệ giảm giá). Trong
dài hạn, tỷ giá hối đoái giảm làm tăng xuất khẩu và làm giảm nhập khẩu đường IS dịch
chuyển sang phải làm cho sản lượng tiếp tục tăng.
2.1.2 Lý thuyết về tính biến động quá mức của tỷ giá hối đoái - mô hình giá cứng
nhắc của Rudiger Dornbusch (1976)
Lý thuyết “Tỷ giá biến động quá mức” được Rudiger Dornbusch đề cập năm
1976 giải thích mối quan hệ giữa tỷ giá trong thực tế và tỷ giá trong điều kiện ngang
giá sức mua. Mô hình giả định rằng, giá cả trên thị trường hàng hóa và tiền lương trên
thị trường lao động là cứng nhắc, chậm thay đổi trước những cú sốc trong nền kinh tế,
do đó tỷ giá tăng giảm không tương xứng so với sự thay đổi của mức giá.
Trong thị trường vốn quốc tế nước chủ nhà được giả định là nhỏ nên phải chấp
nhận mức lãi suất nước ngoài được cho trước, vốn tự do luân chuyển đảm bảo trái
phiếu trong nước và trái phiếu nước ngoài thay thế hoàn hảo cho nhau để ngang bằng lãi
suất tồn tại, tỷ lệ mất giá kỳ vọng của nội tệ bằng chênh lệch giữa lãi suất
trong nước
và lãi suất nước ngoài. Nếu lãi suất trong nước thấp hơn lãi suất nước
ngoài thì nội tệ
phải tăng giá để đảm bảo điều kiện ngang bằng lãi suất.
Thị trường tài sản quốc tế: Mô hình Dornbush giả định điều kiện ngang giá
sức mua chỉ đúng trong dài hạn, nên tỷ lệ mất giá kỳ vọng của đồng tiền ∆e được quyết
định bởi tốc độ của tham số điều chỉnh β>0 và khoảng chênh lệch giữa tỷ giá hiện tại e
và tỷ giá cân bằng dài hạn ē.
∆e = -β (e - ē) (2.1)
Thị trường hàng hóa: Việc mất giá của đồng nội tệ sẽ làm tăng xuất khẩu và
hạn. Tuy nhiên, trong dài hạn, khi giá cả trong thị trường điều chỉnh, tỷ giá hối đoái sẽ
biến động trở về mức cân bằng trong dài hạn và mức cân bằng này là không đổi theo
thời gian.
Bên cạnh đó mô hình cũng lý giải tỷ giá thực tế thường biến động mạnh hơn
các nhân tố tác động. Tuy nhiên mô hình không đưa yếu tố kỳ vọng lạm phát vào
chính thức.
2.1.3 Mô hình nền kinh tế mở có nền thương mại năng động
Để các nghiên cứu về sự biến động của cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái
thực có ý nghĩa về mặt kinh tế chúng ta cần xác định phạm vi nghiên cứu cơ sở. Hệ
thống lý thuyết này dựa trên các nghiên cứu của Prasad (1999), đây được xem như là
một tài liệu tổng quát về những biến động ngẫu nhiên trong mô hình nền kinh tế mở
11
của Obstfeld (1985), Cladira và Gali (1994) và của Lee và Chinn (2006). Mô hình dựa
trên những cơ sở lý thuyết của mô hình Mundell-Fleming (1960) của hai nhà khoa học
Robert Mundell và Marcus và đã được mở rộng để kết hợp với mô hình giá cả thay đổi
chậm theo thời gian. Như vậy, lợi thế của mô hình này là nó kết hợp những giả định
chính và dự đoán những tiêu chuẩn của mô hình nền kinh tế mở (NOEM) trong các lý
thuyết hiện tại.
y
d
= d
t
+(s
t
–p
t
t
= E
t
( s
t + 1
–s
t
) (2.6)
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được kí hiệu là s
t
, mức giá thì được kí hiệu là p
t
, i
t
là
lãi suất danh nghĩa, p
e
t
là mức biến động giá và m
t
là mức cung tiền. Cú sốc cầu d
t
với
tổng cầu liên quan đến biến cầu nước ngoài y
d
. Phương trình (2.3) đại diện đường IS.
Phương trình (2.4) thể hiện sự điều chỉnh giá để đạt trạng thái cân bằng. Tốc độ điều
chỉnh được kí hiệu bởi . Phương trình (2.5) là phương trình đường LM và phương
trình (2.6) là điều kiện cho ngang giá lãi suất không phòng ngừa tồn tại.
Cán cân thương mại được xác định bởi sản lượng thực tế y
y y
cú sốc cung (2.8)
1 1
d
t t t t
d d
cú sốc cầu (2.9)
1 1
n
t t t
m m
cú sốc danh nghĩa (2.10)
Những phần dư
s
t
,
d
t
(2.12)
13
1
1
e s d
t t t t
tb y a d
(2.13)
thương mại
Tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại là hai chủ đề được nhiều nhà kinh tế học
vĩ mô nghiên cứu trong những năm qua và đã có nhiều tranh cãi xung quanh các mối
quan hệ giữa chúng. Sau đây chúng tôi xin khái quát sơ bộ những kết quả nghiên cứu
thực nghiệm chính trên thế giới để làm cơ sở lý thuyết cho bài nghiên cứu của chúng
tôi về vấn đề này:
Đầu tiên chúng tôi đến với nghiên cứu của Clarida và Gali (1994), họ thực hiện
nghiên cứu nguồn gốc của sự biến động tỷ giá hối đoái thực kể từ sự sụp đổ của hệ
thống Bretton Woods theo số liệu của hai quốc gia Nhật Bản và Đức, bằng cách sử
dụng mô hình SVAR trong một hệ thống ba biến gồm tỷ giá hối đoái thực song
phương, chênh lệch lạm phát và sản lượng tương đối. Các phát hiện của hai ông cho
thấy rằng những cú sốc tiền tệ (cú sốc danh nghĩa), cung tiền cũng như nhu cầu về số
dư tiền thật, giải thích đáng kể sự thay đổi của tỷ giá hối đoái thực so với đồng đôla
Mỹ, cụ thể là 35% thay đổi không điều kiện của cặp USD-JPY và 41% thay đổi không
điều kiện của USD-GEM là do ảnh hưởng của những cú sốc danh nghĩa. Đồng thời
14
những cú sốc cầu, được hiểu là tiết kiệm và đầu tư quốc gia, cũng giải thích phần lớn
sự khác biệt trong sự biến động tỷ giá hối đoái thực, trong khi các cú sốc cung giải
thích rất ít.
Tiếp theo ý tưởng của Clarida và Gali (1994), Chadha và Prasad
(1997) đã
nghiên cứu về những biến động của tỷ giá hối đoái thực và chu kỳ kinh doanh với dữ
liệu nghiên cứu ở Nhật Bản bằng cách sử dụng mô hình VAR. Bài nghiên cứu ước
lượng tầm quan trọng của các cú sốc vĩ mô lên sự biến động của sản lượng đầu ra, tỷ
giá hối đoái thực và mức giá tổng hợp của nền kinh tế. Những cú sốc trên thị trường
hàng hóa được xem như là cú sốc cầu thực, những cú sốc trên thị trường tiền tệ được
xem như là nhưng cú sốc danh nghĩa hoặc cú sốc tiền tệ và cú sốc tác động trong dài
của đồng nội tệ một cách phù hợp với ý nghĩa của mô hình Keynes.
Năm 2008 Kim và Lee đã thực hiện nghiên cứu những biến động kinh tế vĩ mô
quốc tế theo tinh thần của mô hình nền kinh tế mở (NOEM). Mô hình nghiên cứu tác
động của bốn cú sốc kinh tế (cú sốc công nghệ, cú sốc nguồn cung lao động, cú sốc sở
thích, và cú sốc danh nghĩa) được phân tích để rút ra những ràng buộc dài hạn về mặt lý
thuyết bằng cách ước lượng những ràng buộc dài hạn theo mô hình VAR cấu trúc cho
ba nền kinh tế lớn (Mỹ, khu vực đồng Euro và Nhật Bản). Trong đó, cú sốc sở thích
được hiểu là sự thay đổi trong ưu tiên sử dụng hàng trong nước so với hàng hóa nước
ngoài và nó cũng bao gồm cả cú sốc tài khóa (cú sốc trong chi tiêu chính phủ) bởi vì
việc sở hữu tài sản trong dài hạn nó bao gồm cả sở thích và chi tiêu cho tài sản đó nên
nó ảnh hưởng tương đối đến nhu cầu hàng hóa trong nước so với hàng hóa nước ngoài
và cú sốc danh nghĩa được hiểu là cú sốc tiền tệ. Bài nghiên cứu của họ đã tìm ra được
bốn điểm mới, nhưng cái mà chúng ta quan tâm chính trong phạm vi bài nghiên cứu
này là việc phát hiện ra những cú sốc sở thích là nguồn quan trọng nhất gây ra sự biến
động của giá hối đoái thực và những cú sốc công nghệ cũng đóng một vai trò không
kém. Đồng thời cú sốc công nghệ cũng là nguyên nhân gây ra sự mất cân bằng toàn cầu
16
trong những năm gần đây trong khi cú sốc danh nghĩa (cú sốc tiền tệ) không có tác
động dài hạn lên tỷ giá hối đoái thực. Còn cú sốc công nghệ và cú sốc nguồn cung lao
động chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong sự biến động của cán cân vãng lai.
Cuối cùng, một nghiên cứu mà chúng tôi đánh giá cao là nghiên cứu của Rafiq
(2013) khi nghiên cứu của ông đã khắc phục những điểm yếu được đề cập trong Grier
và Ye (2009), khi một mô hình hệ số cố định không chú trọng đến những thay đổi cấu
trúc (đặc biệt là ở giá trị trung bình) giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại
dẫn đến những kết luận không đáng tin cậy. Hơn nữa, Grier và Ye (2009) cũng cho
thấy rằng việc không chú trọng đến sự thay đổi phương sai có điều kiện của sự biến
động trong cán cân thương mại sẽ dẫn đến ước lượng OLS của các hệ số VAR trở nên
sốc cầu và không chịu tác động bởi cú sốc danh nghĩa. Còn dưới gốc độ các nghiên cứu
thực nghiệm trên thế giới thì chúng tôi thấy rằng các cú sốc đã tạo ra một mối tương
quan thuận (nghịch) giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực, tỷ giá hối đoái
thực chịu sự tác động bởi cú sốc cung và cú sốc cầu trong khi cú sốc danh nghĩa lại có
tác động mạnh đến cán cân thương mại.
18
CHƯƠNG 3.PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM VÀ THÁI LAN
3.1 Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu
Kể từ những năm 1990, khung phân tích các chính sách kinh tế rất phổ biến với
việc vận dụng mô hình VAR (Vector Autoregression) được Chrisphopher Sims đề xuất
vào năm 1980, tạo điều kiện thuận lợi trong xử lý các vấn đề kinh tế khác nhau với kỹ
thuật hồi quy đa chuỗi thời gian phức tạp. Ý tưởng cơ bản của phương pháp VAR đó là
coi mọi biến điều có thể là biến nội sinh để từ đó xây dựng mối quan hệ động giữa
chúng. Qua đó, mô hình VAR cho phép chúng ta đo lường được những phản ứng giao
động của các biến số kinh tế vĩ mô trước các cú sốc tài khóa, cú sốc tiền tệ, hoặc các cú
'
, 1 1
t o t t p t p t t t
y a y y X
(3.1)
Với: y
t
là một vectơ (k dòng x 1 cột) các quan sát của các biến phụ thuộc
là một véctơ (k dòng x kp+1 cột)
i
chứa các tham số của mô hình VAR rút gọn và các số chặn a
0
.
' '
1
1, , ,
t k t t p
X I y y
t