1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HÀ THỊ THÚY
GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Mã số: 9 38 01 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2019
2
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005) ra đời như là một cột mốc đánh dấu
sự hội nhập của pháp luật dân sự nước ta với pháp luật dân sự các nước trên thế
giới, đưa pháp luật dân sự của Việt Nam tiến gần hơn với pháp luật dân sự của các
quốc gia khác. Với sự ra đời của BLDS 2005, luật dân sự được xây dựng với vai trò
là “luật mẹ”, luật chung điều chỉnh tất cả các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân
phát sinh trong giao lưu dân sự. Sau gần 10 năm thi hành thì BLDS 2005 đã bộc lộ
thiện quy định pháp luật về giải thích hợp đồng. Như TS. Nguyễn Ngọc Khánh đã
viết: “vấn đề đặt ra đối với chúng ta hôm nay không phải chỉ là việc khắc phục
những bất cập của chế định giải thích hợp đồng hiện hành, và cũng không phải chỉ
là việc bổ sung hay phát triển những phương pháp giải thích trên cơ sở tiếp thu có
chọn lọc kinh nghiệm các nước, mà quan trọng hơn, chúng ta cần phải tiếp tục
nghiên cứu, trao đổi, tổng hợp để xây dựng cơ sở lý luận sâu sắc hơn, hoàn thiện
hơn cho hoạt động giải thích hợp đồng ở nước ta”2.
Về mặt thực tiễn, hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên làm phát sinh, thay
đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 385 BLDS 2015). Khi tham gia vào
quan hệ hợp đồng các bên luôn mong muốn đạt được một lợi ích vật chất hoặc tinh
thần nhất định, đó chính là mục đích của hợp đồng. Để đạt được mục đích này thì
các bên luôn cố gắng soạn thảo cho mình một hợp đồng rõ ràng, cụ thể (dù bằng
hình thức văn bản hay lời nói, hành vi). Tuy nhiên, thực tế do rất nhiều lý do mà các
hợp đồng có thể có những điều khoản không rõ ràng, khó hiểu, được hiểu theo
nhiều nghĩa khác nhau hoặc có những điều khoản quy định quá chung chung, hoặc
mâu thuẫn nhau. Điều này gây ra sự khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng,
dẫn đến tranh chấp, gây bất ổn trong giao lưu dân sự cũng như ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích của một hoặc một số bên. Chính vì vậy, chế định pháp luật giải
thích hợp đồng được xây dựng nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh
chấp xảy ra giữa các bên, cũng như tránh sự tùy tiện của chủ thể có thẩm quyền khi
giải thích hợp đồng.
Bộ luật dân sự 1995, lần đầu tiên pháp điển hóa quy định pháp luật về giải
thích hợp đồng thành một điều luật cụ thể, Điều 408. So với Điều 408 BLDS 1995
thì Điều 409 BLDS 2005 đã giải quyết được mối quan hệ giữa việc áp dụng học
thuyết ý chí hay học thuyết thể hiện ý chí để giải thích hợp đồng. Bộ luật dân sự
2015 mới được Quốc hội thông qua thì vấn đề giải thích hợp đồng được quy định tại
Điều 404, giải thích giao dịch dân sự được quy định tại Điều 121. So với Điều 409
BLDS 2005 thì Điều 404 BLDS 2015 đã rút gọn lại chỉ còn sáu căn cứ giải thích
hợp đồng: giải thích dựa vào ý chí chung của các bên trong hợp đồng, giải thích dựa
vào ngôn từ của hợp đồng, giải thích theo nghĩa phù hợp với tính chất, mục đích của
viết, tòa án giải thích hợp đồng dựa vào “một “ma trận” thông tin Tòa án giải thích
hợp đồng căn cứ vào những thông tin (dấu hiệu) tiền hợp đồng, thông tin (dấu hiệu)
hậu hợp đồng cũng như một số thông tin khác”3. Và việc vận dụng này của tòa án là
chưa có đầy đủ căn cứ pháp lý.
Về phía các bên trong hợp đồng, khi một hợp đồng có những điều khoản
được soạn thảo không rõ ràng dẫn đến có nhiều cách hiểu không thống nhất giữa
các bên sẽ gây ra tranh chấp. Nếu không được giải thích một cách chính xác thì sẽ
dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của một trong các bên có thể bị xâm phạm. Bởi
3 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam: Bản án và bình luận án, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2014, tr.206
5
vì việc thực hiện đúng sự thỏa thuận trong hợp đồng phụ thuộc vào cách giải thích
các điều khoản của hợp đồng. Hoạt động giải thích hợp đồng được thực hiện dựa
trên những nguyên tắc, căn cứ quy định tại BLDS. Tuy nhiên kết quả giải thích và
hiệu quả của việc giải thích phụ thuộc nhiều vào sự áp dụng linh hoạt các nguyên
tắc giải thích, căn cứ giải thích. Chính vì vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện pháp
luật về giải thích hợp đồng nhằm tạo ra cơ sở pháp lý khách quan, đầy đủ hơn, góp
phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các bên trong hợp đồng, thúc đẩy sự
phát triển và giữ ổn định cho giao lưu dân sự.
Việc nghiên cứu vấn đề giải thích hợp đồng ở Việt Nam hiện nay còn ít.
Trong khi đó nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa ngày càng cao dẫn đến
số lượng hợp đồng được giao kết ngày càng nhiều. Sự bất đồng ngôn ngữ vùng,
miền, sự bất đồng ngôn ngữ giữa các quốc gia cùng với sự cẩu thả hoặc việc quá tin
tưởng lẫn nhau của các bên khi soạn thảo hợp đồng, sự thiếu hiểu biết pháp luật, tập
quán khác nhau khi giao kết hợp đồng, việc giao kết các hợp đồng mẫu, hoàn cảnh
chi phối việc thực hiện hợp đồng luôn thay đổi làm cho các hợp đồng khi thực hiện
có những điều khoản không thống nhất cách hiểu ngày càng nhiều. Yêu cầu giải
юридического толкования” của tác giả Березина Е. А., Học viện Luật Quốc gia
Uran, Ekateburg, 2001; Luận án tiến sỹ luật học “Толькование гражданско –
правового договора” của Степанюк Н. В., năm 2008.
2.2. Ở trong nước
Ở trong nước, cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề hợp
đồng, tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống
những vấn đề lý luận và thực tiễn về giải thích hợp đồng tại Việt Nam, chỉ có các
công trình nghiên cứu một cách sơ lược một số khía cạnh của giải thích hợp đồng.
Ở cấp độ tổng quát có thể kể đến các công trình: Sách chuyên khảo: “Việt
Nam dân luật lược khảo” của tác giả Tiến sỹ Vũ Văn Mẫu, Bộ Quốc gia giáo dục
xuất bản, Sài Gòn, năm 1963, “Pháp luật về hợp đồng” của Tiến sỹ Nguyễn Mạnh
Bách, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1995; “Chế định hợp đồng
trong Bộ luật dân sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh, Nhà xuất bản Tư
pháp, năm 2007; “Luật hợp đồng Việt Nam: bản án và bình luận án”, tập 2, của
PGS. TS. Đỗ Văn Đại, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2014; giáo
trình “Luật hợp đồng - Phần chung”, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2013 của tác giả PGS. TS Ngô Huy Cương; Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, của trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Hồng Đức, năm 2014.
Về các bài báo, bài tham dự hội thảo có thể kể đến đó là: “Giải thích hợp
đồng dân sự: So sánh nước ngoài và liên hệ Điều 408 Bộ luật dân sự” của Tiến sỹ
Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10/2004; “Bàn về chế định
giải thích hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)” của hai tác giả PGS.
TS. Hà Thị Mai Hiên và Th.S Hà Thị Thúy, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số
7
tháng 3/2015; “Về chế định giải thích giao dịch dân sự trong Dự thảo Bộ luật dân
sự (sửa đổi)”, của tác giả PGS. TS. Nguyễn Quốc Sửu, Tạp chí Cộng sản điện tử,
giải thích hợp đồng được quy định trong luật thực định và thực tiễn vận dụng căn cứ
đó để giải thích hợp đồng của chủ thể có thẩm quyền giải thích. Từ đó có những
phân tích, nhận định về sự hợp lý, bất hợp lý của các nguyên tắc giải thích và các
8
căn cứ giải thích hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, nhằm tạo nền tảng cho những
đề xuất về bổ sung, hoàn thiện pháp luật về giải thích hợp đồng vào BLDS.
- Trên cơ sở xem xét các quan điểm giải thích hợp đồng được quy định trong
pháp luật của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới và thực tiễn giao kết, thực hiện
hợp đồng ở Việt Nam, luận án đề xuất một số căn cứ giải thích hợp đồng nhằm xem
xét bổ sung vào pháp luật giải thích hợp đồng trong BLDS.
- Cuối cùng luận án đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về giải thích hợp đồng, trong đó bao gồm kiến nghị về việc bố trí chế định giải thích
hợp đồng trong BLDS, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các nguyên tắc, căn cứ giải thích
hợp đồng và kiến nghị cụ thể nhằm tăng hiệu quả của việc giải thích hợp đồng ở
Việt Nam hiện nay.
4. Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài này, luận án đi vào nghiên cứu các vấn đề sau đây:
- Các vấn đề lý luận về hợp đồng, giải thích hợp đồng, giải thích di chúc và
giải thích giao dịch dân sự;
- Các quy định về giải thích hợp đồng của các Bộ luật dân sự ở Việt Nam qua
các thời kỳ, Bộ luật dân sự Liên bang Nga 1994, sửa đổi bổ sung 2014 và Bộ luật
dân sự của một số quốc gia khác, Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương
mại quốc tế 2004, Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và
một số văn bản pháp luật có liên quan có quy định về giải thích hợp đồng ở Việt
Nam, bao gồm Luật thương mại, Luật bảo vệ người tiêu dùng.
- Thực tiễn giải thích hợp đồng ở Việt Nam.
5. Phạm vi nghiên cứu
cứ giải thích được quy định trong BLDS 2015 đều là sự kế thừa của các căn cứ giải
thích hợp đồng trong BLDS 1995 và BLDS 2005.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử trên cơ sở quan điểm, mục tiêu, đường lối của Đảng và Nhà
nước về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau, bao gồm cả các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội
nhân văn nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học luật cho từng nội dụng cụ
thể để đạt được mục tiêu nghiên cứu mong muốn. Cụ thể các phương pháp được sử
dụng như sau:
Để đạt được nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề lý luận, trong chương I, luận án chủ
yếu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp quy nạp và diễn
dịch, so sánh để làm rõ khái niệm, bản chất của hoạt động giải thích hợp đồng, lý do
giải thích hợp đồng, mối quan hệ giữa giải thích hợp đồng với các hoạt động giải
thích khác.
Trong chương II, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là nghiên cứu thực trạng pháp luật
Việt Nam hiện hành về giải thích hợp đồng và thực tiễn giải thích hợp đồng ở nước
ta hiện nay, luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, mô tả,
quy nạp, diễn dịch, so sánh pháp luật và thực tiễn.
Trong chương III và chương IV, với nhiệm vụ nghiên cứu là xem xét và đưa ra các
kiến nghị hoàn thiện pháp luật nên phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu
là phương pháp quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật.
Luận án sử dụng cách nghiên cứu vấn đề theo chiều dọc và chiều ngang
nhằm tạo ra cái nhìn tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu, từ đó phục vụ cho việc
đạt được mục đích nghiên cứu của luận án.
7. Những đóng góp mới của luận án
Luận án “Giải thích hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” thể
hiện các điểm mới sau đây:
Thứ nhất, Luận án xây dựng được một cách có hệ thống các vấn đề lý luận
hợp đồng, nguyên tắc giải thích hợp đồng, các căn cứ giải thích hợp đồng, hậu quả
pháp lý của trường hợp hợp đồng không giải thích được.
Cuối cùng, Luận án đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng
pháp luật trong việc giải thích hợp đồng ở Việt Nam, bao gồm hai nhóm giải pháp:
nhóm giải pháp đối với chủ thể giải thích và giải pháp đối với chính các bên trong
hợp đồng.
8. Ý nghĩa khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án có đóng góp khoa học trong việc cung cấp hệ thống các
vấn đề lý luận và thực tiễn về giải thích hợp đồng. Từ đó, làm cơ sở cho các nhà lập
11
pháp nghiên cứu, phán ánh chúng vào quy định của pháp luật. Đồng thời, cũng là cơ
sở cho các chủ thể áp dụng pháp luật nắm bắt cơ sở của việc giải thích hợp đồng để
thực hiện việc giải thích hợp đồng một cách hiệu quả.
Thứ hai, luận án đưa ra những kiến nghị về hoàn thiện chế định pháp luật
giải thích hợp đồng Việt Nam. Vì vậy, luận án có ý nghĩa trong việc hoàn thiện pháp
luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu của nên kinh tế thị
trường trong thời kỳ toàn cầu hóa ngày càng cao.
Thứ ba, luận án cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho các luật gia trong việc
nghiên cứu, vận dụng hoặc giảng dạy chuyên ngành luật hợp đồng trong các cơ sở
nghiên cứu, đào tạo và giảng dạy ngành luật.
9. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo, thì luận án có kết cấu gồm 04 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải thích hợp đồng
Chương 2: Các căn cứ giải thích hợp đồng theo pháp luật Việt Nam hiện
hành và thực tiễn giải thích hợp đồng ở Việt Nam
Chương 3: Các quan điểm hiện đại về căn cứ giải thích hợp đồng và việc bổ
có hệ thống các vấn đề lý luận, pháp lý cũng như thực tiễn về chế định pháp luật
hợp đồng là rất cần thiết đối với cả người tham gia hợp đồng và cơ quan quản lý
nhà nước cũng như với các nhà làm luật. Đây là một trong những lý do làm cho các
công trình nghiên cứu về hợp đồng trở nên rất đồ sộ, trong đó có nhiều công trình
nghiên cứu về hợp đồng nói chung, có công trình nghiên cứu về các hợp đồng cụ
thể như hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng
tín dụng, ... Tác giả chia các công trình này thành hai nhóm lớn: các công trình nước
ngoài và các công trình trong nước.
4 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Luật dân sự Việt Nam, 2007, NXB Đại học quốc gia
TP. Hồ Chí Minh.
13
1.1.1. Các công trình ở nước ngoài
Hợp đồng luôn là một trong những chế định pháp luật quan trọng nhất của hệ
thống pháp luật tư ở bất kỳ quốc gia nào. Từ trước đến nay các công trình nghiên
cứu về hợp đồng chiếm một số lượng lớn trong hệ thống các công trình nghiên cứu
luật pháp của các nước trên thể giới.
Ở nước ngoài, các công trình nghiên cứu về hợp đồng có thể kể đến các công
trình sau:
Cuốn sách “Договорное право России: основы теории и практика
реализации” của tác giả Корецкий А. Д., nhà xuất bản Март, Москва – Ростов на
– Дону, 2004: tác giả đi từ nghiên cứu cơ sở lý thuyết của luật hợp đồng liên bang
Nga đến thực tiễn thi hành luật hợp đồng ở Liên bang Nga. Về tổng quát, công trình
có cấu trúc gồm hai phần: phần thứ nhất là cơ sở lý luận của luật hợp đồng của Liên
bang Nga và phần thứ hai là thực tiễn thi hành luật hợp đồng ở Liên bang Nga.
Công trình đã giải quyết các vấn đề sau: Phân tích khái niệm, thành phần, dấu hiệu
của hợp đồng; Phân biệt hợp đồng và giao dịch dân sự; Phân loại và hệ thống hóa
Nam và liên bang Nga. Cuối cùng luận văn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp
luật của Việt Nam về giao dịch dân sự, và việc nâng cao hiệu quả của việc xét xử vụ
việc về hiệu lực của giao dịch dân sự ở Việt Nam.
Nhìn chung các công trình này đều đi nghiên cứu khái quát về hợp đồng
hoặc một khía cạnh chuyên sâu về hợp đồng theo pháp luật của Liên bang Nga,
trong sự so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới.
1.1.2. Các công trình ở trong nước
Các công trình khoa học nghiên cứu về hợp đồng ở trong nước cho đến nay
chiếm một số lượng rất lớn trong các công trình nghiên cứu về khoa học pháp lý.
Tác giả chỉ phân tích một số công trình tiêu biểu qua mỗi thời kỳ lịch sử phát triển
của chế định pháp luật hợp đồng ở Việt Nam.
Một trong những công trình khoa học pháp lý đầu tiên về luật luật dân sự ở
Việt Nam có thể kể đến đó là bộ “Việt Nam dân luật lược khảo” của tác giả Vũ Văn
Mẫu. Trong công trình này, tác giả dành quyển thứ II để nói về luật hợp đồng với
tên gọi “Nghĩa vụ và khế ước”, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, năm 1963.
Trong cuốn sách này tác giả phân tích khái niệm nghĩa vụ, phân loại nghĩa vụ và các
văn bản pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ. Sau đó tác giả nghiên cứu về hợp đồng
(khế ước) với tư cách là một nguồn gốc làm phát sinh nghĩa vụ. Về hợp đồng Vũ
Văn Mẫu đã nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề liên quan đến hợp đồng,
từ bản chất của hợp đồng (bằng cách phân loại hợp đồng dựa trên nhiều tiêu chí
khác nhau), giao kết hợp đồng (bao gồm trình tự giao kết hợp đồng, các khuyết tật
của hợp đồng, năng lực chủ thể của người giao kết hợp đồng, ...), hợp đồng vô hiệu
và hậu quả của hợp đồng vô hiệu, hiệu lực của hợp đồng, chấm dứt hợp đồng. Như
vậy, trong công trình này tác giả đã nghiên cứu một cách khái quát và hệ thống các
chế định pháp lý thời kỳ Pháp thuộc về nghĩa vụ và hợp đồng, trên cơ sở so sánh
với pháp luật của Cộng hòa Pháp. Đây là công trình có giá trị tham khảo, cung cấp
nền tảng lý luận cũng như pháp lý quan trọng cho việc nghiên cứu pháp luật về hợp
đồng sau này.
trình nghiên cứu các chế định pháp luật hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 theo
từng vấn đề bằng việc dẫn chứng các bản án từ thực tiễn xét xử của tòa án. Từ
những phán quyết của tòa án tác giả bình luận hướng giải quyết của tòa án, từ đó
đưa ra những đánh giá, phân tích về từng chế định cụ thể của Bộ luật dân sự về hợp
đồng, so sánh với pháp luật của các nước trên thế giới và đề xuất những kiến nghị
hoàn thiện pháp luật về hợp đồng.
16
Về các loại hợp đồng cụ thể trong pháp luật Việt Nam, có thể kể đến cuốn:
“Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay” của nhóm tác giả TS. Phạm
Văn Tuyết và TS. Lê Kim Giang, nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội, năm 2012, “Pháp
luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Hải An, Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, năm 2012, ... Các công trình này đi vào
nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn liên quan đến từng loại hợp đồng
cụ thể dựa trên nền tảng chung của luật hợp đồng.
Ở cấp độ luận án, luận văn nghiên cứu về hợp đồng có thể kể đến các công
trình sau:
Luận án tiến sỹ luật học “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật
Việt Nam” của Nghiên cứu sinh Lê Minh Hùng, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2010. Luận án nghiên cứu vấn đề chuyên sâu về hợp đồng đó là hiệu lực
của hợp đồng. Trong công trình này, tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận chung
về hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng, hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng khi hoàn cảnh thay
đổi. Qua nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn xét xử của tòa án liên
quan đến hiệu lực của hợp đồng, tác giả đánh giá những bất cập của pháp luật Việt
Nam hiện hành về hiệu lực của hợp đồng, từ đó đề xuất những kiến nghị hoàn thiện
quy định của Bộ luật dân sự 2005 về hiệu lực hợp đồng.
Luận án “Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam” của Nghiên
luật dân sự” của ThS. Nguyễn Văn Phái, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24, tháng
12/2010, “Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng dân sự”
của tác giả Đinh Mai Phương, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số chuyên đề 2, tháng
11/2001, “Bàn về hợp đồng vô hiệu do được giao kết bởi người mất năng lực hành
vi dân sự qua một số vụ án” của TS. Đỗ Văn Đại, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4
(41)/2007, “Bàn về sửa đổi các quy định chung về hợp đồng của Bộ luật dân sự
2005” của PGS. TS. Ngô Huy Cương, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16
(153)/2009, “Về lãi suất trong hợp đồng vay tài sản và lãi suất quá hạn trong dự
thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật dân sự 2005” của ThS. Lê Minh
Hùng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6/2008, v.v.
1.2. Tình hình nghiên cứu về giải thích hợp đồng
1.2.1. Các công trình ở nước ngoài
Liên quan đến vấn đề giải thích hợp đồng, ở nước ngoài có thể kể đến cuốn:
“Сравнительное правоведение в сфере частного права”, tập 2, của tác giả
Konrad Zweigert và Hein Kotz, nhà xuất bản Международные отношения,
Москва, 1998, bản dịch bằng tiếng Nga. Công trình này tác giả chủ yếu nghiên cứu
về hợp đồng, từ giao kết hợp đồng đến thực hiện hợp đồng, về sự được lợi vô căn
cứ, bồi thường thiệt hại do hành vi trái luật. Trong đó, tác giả dành từ trang 106 đến
trang 118 để viết về giải thích hợp đồng. Trong phần này, tác giả đề cập đến hai học
thuyết giải thích hợp đồng tồn tại trong khoa học pháp lý là học thuyết ý chí và học
thuyết thể hiện ý chí. Từ đó, tác giả phân tích so sánh pháp luật của các nước trên
thế giới, cùng với công ước Viên, cuối cùng tác giả cho rằng, việc vận dụng học
thuyết ý chí để giải thích hợp đồng trong giai đoạn hiện nay là không phù hợp, do
nó chỉ phù hợp trong một xã hội lý tưởng. Còn trong giai đoạn hiện hay việc vận
dụng học thuyết thể hiện ý chí để giải thích hợp đồng vẫn là phù hợp hơn cả.
18
Sau khi bảo vệ Luận án Tiến sỹ: “Толькование граждаско – правового
điểm chủ quan, quan điểm khách quan về giải thích hợp đồng và nghiên cứu vận
dụng các quan điểm này vào chế định giải thích hợp đồng của Liên bang Nga. Từ
việc phân tích các cánh tiếp cận để xây dựng chế định giải thích hợp đồng trên thế
giới tác giả luận án đề xuất kiến nghị xây dựng chế định giải thích hợp đồng của
19
Liên bang Nga theo cách tiếp cận chủ quan, tức là giải thích hợp đồng căn cứ vào ý
chí chung đích thực của các bên. Trong trường hợp xác định được rằng ý chí chung
của các bên thì hợp đồng được giải thích theo cách hiểu của một người hợp lý đặt ở
vị trí của các bên xác lập hợp đồng. Cách tiếp cận này của tác giả luận án tương tự
với cách tiếp cận của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế,
hay Bộ luật Dân sự Pháp hiện hành. Bên cạnh đó, Luận án cũng nghiên cứu về việc
thiết lập các quy tắc giải thích hợp đồng cho pháp luật Liên bang Nga về giải thích
hợp đồng. Theo đó, tác giả nhận định rằng, việc thiết lập các quy tắc chung cho việc
giải thích hợp đồng là vô cùng khó khăn bởi vì mỗi hợp đồng đều có những đặc
điểm riêng biệt và luôn phụ thuộc vào một hoàn cảnh cụ thể. Và vì thế việc xây
dựng một quy tắc giải thích hợp đồng chung có thể dẫn đến thừa hoặc thiếu, mà nên
giao sự chủ động trong việc giải thích cho Thẩm phán. Luận án cũng đánh giá các
căn cứ giải thích hợp đồng theo pháp luật Liên bang Nga, bao gồm: ứng xử của các
bên sau khi hợp đồng được giao kết; những thư từ, trao đổi tiền hợp đồng; thói quen
được hình thành giữa các bên, mục đích và ý nghĩa chung của hợp đồng; tập quán
và những tình tiết khác được viện dẫn để giải thích hợp đồng. Cuối cùng Luận án
nghiên cứu về việc bổ sung hợp đồng – giải thích bổ sung. Những chủ đề nghiên
cứu trên cùng với những kết luận của luận án trên giúp nghiên cứu sinh có cái nhìn
tổng quan về pháp luật Liên bang Nga về giải thích hợp đồng. Từ đó, nghiên cứu so
sánh với pháp luật của Việt Nam, làm cơ sở đề xuất việc vận dụng cách tiếp cận cho
chế định giải thích hợp đồng ở Việt Nam và đề xuất việc bổ sung một số căn cứ giải
thích hợp đồng cho pháp luật Việt Nam.
vào các chứng cứ khác như các đàm phán trước đó, có hành vi của các bên sau khi
hợp đồng được giao kết của pháp luật Anh và những ưu điểm của pháp luật Đức
trong việc coi trọng các thư từ đàm phán, các hành vi ứng xử của các bên được coi
là một căn cứ giải thích hợp đồng; vấn đề hạn chế trong việc xem xét lại bản án,
quyết định giải thích hợp đồng của tào án cấp trên, bởi vì chỉ xem việc giải thích
hợp đồng là vấn đề sự kiện, mà không phài là vấn đề pháp lý của một số nước.
Những kết quả nghiên cứu này sẽ tạo ra cái nhìn toàn diện cho nghiên cứu sinh
trong việc đánh giá các pháp luật thực định Việt Nam về giải thích hợp đồng và cân
nhắc đề xuất bổ sung một số căn cứ giải thích hợp đồng cho pháp luật Việt Nam.
Bài viết “Толькование договора” của tác giả Жученко С. П. trong cuốn
«Практика применения общих положений об обязательствах», nhà xuất bản
Статус, Москва, 2011, từ trang 371 đến trang 391. Trong công trình này ông đã
giải quyết năm vấn đề từ việc phân tích chế định giải thích hợp đồng trong BLDS
Liên bang Nga hiện nay. Thứ nhất, tác giả Жученко С. П. đề cập đến phương pháp
giải thích. Ông đặt câu hỏi, có thể sử dụng cùng một phương pháp để giải thích
pháp luật và giải thích hợp đồng hay không? Liên quan đến vấn đề phương pháp
giải thích, Жученко С. П. còn đặt thêm hai câu hỏi: Có nên thừa nhận hợp đồng là
một hệ thống (gồm tổng hợp các điều khoản của nó) hay không? Và có thể thừa
nhận với tư cách là một hệ thống đối với các «hợp đồng mẫu – giao dịch một lần»
hoặc «hợp đồng chính – hợp đồng bổ sung» hay không? Thứ hai, Жученко С. П.
phân tích hợp đồng không phải là hình thức pháp lý duy nhất chứa đựng sự thể hiện
ý chí của các bên tham gia giao lưu dân sự, mà còn có hành vi pháp lý đơn phương.
21
Với hành vi pháp lý đơn phương, BLDS Liên bang Nga chỉ có điều luật duy nhất là
điều về giải thích di chúc. Vậy vấn đề đặt ra là, đối với các loại giao dịch dân sự
khác thì phải áp dụng điều luật nào để giải thích, ví dụ như quan hệ ủy quyền, quan
hệ hứa thưởng, … Thứ ba, trong bài viết của mình Жученко С. П. đặt ra vấn đề
thích pháp luật có nhiều điểm chung hơn là sự khác biệt. Ông đánh giá vai trò của
22
học thuyết ý chí và học thuyết thể hiện ý chí trong giải thích hợp đồng, từ đó,
Черданщев А. Ф. đề xuất quan điểm không thể giải thích giải thích các loại hợp
đồng khác nhau chỉ dựa trên một học thuyết duy nhất. Tác giả cho rằng việc giải
thích hợp đồng là việc đi tìm ý chí chung của các bên trong hợp đồng, ý chí này
được thể hiện trước hết trong chính các điều khoản của hợp đồng, chính vì vậy, việc
phân tích các điều khoản của hợp đồng là rất cần thiết để giải thích hợp đồng. Và
nếu không phân tích chúng thì không thể xác định được bản chất pháp lý của hợp
đồng. Từ đó, ông phân tích các thành phần của hợp đồng nhằm đánh giá vai trò của
tùng thành phần (điều khoản) này trong việc giải thích hợp đồng. Cuối cùng tác giả
phân tích bốn quy tắc giải thích hợp đồng được quy định tại Điều 431 BLDS Liên
bang Nga 1994.
Nghiên cứu về giải thích hợp đồng trong sự so sánh với giải thích pháp luật,
Березина Е. А. nghiên cứu và bảo vệ luận án tiến sỹ “Толкование договора как
вид юридического толкования” tại Học viện Luật Quốc gia Uran, Ekateburg, năm
2001. Trong công trình này, tác giả nhìn nhận giải thích hợp đồng như một dạng đặc
biệt của giải thích pháp luật. Chính vì vậy, tác giả đi từ việc nghiên cứu khái niệm,
phương pháp giải thích pháp luật, khái niệm và đặc điểm của hợp đồng với tư cách
là đối tượng của giải thích pháp luật, các loại giải thích hợp đồng dân sự, từ đó
Березина Е. А. đặt ra vấn đề tính hợp lý của các phương pháp và quy tắc giải thích
hợp đồng theo pháp luật hiện hành theo Điều 431 BLDS Liên bang Nga và đưa ra
một số kiến nghị hoàn thiện.
Cuốn sách “Element of contract interpretation” của Steven J. Burton, nhà xuất
bản Oxford, năm 2009. Burton S. J. đi từ phân tích các vấn đề lý luận về giải thích
hợp đồng, bao gồm mục đích của giải thích hợp đồng, nhiệm vụ của giải thích hợp
đồng và các lý thiết về giải thích hợp đồng. Sau đó, tác giả nghiên cứu các căn cứ
đồng với khái niệm điều khoản hợp đồng được hiểu theo nhiều nghĩa trong pháp
luật của Việt Nam. Tuy vậy, sự không rõ ràng của điều khoản hợp đồng dường như
có phạm vi rộng hơn như thế, bởi vì nó còn bao gồm trường hợp điều khoản của
hợp đồng không có nghĩa – tức là không rõ ràng và trường hợp từng điều khoản của
hợp đồng đã rất rõ ràng nhưng nội dung của chúng lại mâu thuẫn nhau. Tuy vậy,
những phân tích và kết của của Lewison. K trong cuốn sách sẽ là cơ sở để nghiên
cứu sinh đánh giá, so sánh để rút ra sự cần thiết phải giải thích hợp đồng trong pháp
luật Việt Nam, cùng với đó kiến nghị trong việc xây dựng các căn cứ giải thích hợp
đồng nhằm hoàn thiện pháp luật giải thích hợp đồng của Việt Nam.
Cuốn sách “Interpretation of Contracts” của Catherine Mitchell, nhà xuất bản
Routledge – Cavendish, năm 2007. Cuốn sách nghiên cứu những vấn đề lý luận về
bản chất và phạm vi của giải thích hợp đồng, bao gồm khái niệm về hợp đồng, khái
niệm giải thích hợp đồng, những cuộc tranh luận về hợp đồng, giải thích và hiệu lực
của hợp đồng, phạm vi của vấn đề giải thích hợp đồng. Cuốn sách cũng nghiên cứu
về chủ nghĩa ngữ cảnh trong giải thích hợp đồng, các nguyên tắc giải thích hợp
đồng. Cuốn sách nghiên cứu vấn đề giải thích hợp đồng trong mối quan hệ với các
loại giải thích khác trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Tác giả cho
rằng giải thích hợp đồng khác với công việc giải thích ngữ nghĩa khác trong lĩnh
vực khoa học xã hội và nhân văn. Bởi vì giải thích hợp đồng là việc xác định ý chí
24
của chủ thể tại thời điểm giao kết hợp đồng, và mỗi hợp đồng luôn được đặt trong
một ngữ cảnh cụ thể. Những kết luận này của Catharine Mitchell gợi mở cho nghiên
cứu sinh trong việc cân nhắc việc giải thích hợp đồng căn cứ vào nghĩa đen của từ
ngữ. Theo đó, việc giải thích hợp đồng căn cứ vào nghĩa đen từ ngữ dường như là
cách giải thích ngữ nghĩa của từ ngữ, trong khi hợp đồng là một phương tiện thể
hiện ý chí của các bên. Việc giải thích hợp đồng trước hết phải căn cứ trên ý chí
chung đích thực của các bên. Từ đó, nghiên cứu sinh cũng nhận thấy vai trò của
25
việc giải thích hợp đồng là để xác định nghĩa vụ của mỗi bên đương sự. Vì thế ông
phân chia việc giải thích hợp đồng thành hai giai đoạn, đó là phân tích hợp đồng và
tìm kiếm các nghĩa vụ của hợp đồng. Trong giai đoạn phân tích hợp đồng, tác giả
luận giải, khi hợp đồng có những điều khoản mập mờ, tối nghĩa thì nhiệm vụ của
thẩm phán là phải tìm ra ý chí chung của các bên giao kết hợp đồng dựa vào các
nguyên tắc giải thích theo nghĩa làm cho điều khoản ấy có hiệu quả, giải thích theo
nghĩa phù hợp với bản chất của hợp đồng, giải thích căn cứ vào tập quán, thông lệ
của địa phương nơi hợp đồng được thiết lập, và giải thích theo nghĩa thích hợp nhất
với toàn bộ nội dung của hợp đồng. Khi không thể xác định được ý chí chung của các
bên trong hợp đồng thì tòa án sẽ giải thích hợp đồng dựa vào luật pháp, tập quán hay
nguyên tắc công bằng. Trong giai đoạn tìm kiếm nghĩa vụ của hợp đồng, thẩm phán
phải phân tich bản chất của hợp đồng để tìm nghĩa vụ của hợp đồng, bao gồm nghĩa
vụ chung cho mọi loại hợp đồng và nghĩa vụ riêng biệt cho từng loại hợp đồng.
Bộ luật dân sự 1995 lần đầu tiên, nước ta có một điều luật về giải thích hợp
đồng riêng, Điều 408 BLDS 1995, với mục đích góp ý dự thảo Bộ luật dân sự sửa
đổi, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Khánh đã có bài báo“Giải thích hợp đồng dân sự: So
sánh nước ngoài và liên hệ Điều 408 Bộ luật dân sự” đăng trên tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, số 10/2004. Bài báo đưa ra những vấn đề khái quát nhất về lịch sử phát
triển các học thuyết giải thích hợp đồng và nêu sơ lược quy định của pháp luật một
nước về giải thích hợp đồng, bao gồm Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga, Vương quốc
Anh, Công ước Viên 1980, từ đó tác giả so sánh với Điều 408 BLDS 1995. Bên
cạnh đó, tác giả cũng đưa ra một số điểm chưa hợp lý của Bộ luật dân sự 1995 về
giải thích hợp đồng, như Điều 408 BLDS 1995 chưa giải quyết được vấn đề khi có
sự mâu thuẫn giữa ý chí đích thực của các bên và ngôn từ của hợp đồng thì phải ưu
tiên áp dụng quy tắc nào để giải thích hợp đồng. Cuối cùng, tác giả bài báo đưa ra
nhiệm vụ cần phải tiếp tục nghiên cứu, trao đổi, tổng hợp để xây dựng cơ sở lý luận
sâu sắc hơn, hoàn thiện hơn cho hoạt động giải thích hợp đồng ở nước ta.
Bộ luật dân sự 2005 ra đời thay thế cho Bộ luật dân sự 1995, khi nghiên cứu