Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
Lời nói đầu
Thực hiện phương châm đào tạo "học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với
thực tế, nhà trường gắn với xã hội". Chính vì vậy mà trường "THDL kỹ thuật
công nghệ Lê Quý Đôn" cho học sinh, sinh viên đi thực tập tại các đơn vị sản
xuất kinh doanh. Mục đích là giúp cho sinh viên nắm bắt và tìm hiểu thêm về
thực tế dựa trên lý thuyết đã được học ở nhà trường. Đồng thời tạo sự nhuần
nhuyễn thêm một cách có logic và có kiến thức được vững chắc để khi trở thành
một nhân viên, một cán bộ kế toán sẽ không còn bỡ ngỡ với công việc được
giao. Qua thời gian ngắn được tiếp xúc với thực tiễn của công tác kế toán tại cơ
sở, em nhận thấy: “ công tác kế toán tại đơn vị rất quan trọng, nó giống như trái
tim của con người, nếu như trái tim ngừng đập thì con người sẽ chết và kế toán
cũng vậy, nếu như không có doanh nghiệp thì kế toán không thể hoạt động được.
Và mỗi phần hành kế toán là một khâu quan trọng trong công tác kế toán”.
Ngày nay, nền kinh tế thị trường Việt Nam đang chuyển mình sang một
giai đoạn mới, giai đoạn phát triển nền kinh tế trong cơ chế thị trường. Vì vậyđể
doanh nghiệp tồn taị và phát triển, có vị trí đứng vững trên thị trường, thì yêu
cầu đặt ra cho các doanh nghiệp là cần phải đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu và
nắm bắt kịp thời nhu cầu của thị trường. Đó là những yếu tố quan trọng quyết
định sự thành, bại của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nỗ lực rất lớn trong công
tác tổ chức và quản lý. Để quản lý và theo dõi chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh thì bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải có và tổ chức tốt công tác kế
toán tại công ty mà trong đó còn bao gồm phân bổ chi phí tiền lương và các
khoản trích theo lương.
Trong cuộc sống, tiền lương không chỉ là vấn đề mà người tham gia trực
tiếp lao động quan tâm mà nó đã trở thành vấn đề chung của toàn xã hội. Bởi
tiền lương là đòn bẩy kinh tế mang lại thu nhập cho người lao động bù đắp
những hao phí về sức lao động của con người. Nó còn góp phần thúc đẩy động
viên người lao động tham gia nhiệt tình trong công việc để đạt được kết quả tốt
tiền lương đối với Công ty.
Nội dung gồm: ( ngoài phần mở đầu và kết luận) kết cấu của đề tài
chia làm 3 chương:
2
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
2
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
Chương I: Lý luận chung về công tác kế toán tiền lương và các khoản
trích theo lương.
Chương II: Thực trạng và tổ chức công tác kế toán tiền lương và các
khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Tân Thái Bình.
Chương III: Một số nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế
toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH Tân Thái
Bình.
Do trình độ và thời gian có hạn nên báo cáo thực tập này không thể tránh
khỏi những sai sót và hạn chế vì vậy em kính mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý
kiến của thầy giáo hướng dẫn và ban lãnh đạo công ty, đặc biệt là các anh, chị
phòng tài chính – kế toán, để chuyên đề thực tập của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 24 tháng 06 năm 2008
Học sinh
Trần Thị Kim Tuyến
3
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
3
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ
TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG.
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
- Quản lý số lượng lao động: Là quản lý về số lượng người lao động trên các
mặt : Giới tính, độ tuổi, chuyên môn, ...
- Quản lý chất lượng lao động : Là quản lý năng lực mọi mặt của từng
(nhóm) người lao động trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm như : Sức
khoẻ lao động, trình độ kỹ năng – kỹ xảo, ý thức kỷ luật,..
Chỉ có trên cơ sở nắm chắc số, chất luợng lao động trên thì việc tổ chức,
sắp xếp, bố trí các lao động mới hợp lý, làm cho quá trình sản xuất của doanh
nghiệp hoạt động nhịp nhàng có hiệu quả cao. Ngược lại, không quan tâm
đúng mức việc quản lý lao động thì dẫn tới sức sản xuất của doanh nghiệp bị trì
trệ, kém hiệu quả.
Đồng thời, quản lý lao động tốt là cơ sở cho việc đánh giá trả thù lao cho
từng lao động đúng, việc trả thù lao đúng sẽ kích thích được toàn bộ lao động
trong doanh nghiệp lao động sáng tạo, nâng caokỹ năng – kỹ xảo, tiết kiệm
nguyên vật liệu, tăng năng suất lao động góp phần tăng lợi nhuận( nếu đánh giá
sai, việc trả thù lao không đúng thì kết quả ngược lại.
2. Khái niệm, ý nghĩa, và nhiệm vụ của kề toán tiền lương và các
khoản trích theo lương.
2.1.Khái niệm
Tiền lương là phần hao phí sức lao động, là phần thù lao mà người lao
động được hưởng sau khi làm việc cho doanh nghiệp, cống hiến về mặt thời gian
hoặc tạo ra sản phẩm dựa trên thoả thuận giữa người lao động và doanh
nghiệp theo chế độ quản lý tiền lương .
Tiền lương là một bộ phận chi phí nhân công là một trong những yếu tố
cấu thành chi phí sản xuất, chi phí kinh doanh.
2.2. Bản chất và chức năng của tiền lương.
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền hay sản phẩm mà xã hội trả cho người
lao động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống
hiến. Như vậy tiền lương thực chất là khoản thù lao mà doanh nghiệp trả cho
công đoàn (KPCĐ), cần phải thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp một cách trung thực, kịp thời đầy đủ
tình hình và sự biến động về số lượng, chất lượng lao động, tình hình sử
dụng thời gian lao động và kết quả lao động.
6
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
6
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
- Tính toán chính xác, kịp thời, đúng chính sách, chế độ các khoản tiền
lương, tiền thưởng các khoản trợ cấp phải trả cho người lao động. Phản ánh kịp
thời, chính xác tình hình thanh toán các khoản cho người lao động thực hiện
việc kiểm tra tình hình huy động và sử dụng lao động, tình hình chấp hành các
chính sách, chế độ về lao động, tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ.
- Tính toán và phân bổ chính xác, đúng đối tượng các khoản tiền lương,
khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ và chi phí sản xuất kinh doanh. Mở số kế
toán và hạch toán lao động, tiền lương, tiền thưởng, BHXH, BHYT, KPCĐ,
đúng chế độ, đúng phương pháp kế toán.
- Lập báo cáo về lao động về lao động, tiền lương, BHXH, BHYT,
KPCĐ, thuộc phạm vi trách nhiệm của kế toán. Tổ chức phân tích tình hình
sử dụng lao động quỹ tiền lương đề xuất các biện pháp nhằm khai thác có
hiệu quả, tiềm năng lao động, tăng năng suất. Đấu tranh, ngăn chặn những
hành vi, vi phạm kỷ luật lao động, vi phạm chính sách các chế độ.
3. Vai trò của tiền lương và các khoản trích theo lương.
Vai trò của tiền lương.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử và có ý nghĩa
chính trị, xã hội to lớn với bất kỳ một quốc gia nào. Nó được quan tâm rất nhiều
kể cả người tham gia lao động và người không trực tiếp tham gia lao động.
Trong nền kinh tế thị trường chức năng của doanh nghiệp là kinh doanh hàng
hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Để thực hiên tốt chức năng đó thì
hiện công bằng xã hội thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, khắc phục những mặt
yếu của cơ chế thị trường.
3.3. Yêu cầu của quản lý tiền lương và các khoản trích theo lương.
Xuất phát từ tầm quan trọngcủa tiền lương trong cuộc sống của chúng ta,
đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói riêng cũng như toàn bộ nền
kinh tế nói chung, trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp cần thực hiện việc
yêu cầu quản lý tiền lương và các khoản trích theo lương được tốt.
- Theo dõi chặt chẽ số lượng lao động, làm việc trong doanh nghiệp,
trình độ tay nghề của người lao động từ đó lựa chọn hình thức trả lương phù hợp
cho mỗi người.
- Tổ chức thực hiện nâng cấp, nâng bậc cho cán bộ công nhân viên trong
công ty sao cho công bằng, công khai và đúng chính sách.
8
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
8
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
- Định kỳ làm tốt công tác thanh toán tiền lương của doanh nghiệp đối
với người lao động, mặt khác theo dõi tình hình nghĩa vụ, quyền lợi của người
lao động đối với các tổ chức xã hội như : BHXH, BHYT, KPCĐ.
4. Nội dung kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
4.1. Nội dung của kế toán tiền lương.
Tiền lương là số tiền mà chủ doanh nghiệp trả cho người lao động
căn cứ vào tính chất lao động của họ sau thời gian làm việc.
Tiền lương trả cho người lao động bao gồm: Lương chính, lương phụ và
các khoản phụ cấp mang tính chất lương theo quy định của nhà nước.
- Lương chính: Là khoản lương chủ yếu trả cho người lao động được căn
cứ vào ngành bậc chuyên môn, chức trách, khối lượng công việc được giao và
theo thang bậc lương.
- Lương phụ : Là khoản tiền trả thêm cho người lao động trong thời
được hưởng chếđộ khám chữa bệnh không mất như : viện phí, thuốc men. Để
khám chữa bệnh không mất tiền thì họ phải có thẻ bảo hiểm y tế . Thẻ BHYT
được mua từ trích BHYT, theo quy định của BHYT được trích theo tỷ lệ 3% trên
tổng quỹ lương phải thanh toán cho công nhân viên.Trong đó tính vào chi phí
sản xuất kinh doanh là 2% và khấu trừ vào lương công nhân là 1%.
Ngoài ra, để phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn đựơc thành lập theo
luật công đoàn, doanh nghiệp phải trích lập kinh phí công đoàn Quỹ KP CĐ
được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương phải trả được
tính vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Theo quy định hiện hành, thì tỷ lệ
trích KPCĐ tính theo chi phí tiền lương phải trả là 2%, trong đó 1% là dành cho
hoạt động công đoàn trên cơ sở và 1% cho hoạt động công đoàn cấp trên.
Để tăng cường quản lý lao động, cải tiến, hoàn thiện việc phân bổ, sử dụng
có hiệu quả lực lượng lao động, cải tiến và hoàn thiện chế độ tiền lương, chế độ
sử dụng quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ được xem là một phương tiện hữu hiệu kích
thích người lao động gắn bó với hoạt động sản xuất kinh doanh, rèn luyện tay
nghề, nâng cao năng suất lao động. Để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
10
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
10
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
kinh doanh thì đồng thời tính toán, thanh toán, đầy đủ, kịp thời các khoản trích
tiền lương, tiền thưởng, BHXH, BHYT đúng chính sách, sử dụng tốt KPCĐ.
5. Nguyên tắc hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương.
Để đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời cho nhà quản lý đòi hỏi hạch toán
tiền lương và các khoản trích theo lương phải quán triệt các nguyên tắc sau:
+ Trả lương theo số lượng, chất lượng lao động.
Khi thanh toán chi trả tiền lương nhất thiết phải gắn chặt hai yếu tố trên để tránh
tình trạng chủ nghĩa bình quân phân phối. Nguyên tắc này đảm bảo tính công
bằng, người lao động nhận được khoản tiền đền bù chính đáng. Đó là động lực
Là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào thời gian
làm việc, cấp bậc công việc và lương tháng cho người lao động.
Hình thức trả lương này thường được áp dụng cho các lao động làm công
tác văn phòng như : Hành chính, quản trị, tổ chức lao động, thống kê, tài vụ, kế
toán,... và các nhân viên thuộc các ngành không có tính chất sản xuất. Tiền
lương thời gian có thể chia ra :
• Tiền lương tháng : Là tiền lương trả cố định hàng tháng trên cơ sở hợp
đồng lao động.
Công thức tính :
Tiền lương tối thiểu x ( hệ số lương + hệ số phụ cấp)
Tiền lương tháng =
Số ngày làm việc theo quy định
* Chú ý : Số ngày làm vịêc trong một tháng theo quy định của luật lao động là
26 ngày.
• Tiền lương tuần : Là tiền lương trả cho một tuần làm việc và được xác
định bằng công thức sau :
Tiền lương tháng x 12 ( tháng)
Tiền lương tuần =
52 ( tuần)
• Tiền lương ngày : là tiền lương trả cho một ngày làm việc và được
xác định bằng công thức sau :
Tiền lương tháng
Tiền lương ngày =
số ngày làm việc trong tháng
12
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
12
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
• Tiền lương giờ : Là tiền lương trả cho một giờ làm việc và được xác
nghiệp
của công nhân viên. Trong thực tế hình thức này ít được sử dụng trong các
doanh nghiệp sản xuất.
Tiền lương tính theo thời gian có thưởng :
Là tiền lương tính theo thời gian giản đơn kết hợp với chế độ tiền thưởng trong
sản xuất. Theo hình thức này sẽ có tác dụng thúc đẩy người lao động tăng năng
suất lao động, tiết kiệm vật tư và nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhìn chung
hình thức trả lương theo thời gian có mặt hạn chế là tiền lương mang tính chất
bình quân, nhiều khi không phù hợp với kết quả lao động thực tế của người lao
động.Vì vậy chỉ những trường hợp không đủ thực hiện chế độ.
Khi áp dụng hình thức này cần thiết phải thực hiện một số các biện pháp
kèm theo như : khuyến khích vật chất, kiểm tra chấp hành nội quy, kỹ thuật
lao động,... nhằm nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác, tinh thần hăng
say lao động có chất lượng và hiệu quả cao.
Ưu điểm và hạn chế của hình thức trả lương theo thời gian
Ưu điểm : Việc trả lương theo hình thức thời gian là tính toán
đơn giản và phù hợp
với lao động gián tiếp.
Hạn chế : Do việc tính bình quân hoá tiền lương nên không phân
biệt người giỏi, người dốt. Đồng thời trả lương theo thời gian cũng có hạn chế vì
tiền lương trả cho người lao động không đảm bảo đầy đủ, nguyên tắc phân phối
theo lao động chưa tính đến một cách đầy đủ chức năng đòn bẩy kinh tế, không
kích thích được sự phát triển sản xuất, chưa phát huy hết khả năng sẵn có của
người lao động. Nếu áp dụng hình thức trả lương theo thời gian thì nên kết hợp
hinh thức trả lương theo thời gian có thưởng. Như vậy sẽ tạo cho người lao động
có tính tự giác, lao động có kỷ luật và có năng suất lao động.
2. Hình thức trả lương theo sản phẩm.
Hình thức trả lương này được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp sản
xuất. Theo hình thức này việc trả lương được tiến hành trên cơ sở số lượng, chất
lượng công việc đã hoàn thành và đã được nghiệm thu. Đây là hình thức trả
được lĩnh = công việc x Đơn giá tiền lương
trong tháng hoàn thành
2.2. Tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp.
15
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
15
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
Hình thức này được áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp ở các bộ
phận sản xuất như : Lao động làm nhiệm vụ vận chuyển vật liệu, thành
phẩm, bảo dưỡng máy móc, thiết bị sản xuất,... Tuy lao động của họ không
trưc tiếp tạo ra sản phẩm, nhưng lại gián tiếp ảnh hưởng tới năng suất lao
động của người lao động trực tiếp nên có thể căn cứ vào kết quả lao động
trực tiếp và lao động gián tiếp để tính lương cho lao động gián tiếp.
Công thức :
Tiền lương Tiền lương được Tỷ lệ
được lĩnh = lĩnh của bộ phận x lương
trong tháng trực tiếp gián tiếp
Tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp có tác dụng làm cho những người phục
vụ sản xuất quan tâm đến kết quả lao động sản xuất, vì nó gắn liền với lợi ích
kinh tế của bản thân họ.
2.3. Tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng, phạt,
Là tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp, hay gián tiếp, kết hợp với chế
độ khen thưởng do doanh nghiệp quy định như thưởng về chất lượng sản phẩm
tốt, thưởng tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư,... Cách tính này ngoài tiền
lương theo sản phẩm trực tiết không hạn chế, người lao động còn được hưởng
một khoản tiền thưởng theo quy định. Nó nhằm tác dụng kích thích
người lao động không chỉ quan tâm đến số lượng sản phẩm làm ra mà còn quan
tâm đến chất lượng sản phẩm, tăng năng suất lao động,...
Trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, lãng phí vật tư,
thích đáng phân phối cho người lao động. Đây là cách tính lương tiến bộ nhất
vì nó gắn với trách nhiệm của các nhân hoặc tập thể người lao động, với chính
sản phẩm mà họ đã làm ra. Tính theo sản phẩm cuối cùng, tiền lương phải trả
cho người lao động không có chi phí sản xuất mà nằm trong thu nhập còn lại sau
khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý, các khoản phân phối lợi nhuận theo quy
định.
2.7. Chia lương theo cấp bậc tiền lương và thời gian lao động.
Thực tế của từng người lao động trong tập thể :
a. Xác định hệ số chia lương.
Hệ số Tổng tiền lương thực tế được lĩnh của tập thể
17
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
17
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
chia =
lương Tổng tiền lương theo cấp bậc và thời gian làm việc của các cá
nhân trong tập thể
b. Tính tiền lương chia cho từng người.
Tiền lương Tổng tiền lương theo Hệ số
được lĩnh = cấp bậc và thời gian làm x chia
từng người việc của từng người lương
2.8. Chia lương theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc thực tế.
a. Xác định tiền lương tính theo cấp bậc công việc và thời gian làm việc
cho từng người.
Tiền lương Thời gian Đơn giá
theo cấp bậc = làm việc x tiền lương
công việc thực tế theo cấp bậc
b. Xác định chênh lệch giữa tiền lương thực lãnh của tập thể với tổng tiền
lương tính theo cấp bậc công việc, thời gian làm việc của tập thể là phần lương
Tuy nhiên để tính hình thức lương theo sản phẩm có thể áp dụng một cách
thuận lợi, phát huy đầy đủ những ưu điểm của hình thức này doanh nghiệp phải
xây dựng một hệ thống định mức lao động cho thật hợp lý, xây dựng được đơn
giá tiền lương trả cho từng loại sản phẩm, từng loại công việc, lao vụ một cách
khoa học hợp lý.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải xây dựng chế độ khen thưởng rõ ràng, xây
dựng xuất thưởng luỹ tiến thích hợp với từng loại sản phẩm,... có như vậy
tiền lương trả theo sản phẩm mới đảm bảo được chính xác công bằng và hợp lý.
3. Tiền lương khoán.
Là hình thức trả lưong cho từng người lao động theo khối lượng và chất
lượng công việc mà họ hoàn thành.
Công thức xác định :
Tiền lương Khối lượng công Đơn giá cho
khoán trong = việc hoàn thành x từng khối lượng
tháng trong tháng công việc đó
Ngoài chế độ tiền lương, người lao động còn được hưởng các chế độ như tiền
thưỏng theo quy chế của doanh nghiệp và các khoản trợ cấp theo quy định.
19
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
19
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
4. Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
4.1. Quỹ tiền lương.
Quỹ tiền lương là toàn bộ tiền lương tính theo công nhân viên của doanh
nghiệp do doanh nghiệp quản lý và trả lương. Ta có thể phân loại quỹ tiền
lương như sau :
Quỹ tiền lương trong danh sách : Là quỹ tiền lương cho cán bộ
công nhân viên lao động trong thời gian lâu dài và có hợp đồng dài hạn.
Quỹ lương ngoài danh sách : Là quỹ lương trả cho công nhân viên
• Đơn giá tiền lương thường được xác định như sau :
Đơn giá tiền lương tính trên tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí ( thườngáp dụng
với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng nhưng chưa có phân
chia định mức lao động cho từng sản phẩm và được xác định
bằng công thức :
V
KH
ĐG =
DT
KH
- CF
KH
Trong đó :
ĐG : là đơn giá tiền lương.
V
KH
: là quỹ
tiền lương kế hoạch.
DT
KH
: doanh thu kế hoạch.
CF
KH
: chi phí kế hoạch.
Đơn giá tiền lương được xác định trên lợi nhuận của doanh
nghiệp
V
KH
lương thực tế phải được thường xuyên đối chiếu với quỹ lương kế hoạch trong
mối quan hệ thực hiệh kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp nhằm kịp thời các
khoản tiền lương không hợp lý, kịp thời đề ra các biện pháp nhằm nâng cao
năng suất lao động, đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động. Thực hiện
nguyên tắc tăng lao động bình quân nhanh hơn mức tiền lương bình quâm,
góp phần hạ thấp chi phí trong sản xuất, hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng tích
luỹ xã hội.
4.2. Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ.
Nền kinh tế nước ta dang ngày càng phát triển, dẫn tới thu nhập của ngườ
laođộng cũng tăng theo nên ngoài tiền lương được các doanh nghiệp chi trả còn
phải trích lập các quỹ nhằm đảm bảo cho người lao động không những về mặt
vật chất mà còn đảm bảo về mặt tinh thần khi gặp rủi ro. Trong đó, quỹ
BHXH nhằm đảm bảo vật chất góp phần ổn định đời sống cho người lao động.
Quỹ BHYT tài trợ cho việc phòng và chăm sóc sức khoẻ cho người lao động.
KPCĐ chăm lo bảo vệ họ.
4.2.1. Quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH).
Quỹ BHXH là quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng
góp trong quỹ các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như : ốm đau, thai
22
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
22
Trường THDL kỹ thuật công nghệ Lê Quý Đôn Báo cáo thực tập tốt
nghiệp
sản, tai nạn lao động, hưu trí, mất sức,... Theo chế độ hiện hành quỹ BHXH
được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số quỹ lương cơ
bản và các khoản phụ cấp như chức vụ, khu vực của cán bộ công nhân viên
thực tế phát sinh trong tháng. Quỹ này do cơ quan BHXH quản lý.
4.2.2. Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT).
Quỹ BHYT là quỹ được sử dụng để đài thọ cho những người lao động có
tham gia đóng góp quỹ trong các hoạt động khám, chữa bệnh, thuốc chữa bệnh,
1. Hạch toán số lượng lao động:
Căn cứ vào chứng từ ban đầu là bảng chấm công hàng tháng tại mỗi bộ
phận, phòng ban, tổ, nhóm gửi đến phòng kế toán để tập hợp và hạch toán số
lượng lao động trong tháng đó tại doanh nghiệp và cũng từ bảng chấm công kế
toán có thể nắm được từng ngày có bao nhiêu người làm việc, bao nhiêu người
với lý do gì.
Hàng ngày tổ trưởng hoặc người có trách nhiệm sẽ chấm công cho từng
người tham gia làm việc thực tế trong ngày tại nơi mình quản lý sau đó cuối
tháng các phòng ban sẽ gửi bảng chấm công về phòng kế toán. Tại phòng kế
toán, kế toán tiền lương sẽ tập hợp và hạch toán số lượng công nhân viên lao
động trong tháng.
2. Hạch toán thời gian lao động
Chứng từ để hạch toán thời gian lao động là bảng chấm công. Bảng chấm
công là bảng tổng hợp dùng để theo dõi ngày công thực tế làm việc, nghỉ việc,
ngừng việc, nghỉ BHXH của từng người cụ thể và từ đó có thể căn cứ tính trả
lương, BHXH…
Hàng ngày tổ trưởng (phòng ban, nhóm…) hoặc người ủy quyền căn cứ
vào tình hình thực tế của bộ phận mình quản lý để chấm công cho từng người
trong ngày và ghi vào các ngày tương ứng trong các cột từ 1 đến 31 theo các kí
hiệu qui định. Kế toán tiền lương căn cứ vào các ký hiệu chấm công của từng
người rồi tính ra số ngày công theo từng loại tương ứng để ghi vào các cột 32,
33, 34, 35, 36. Ngày công quy định là 8h nếu giờ lễ thì đánh thêm dấu phẩy.
Ví dụ: 24 công 4 giờ thì ghi 24,4
Tùy thuộc vào điều kiện đặc điểm sản xuất, công tác và trình độ hạch toán
đơn vị có thể sử dụng một trong các phương pháp chấm công sau:
Chấm công ngày: Mỗi khi người lao động làm việc tại đơn vị hoặc làm
việc khác như họp, thì mỗi ngày dùng một ký hiệu để chấm công cho ngày đó.
24
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
24
25
Học sinh : Trần Thị Kim Tuyến Lớp : Kế toán 2 – Khoá 3
25