ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––
NGUYỄN QUỐC THÁI
MỘT SỐ KIỂU LỖI THƯỜNG GẶP TRONG
VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN QUỐC THÁI
MỘT SỐ KIỂU LỖI THƯỜNG GẶP TRONG
VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
số địa phương đã cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá cho luận văn.
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp và các học
viên Cao học Ngôn ngữ K20 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và làm luận văn.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Quốc Thái
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC............................................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN .................................................. iv
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề.................................................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................
12
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 13
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 14
6. Cấu trúc của luận văn .................................................................................... 15
2.2.1. Lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản báo cáo ................................ 41
2.2.2. Lỗi sử dụng phương tiện ngôn ngữ ......................................................... 65
2.3. Tiểu kết ....................................................................................................... 79
Chương 3: NGUYÊN NHÂN VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC LỖI
TRONG VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT ............................................. 80
3.1. Nguyên nhân mắc lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt ............................ 80
3.1.1. Nguyên nhân chủ quan ............................................................................ 80
3.1.2. Nguyên nhân khách quan ........................................................................ 83
3.2. Vấn đề sửa và khắc phục lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt ................. 90
3.2.1. Vấn đề sửa lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt.................................... 91
3.2.2. Hướng khắc phục lỗi ............................................................................... 94
3.3. Tiểu kết ....................................................................................................... 95
KẾT LUẬN....................................................................................................... 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGỮ LIỆU THỐNG KÊ ............................ 99
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các loại văn bản báo cáo được chọn làm ngữ liệu
khảo sát .............................................................................................. 38
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp số lỗi đã thống kê trong văn bản báo cáo ................. 40
Bảng 2.3: Bảng tổng kết số lỗi/ các văn bản báo cáo được phân loại theo
chủ thể ban hành ................................................................................ 40
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iv
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Bảng 2.18: Bảng tổng kết các kiểu lỗi về từ theo kiểu văn bản và chủ thể
ban hành............................................................................................. 69
Bảng 2.19: Số lượng câu mắc lỗi chia theo kiểu báo cáo và tỉ lệ % tính theo
số câu mắc lỗi .................................................................................... 72
Bảng 2.20: Bảng tổng kết số lượng câu mắc lỗi trong các loại văn bản báo
cáo phân loại theo chủ thể ban hành ................................................. 72
Bảng 2.21: Bảng tổng kết số lượng câu mắc lỗi trong các văn bản báo cáo
phân loại theo kiểu câu mắc lỗi ......................................................... 78
Bảng 3.1: Những điểm khác nhau cơ bản trong trình bày thể thức văn bản
của Đảng và văn bản quản lý Nhà nước............................................ 85
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
v
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Lí do khách quan
Báo cáo là một kiểu văn bản được dùng thường xuyên trong các đơn vị
viết hy vọng luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên
cứu hay viết báo cáo, giúp họ tránh được những lỗi không đáng có trong sử
dụng ngôn ngữ khi tạo lập kiểu văn bản này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu văn bản báo cáo
Có thể nói, đến nay đã có khá nhiều tài liệu bàn về cách viết văn bản, vấn
đề qui chuẩn một số văn bản hành chính - công vụ nói chung và văn bản báo
cáo nói riêng. Khó có thể liệt kê hết các công trình nghiên cứu này. Dưới đây là
một số tài liệu và công trình nghiên cứu tiêu biểu về văn bản hành chính - công
vụ, trong đó có văn bản báo cáo, từ những năm 1982 trở lại đây:
(1) Thông tư 02/BT, ngày 11 tháng 01 năm 1982 của Bộ trưởng - Tổng
Thư ký Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về “Hướng dẫn việc xây dựng
và ban hành văn bản”. Thông tư này đã đề cập tới nguyên tắc xây dựng và ban
hành văn bản. Thông tư nêu rõ: “… cơ quan ban hành văn bản phải theo đúng
thẩm quyền của mình. Các văn bản của cơ quan Nhà nước ở các ngành, các
cấp ban hành đều phải căn cứ vào Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản
của cấp trên. Hình thức văn bản phải theo đúng quy định của pháp luật; từ
ngữ, cách viết cũng phải theo đúng từ ngữ, cách viết văn bản Nhà nước…”.
Qui định về viết văn bản báo cáo cũng không nằm ngoài những qui định với
các văn bản khác được nói đến ở đây.
(2) Quyết định (sau đây viết tắt là QĐ) số 31-QĐ/TW, ngày 01 tháng 10
năm 1997 của Ban Chấp hành Trung ương về việc “Ban hành qui định về thể
loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng”.
Ngoài việc trình bày những qui định chung về hệ thống văn bản, các cấp
ban hành văn bản, ngôn ngữ viết văn bản hay những qui định sửa đổi, bổ sung,
bãi bỏ văn bản, QĐ này còn giới thiệu 23 thể loại văn bản của Đảng, trong đó
có báo cáo.
Về thể thức văn bản, “Quyết định ban hành qui định về thể loại, thẩm
quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng” qui định rất rõ thể thức chung
chính - công vụ được qui định cụ thể căn cứ vào từng loại văn bản (Nghị định
chia thành 4 loại): văn bản quy phạm pháp luật, thể thức văn bản chuyên
ngành, thể thức văn bản của tổ chức chính trị - xã hội, văn bản trao đổi với cơ
quan, tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài được thực hiện theo thông lệ quốc tế.
(Xin xem điều 5, chương II của Nghị định).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
3
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(5) Hướng dẫn số 11-HD/VPTW, ngày 28 tháng 5 năm 2004 của Văn
phòng Trung ương Đảng “về thể thức văn bản của Đảng” đã trình bày rất chi
tiết 8 thành phần thể thức bắt buộc và 3 thành phần thể thức bổ sung (xem mục
I và II) của các văn bản hành chính – công vụ, trong đó có báo cáo.
Cũng trong tài liệu hướng dẫn này, 5 yêu cầu về kỹ thuật trình bày văn bản
của Đảng được qui định rất rõ và có ví dụ minh họa hoặc mẫu kèm theo.
Hướng dẫn này cơ bản không có gì khác với những tài liệu dẫn trên về qui
định thể thức văn bản. Sự khác nhau ở đây có lẽ chỉ là ở mức độ chi tiết những
qui định về kỹ thuật trình bày.
(6) Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP, ngày 06 tháng 5
năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ “Hướng dẫn về thể thức và
kỹ thuật trình bày văn bản” là một trong những tài liệu trình bày khá chi tiết về
thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.
Về thể thức văn bản, Thông tư này nêu ra 10 thành phần thể thức bắt buộc
và 5 thành phần thể thức khác. Mỗi thành phần thể thức được tài liệu chi tiết
hóa và làm rõ bằng những lời giải thích hoặc có ví dụ minh họa.
Về kỹ thuật trình bày, Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP
“Hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản” gồm hai nội dung lớn:
phải có đủ 8 thành phần thể thức và tùy theo nội dung và tính chất có thể có các
thành phần thể thức bổ sung như: dấu chỉ mức độ mật; dấu chỉ mức độ khẩn;
các chỉ dẫn về phạm vi phổ biến, giao dịch, bản thảo và tài liệu hội nghị. Như
vậy thể thức văn bản của Đoàn về cơ bản giống thể thức văn bản của Đảng.
- Quy định về thể loại văn bản, thể thức và thẩm quyền ban hành các loại
văn bản của tổ chức Công đoàn ban hành kèm theo Quyết định số 1013/QĐTLĐ, ngày 19 tháng 8 năm 2011 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã
liệt kê 22 thể loại văn bản và một số loại giấy tờ hành chính khác. Về thể thức,
văn bản này qui định văn bản của tổ chức Công đoàn các cấp có 8 thành phần
thể thức và tùy theo nội dung và tính chất có thể có các thành phần thể thức bổ
sung. Qui định này không khác nhiều so với Hướng dẫn số 11-HD/VPTW,
ngày 28 tháng 5 năm 2004 của Văn phòng Trung ương Đảng “Hướng dẫn về
thể thức văn bản của Đảng”.
- Tương tự như trên, Hướng dẫn số 15-HD/VP, ngày 24 tháng 01 năm
2011 của Văn phòng Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cũng liệt kê 8 thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
phần thể thức bắt buộc và 3 thành phần thể thức bổ sung áp dụng với hệ thống
văn bản của Hội Nông dân Việt Nam.
(9) Ngoài các tài liệu thuộc cấp Trung ương ban hành vừa dẫn, những
công trình của cá nhân dưới đây cũng cần được nhắc đến:
- Cuốn “Soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quản lý nhà nước” của
Tạ Hữu Ánh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H. 1999;
- Cuốn “Hướng dẫn soạn thảo văn bản quản lý hành chính nhà nước” của
Lưu Kiếm Thanh, Nhà xuất bản Thống kê, H. 2000;
- Cuốn “Kỹ năng và ngôn ngữ soạn thảo văn bản quản lý nhà nước” của
mắc lỗi trong báo cáo.
(11) Cuốn “Soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan nhà nước”, Nhà
xuất bản Lao động, H. 2008 của tác giả Tạ Hữu Ánh là tài liệu trình bày tương
đối tỉ mỷ về các loại văn bản hành chính - công vụ thường gặp.
Cuốn sách đã nêu được những vấn đề chung về văn bản, như: Văn bản là
gì, khái niệm văn bản quản lí nhà nước, khái niệm văn bản hành chính. Ý
nghĩa, tác dụng của văn bản, phân loại văn bản theo hình thức, thẩm quyền của
cơ quan, tổ chức ban hành hình thức văn bản. Theo đó, bốn kiểu văn bản được
tác giả bàn khá kĩ trong công trình này bao gồm: Văn bản qui phạm, văn bản
hành chính, văn bản chuyên ngành và văn bản của tổ chức chính trị - xã hội.
Báo cáo là một trong số 23 kiểu văn bản hành chính được cuốn sách nhắc
đến. Tác giả quan niệm: “Báo cáo là một hình thức văn bản dùng để gửi cho
cấp trên để tường trình hoặc xin ý kiến về một hoặc một số vấn đề, vụ việc nhất
định; để sơ kết, tổng kết công tác của một cơ quan, một tổ chức; để trình bày
một vấn đề, một sự việc hoặc một đề tài trước hội nghị hoặc trước một người
hay một cơ quan có trách nhiệm theo chế độ đã qui định”.
Ngoài việc nêu khái niệm, cuốn sách của tác giả Tạ Hữu Ánh còn phân
loại báo cáo thành nhiều kiểu theo chức năng và nhiệm vụ của chúng. Theo tác
giả, một văn bản báo cáo muốn có chất lượng phải đảm bảo ba yêu cầu cơ bản:
1) Trung thực, chính xác, 2) Thông tin phải đầy đủ, có chọn lọc, có tính tổng
hợp và 3) Kịp thời.
Trong chương VIII, tác giả dành riêng cho việc hướng dẫn cách soạn thảo
một số loại văn bản hành chính, bao gồm cả văn bản báo cáo.
Mười thành phần thể thức của văn bản báo cáo được trình bày ở đây cũng
không có gì đặc biệt, chỉ có điều chúng được minh họa bằng các mẫu cụ thể
nên người đọc có thể dựa vào đó khi soạn báo cáo. Ngoài ra, tác giả còn nói rõ
rằng, viết báo cáo nên theo ba bước: công tác chuẩn bị, viết đề cương, viết nội
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
Có thể nói ngay rằng, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn
về các kiểu lỗi văn bản nói chung, bao gồm cả văn bản báo cáo. Dưới đây là
một số công trình tiêu biểu:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
8
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(1) Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Nguyễn Văn Hiệp, Tiếng Việt thực
hành, Nxb ĐHQG, H.1997: Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả không
nói cụ thể thế nào là một văn bản mắc lỗi, song theo các tác giả, để tạo lập được
một văn bản tốt, ngoài những kỹ năng khác, người viết cần phải có kỹ năng phát
hiện và chữa các lỗi về chính tả, dùng từ, viết câu và viết đoạn văn.
- Lỗi chính tả gồm những lỗi, như: viết sai qui tắc viết hoa, viết sai kí tự
ghi âm các âm vị, phiên âm tiếng nước ngoài, v.v…
- Lỗi dùng từ bao gồm những lỗi như: dùng từ sai vỏ âm thanh, dùng từ sai
do không hiểu nghĩa, dùng từ không đúng khả năng kết hợp của từ, dùng từ
thừa, dùng từ không đúng phong cách, v.v…
- Lỗi về câu bao gồm những lỗi như: lỗi cấu tạo câu, lỗi sử dụng dấu câu ,
lỗi về ngữ nghĩa, v.v…
- Lỗi về đoạn văn gồm những kiểu lỗi tiêu biểu, như: đoạn văn thiếu ý,
đoạn văn lặp ý, đoạn văn mâu thuẫn ý, đoạn văn sử dụng phương tiện liên kết
sai, v.v…
Theo đó, văn bản nào mắc những lỗi trên sẽ bị xếp vào loại văn bản mắc lỗi.
(2) Nguyễn Đức Dân, (2002), Giáo trình tiếng Việt thực hành, Nxb ĐHQG
Tp HCM: Cũng như các tác giả vừa dẫn ở (1), tác giả Nguyễn Đức Dân quan
tâm đến vấn đề sử dụng chuẩn các phương tiện ngôn ngữ, đặc biệt là kỹ năng
viết câu khi tạo lập văn bản, bất kể đó là kiểu văn bản thuộc phong cách nào.
[17; tr23]
Như vậy, cách hiểu về câu sai của tác giả Nguyễn Đức Dân khá rộng. Đây
là lỗi tổng hợp tương đương với 3 kiểu lỗi: lỗi chính tả, lỗi từ ngữ và lỗi câu mà
hai tác giả nói ở (1) quan niệm. Ngoài ra, khi nói về lỗi câu, GS.TS Nguyễn
Đức Dân còn thêm một kiểu lỗi mà hai tác giả dẫn trên không bàn đến, đó là
kiểu câu mơ hồ.
Như vậy, để tạo lập được một văn bản đúng và hay, người viết trước hết cần
tránh những lỗi về câu như GS.TS Nguyễn Đức Dân đã nêu.
(3) Bài báo với nhan đề “Giật mình vì lỗi sơ đẳng trong văn bản hành
chính”
(Theo Thanh Quí – Tuấn Anh) , [email protected], ngày 05-7-2013.
Các tác giả của bài viết này đã bày tỏ sự lo ngại về tình trạng mắc lỗi trong
kiểu văn bản hành chính - công vụ. Bài báo đã dựa vào kết quả điều tra của
Viện Công nghệ Thông tin về thực trạng mắc lỗi chính tả trong văn bản tiếng
Việt và kết luận lỗi chính tả trong văn bản ở một số ban ngành “đã ở mức báo
động, vượt quá cao với tiêu chuẩn”. Tác giả nêu rõ, tình trạng văn bản mắc lỗi
không chỉ thấy ở những văn bản do cấp địa phương ban hành mà ngay cả ở
những văn bản của “… các cơ quan thuộc Bộ cũng có tỷ lệ lỗi chính tả khá cao.
Đặc biệt, có đơn vị có tỷ lệ mắc lỗi gần 40% như Cục Vệ sinh an toàn thực
phẩm…”.
Bài báo này còn bình luận: “ Ý tưởng ngô nghê, ngôn từ phản cảm, thậm
chí là quá mức đời thường đang xuất hiện ngày một nhiều trong các công thư
nhân danh cơ quan nhà nước, tổ chức nghề nghiệp… khiến tính trang nghiêm
và chuẩn mực vốn có của văn bản này bị ảnh hưởng nghiêm trọng…”.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
11
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chủ
tịch”,
đăng
tải
trên
[email protected], ngày 05-7-2013: Bài báo nói về lỗi trong văn bản báo
cáo của ông Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô - tô Hà Nội gửi Ban Thường vụ Thành
ủy và UBND Tp Hà Nội về tình hình điều chuyển phương tiện nhằm giảm tải
cho bến xe Mỹ Đình dẫn tới dư luận không tốt của nhiều người.
Lỗi của văn bản báo cáo này là đã đưa ra những “lưu ý hết sức ngô nghê”,
như: “… ngoài ra cũng cần phải lưu ý đến các mối quan hệ: Thái Bình là quê
của một Phó Thủ tướng, một Bộ trưởng, hai Thứ trưởng,… nên cân nhắc việc
giảm tải ở bến xe…”.
Ngoài ra, bài báo này còn dẫn một số báo cáo mắc lỗi khác và cuối cùng
kết luận bằng việc đưa ra lời bàn: “Trong việc ban hành văn bản, đặc biệt là văn
bản hành chính, bao gồm cả báo cáo, vấp lỗi về ngôn từ, nội dung diễn đạt
không còn xa lạ…”.
(2) Bài báo mang nhan đề: “Kỹ năng viết báo cáo”, (Congchucvienchuc.com/…/ky-nang-viet-bao-cao(2014).html), ngoài các nội dung cơ
bản, như: Ý nghĩa của viết báo cáo, các loại báo cáo, yêu cầu của báo cáo, các
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo, các bước viết báo cáo, … bài báo
còn trình bày sơ lược về “Các lỗi thường gặp trong báo cáo”, cụ thể đó là ba
kiểu lỗi sau đây:
- Thứ nhất: Lỗi trình bày bản báo cáo. Lỗi trình bày gồm 4 kiểu nhỏ:
+ Lỗi đánh số;
quan, đơn vị sau:
- Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ; của một số
Bộ, Ban, ngành và cơ quan ở Trung ương (như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ
Công Thương, Uỷ ban Dân tộc, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tổ chức
Trung ương, Ban Dân vận Trung ương, Trung tâm Thông tin công tác Tuyên
giáo Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thuật Trung ương, Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn
phòng Trung ương Đảng, Bộ Nội vụ, Bộ Giao thông vận tải).
- Báo cáo của một số sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan Đảng, chính
quyền các tỉnh, thành phố: Thái Nguyên, Bình Định, Bắc Kạn, Cần Thơ, Thừa
Thiên – Huế, Bắc Giang, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang.
- Báo cáo của cơ quan Đảng, chính quyền cấp huyện thuộc các tỉnh,
thành phố: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Thừa Thiên – Huế, Hải Dương, thành phố
Hồ Chí Minh, Bắc Giang.
- Báo cáo của một số phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện thuộc các
tỉnh: Thái Nguyên, Bình Định, Hải Dương, Hà Nội.
- Báo cáo của đảng uỷ các xã, thị trấn thuộc các huyện: Chợ Mới (Bắc
Kạn), Hoằng Hoá (Thanh Hoá), thành phố Bắc Giang (Bắc Giang), Võ Nhai
(Thái Nguyên), thị xã Chí Linh (Hải Dương).
- Báo cáo của UBND các xã, thị trấn thuộc huyện Võ Nhai (Thái Nguyên).
- Báo cáo của các trường học trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm
non đến đại học thuộc các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa
Thiên – Huế, Sơn La, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Thanh Hoá.