HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KIM PHƯỢNG
nhµ níc víi viÖc ph¸t huy néi lùc
vµ ngo¹i lùc trong héi nhËp quèc tÕ
ë ViÖt Nam hiÖn nay
Chuyên ngành
Mã số
: CNDVBC & CNDVLS
: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THÀNH
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc
lập. Các kết quả số liệu nêu trong luận án là
trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác của
các cơ quan chức năng đã công bố. Những kết
luận khoa học của luận án là mới và chưa có tác
giả công bố trong bất cứ công trình khoa học
nào.
Tác giả luận án
Nguyễn Kim Phượng
2.2. Sự cần thiết phải phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập
quốc tế ở Việt Nam hiện nay
2.3. Những biểu hiện chủ yếu về vai trò của Nhà nước đối với việc
phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam
hiện nay
25
25
39
49
Chương 3: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY NỘI LỰC VÀ
NGOẠI LỰC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở NƯỚC TA: THỰC TRẠNG
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. Thực trạng vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy nội lực và
ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam
3.2. Một số vấn đề đặt ra đối với nhà nước trong việc phát huy nội
lực và ngoại lực thời kỳ hội nhập hiện nay
60
60
99
Chương 4: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NÂNG CAO VAI TRÒ
CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY NỘI LỰC VÀ NGOẠI LỰC
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. Một số quan điểm có tính nguyên tắc đối với Nhà nước trong
việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở Việt
FPI
GDP
HDI
IMF
NAFTA
ODA
TBCN
WTO
WB
XHCN
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
chủ đạo trên thế giới, chi phối các quan hệ quốc tế cũng như chiến lược phát
triển của từng nước. Hội nhập quốc tế nhằm mở rộng hoạt động hợp tác
quốc tế trên mọi lĩnh vực đời sống đã và đang trở thành xu thế nổi bật của
thời đại. Bất cứ quốc gia nào muốn xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã
hội tất yếu phải tham gia vào xu thế đó. Trong bối cảnh ấy, Việt Nam không
thể không hội nhập quốc tế, tranh thủ mọi cơ hội để phát triển.
Để chủ động hội nhập với thế giới, đảm bảo phát triển nhanh, bền vững,
Việt Nam cần phải tích cực, chủ động phát huy và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực, cả nội lực và ngoại lực để phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước
vững bước tiến lên con đường chủ nghĩa xã hội. Phát huy nội lực và ngoại lực
giúp chúng ta mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, tiếp thu thành tựu văn
minh nhân loại, phát huy mọi lợi thế so sánh của quốc gia, rút ngắn quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phát triển. Phát huy nội lực và ngoại lực trở
thành yêu cầu tất yếu, là nhu cầu bức thiết đối với Việt Nam trong xu thế hội
nhập để phát triển đất nước hiện nay. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết
định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng
để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ” [31,
tr.102].
2
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong những năm qua, nhà nước đã không
ngừng hoàn thiện chính sách, pháp luật, tạo môi trường thuận lợi để phát
huy nội lực, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, an ninh quốc gia, phát triển
kinh tế, đồng thời chủ động thu hút được nhiều nguồn ngoại lực và khai
thác, sử dụng ngày càng có hiệu quả hơn các nguồn lực cho sự phát triển,
đưa đất nước từng bước hội nhập sâu rộng với thế giới. Thành tựu đó cho
thấy vai trò to lớn của nhà nước đối với việc phát huy nội lực và ngoại lực
cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta.
Mặt khác, việc phát huy nội lực và ngoại lực trong bối cảnh hội nhập
quốc tế với nhiều biến động phức tạp hiện nay đã đặt ra không ít khó khăn,
thách thức cho sự phát triển đất nước. Sự tác động mạnh mẽ của các nguồn
ngoại lực từ nhiều phía có thể thu hẹp phạm vi tác động của nhà nước, gây
mất an toàn hệ thống kinh tế, tài chính, an ninh quốc gia; làm trầm trọng sự
bất công xã hội, đào sâu hố ngăn cách giữa người giàu, người nghèo, giữa các
quốc gia trên thế giới; nhiều nguồn viện trợ, hợp tác chuyển giao công nghệ
mang động cơ chính trị có thể dẫn tới nguy cơ chệch hướng;... Khủng hoảng
kinh tế toàn cầu đặt các nước có nền kinh tế trung bình và chậm phát triển
trước nguy cơ đỗ vỡ và khủng hoảng nguồn lực cho phát triển do bị mất
hoặc giảm các nguồn viện trợ, vốn vay nước ngoài… Tình hình đó ảnh hưởng
lớn đến vai trò quản lý, điều hành của nhà nước đối với các nguồn lực phát
triển đất nước, đặt nhà nước trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Những hạn chế, thách thức trên đều là những vấn đề thời sự cấp bách
đã và đang trở thành lực cản cho sự phát triển bền vững của đất nước đòi
hỏi phải tăng cường công tác quản lý, điều tiết, cân đối vĩ mô đối với việc
khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn lực, cả nội lực và ngoại lực. Thực trạng
đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới, hoàn thiện, tăng cường vai trò của
nhà nước để phát huy tối đa những tác động tích cực và giảm thiểu những
4
tiêu cực trong việc phát huy nội lực và ngoại lực nhằm đạt mục tiêu phát
triển nhanh và bền vững, đảm bảo công bằng xã hội, đồng thời tránh tình trạng
suy giảm vai trò của nhà nước và nguy cơ chệch hướng trong quá trình hội nhập
quốc tế hiện nay.
Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
về vai trò của nhà nước đối với việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội
nhập quốc tế góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững đất nước,
tôi chọn chủ đề: “Nhà nước với việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở những quan điểm cơ bản chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về nâng cao hiệu quả quản lý của nhà
nước, về vấn đề phát huy nội lực và ngoại lực, về hợp tác quốc tế, hội nhập
quốc tế, đường lối đối ngoại của Việt Nam...
Ngoài ra, luận án còn kế thừa kết quả của một số công trình nghiên cứu,
đề tài khoa học, sách, báo, tài liệu ... có liên quan đến những nội dung được
đề cập trong luận án.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở những nguyên tắc phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như nguyên tắc khách
quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể, thực tiễn, lôgíc - lịch sử…
Luận án còn kết hợp các phương pháp khác như: phân tích và tổng
hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê, mô tả, so sánh...
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ dưới góc độ triết học vai trò của nhà nước đối với
việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá thực trạng và đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm
nâng cao vai trò nhà nước đối với việc phát huy nội lực và ngoại lực trong bối
cảnh hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án bước đầu làm sáng tỏ về mặt lý luận vai trò của nhà nước đối với
việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
Luận án góp phần vào công tác tổng kết thực tiễn thông qua việc làm rõ
thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với vai trò của nhà nước trong việc
là vốn, sức lao động và đất đai, đây chính là cái gốc của sự tăng trưởng kinh
tế. David Ricardo nghiên cứu nguồn lực dựa vào lợi thế so sánh và coi lợi thế
so sánh chính là nguồn gốc thịnh vượng của ngoại thương, là nguyên nhân
thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội [7, tr.7].
Trong khi nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc thành tựu của kinh tế chính trị
học cổ điển Anh, C.Mác, trong các tác phẩm của mình, đã nhiều lần bàn luận
về nguồn lực cho sự phát triển của CNTB như: giá trị hàng hóa sức lao động,
tư bản (vốn), khoa học kỹ thuật… Trong đó ông nhấn mạnh và khẳng định giá
trị của nguồn lực con người, con người là chủ thể sáng tạo nên lịch sử phát
triển của loài người. Mác cũng chỉ rõ mối liên quan giữa tư bản (vốn) với việc
sản sinh giá trị thặng dư của CNTB qua công thức T-H-T (tiền - hàng - tiền).
Ngoài ra yếu tố khoa học, kỹ thuật - một bộ phận của lực lượng sản xuất tiến
bộ cũng được ông xem xét như một nguồn lực quan trọng cho sự phát triển
kinh tế - xã hội của các nước tư bản. Đây là những quan điểm khoa học, làm
cơ sở lý luận cho các nghiên cứu có liên quan sau này [7, tr.7].
Ngày nay, các nhà kinh tế học hiện đại phân tích các nguồn lực dựa trên
sự đóng góp của chúng vào sự phát triển của nền kinh tế bao gồm những yếu
tố vật chất đầu vào (như vốn, máy móc, thiết bị, vật tư, nguồn tài nguyên,
sức lao động…) và một số yếu tố khác (tổ chức, chính sách, quản trị, công
nghệ, bí quyết công nghệ)… Năm 2003, nhà kinh tế học người Mỹ, giáo sư Đại
học Havard, ông Dani Rodrik cho rằng nguồn lực để phát triển bao hàm các
yếu tố nội sinh, ngoại sinh và bán ngoại sinh của nền sản xuất. Trong đó, yếu
tố nội sinh gồm vốn, lao động, khoa học kỹ thuật; yếu tố ngoại sinh gồm vị trí
địa lý, khí hậu, địa hình, sinh thái, thái nguyên thiên nhiên; yếu tố bán ngoại
sinh gồm thể chế và tác động của quá trình hội nhập [7, tr.7].
Hiện nay sự bùng nổ thông tin với sự phát triển như vũ bão của công
nghệ thông tin đã khiến nhiều học giả cho rằng thông tin cũng là một nguồn
8
9
Công trình cũng cung cấp những bằng chứng khoa học từ thực tiễn để
đánh giá đúng thực trạng huy động và sử dụng nguồn lực cho sự phát triển
kinh tế Việt Nam trong 20 năm đổi mới. Từ đó, đề tài nêu những định hướng
huy động và sử dụng nguồn lực, hình thành và phát huy động lực phát triển
kinh tế Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020. Mặc dù vậy, trong công trình này, các
tác giả mới chỉ ở chủ yếu đề cập tới khái niệm nguồn lực và đánh giá các
nguồn lực cho sự phát triển đất nước ở góc độ kinh tế mà chưa có sự khái
quát các nguồn lực cho sự phát triển bền vững đất nước nói chung.
- Cuốn sách “Nguồn lực và động lực phát triển trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” do GS.TSKH Lê Du Phong
chủ biên [82] đã đề cập đến những vấn đề lý luận về nguồn lực, động lực
phát triển bao gồm các khái niệm, vai trò và yêu cầu phân bổ nguồn lực, phát
huy động lực trong phát triển; đồng thời chỉ rõ thực trạng sử dụng các nguồn
lực của nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; từ đó chỉ ra các quan
điểm phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lực, sử dụng hợp
lý nguồn lực và phát huy đầy đủ động lực phát triển trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy nhiên, cách thức phân
chia nguồn lực, động lực, mối tương quan giữa các nguồn lực, đặc biệt là mối
tương quan giữa huy động, sử dụng các nguồn lực với việc phát triển nhanh,
bền vững được đề cập trong cuốn sách là những nội dung cần tiếp tục được
đi sâu nghiên cứu và làm rõ.
- Tác giả Hồ Bá Thâm trong cuốn sách “Động lực và tạo động lực phát
triển xã hội” [98] đã nêu những quan niệm cơ bản về động lực và tạo động
lực phát triển xã hội hiện nay; vấn đề dân chủ hóa tạo môi trường và động
lực phát triển con người và xã hội; vấn đề động lực và tạo động lực phát
triển các thành phần kinh tế, phát triển văn hóa và đổi mới, hiện đại hóa
hệ thống chính trị tạo động lực cho sự phát triển. Đây đều là những vấn đế
lý luận hết sức cấp bách để phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập
- Xuyên suốt các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, vấn đề kết hợp
sức mạnh dân tộc và thời đại, phát huy nội lực, ngoại lực và tổng thể các
nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội của đất nước luôn được Đảng ta đặt ra
11
như một trong những nội dung cơ bản nhất của chiến lược xây dựng và phát
triển đất nước qua mỗi thời kỳ. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng đã nêu 10 bài học cho sự phát triển đất nước, trong đó bài học thứ
nhất chính là bài học về huy động nguồn lực: “huy động và sử dụng có hiệu
quả mọi nguồn lực cho sự phát triển đất nước” [31, tr.95].
- Cuốn sách “Việt Nam 20 năm đổi mới” [33, tr.131] có bài viết “Những
thành tựu về kinh tế xã hội trong 20 năm đổi mới (1986- 2005)” của tác giả
Võ Hồng Phúc đã khái quát những thành tựu lớn của đất nước về kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội từ khi tiến hành công cuộc đổi mới. Trong các kết
luận chính của bài viết này, tác giả dành một thời lượng xứng đáng để nêu rõ
tính tất yếu của việc phát huy nội lực quốc gia và thu hút ngoại lực để xây
dựng và phát triển đất nước. Tác giả nhấn mạnh: “việc huy động nguồn lực từ
các yếu tố bên trong của nền kinh tế là vô cùng quyết định để phát triển đất
nước. Có phát huy được nội lực thì mới thu hút và sử dụng có hiệu quả ngoại
lực”; “nguồn lực bên ngoài là quan trọng. Kết hợp tốt nội lực và ngoại lực sẽ tạo
thành sức mạnh tổng hợp để xây dựng đất nước”.
- Bài trả lời phỏng vấn “Dân tộc và thời đại - thời cơ và thách thức” của
Nguyên Thứ trưởng Bộ ngoại giao Trần Quang Cơ [16] đã làm sáng tỏ nội
dung quan trọng cho quá trình phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu
hóa về kinh tế đó là phải kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh của
thời đại. Theo ông, sự thành công của các nước công nghiệp mới (NIC) là do
các nước này đã biết kịp thời điều chỉnh hoặc cải cách lại cơ cấu chính sách
kinh tế của mình trên cơ sở dự đoán đúng chiều hướng phát triển của nền
kinh tế thế giới, nhạy bén nắm bắt ngay những cơ hội mới nảy sinh do những
Làm thế nào để khai thác, sử dụng và phân bổ nguồn lực hiệu quả, hợp lý,
đảm bảo phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững? Đó là gợi mở cho tác
giả luận án này đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu.
13
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG GIẢI
PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY NỘI LỰC VÀ NGOẠI
LỰC TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
* Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, các học giả, các nhà nghiên cứu đã tập
trung tìm hiểu bản chất, chức năng, vai trò của nhà nước đối với sự phát triển.
Thế kỷ XVIII, Adam Smith (1723 - 1790) đưa ra lý thuyết “bàn tay vô hình”,
phản đối sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế và cho rằng mọi hoạt động kinh
tế cần diễn ra theo quy luật khách quan chứ không chịu sự chi phối của nhà
nước. Mặc dù vậy, ông cũng phải thừa nhận rằng đôi khi, nhà nước cũng phải
đảm nhiệm những nhiệm vụ kinh tế nhất định như: xây dựng kết cấu hạ tầng
cho nền kinh tế, giải quyết các công việc mà các nhà sản xuất kinh doanh không
thể đảm đương được [Trích theo 19, tr.62-63]. Chính sự phủ nhận vai trò kinh tế
của nhà nước và để nền kinh tế phát triển tự phát đã khiến kinh tế TBCN cuối
thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX lâm vào khủng hoảng, suy thoái.
Không đồng tình với các quan điểm của A. Smith, J.M Keynes (18841946) đã đưa ra các quan điểm đề cao vai trò của nhà nước. Ông cho rằng
nhà nước phải can thiệp vào thị trường, phải trực tiếp đứng trong guồng
máy kinh tế, phải điều tiết cả kinh tế vĩ mô và vi mô. Các nước TBCN đã vận
dụng lý thuyết này vào thực tiễn, tuy nhiên, khủng hoảng, lạm phát, thất
nghiệp vẫn diễn ra. Các học giả phương Tây cho rằng nguyên nhân là do sự
can thiệp quá mức của nhà nước tới nền kinh tế đã làm cho kinh tế không
thể vận hành đúng quy luật khách quan vốn có của nó [47].
Phê phán quan điểm tuyệt đối hóa vai trò Nhà nước của Keynes, “chủ
nghĩa tự do mới” nêu quan điểm cơ bản là thực hiện cơ chế thị trường có sự
những bất ổn, đổ vỡ về mô hình “nhà nước tối thiểu”, tuyệt đối hóa sức
mạnh thị trường theo tư tưởng của chủ nghĩa tự do mới.
Nhiều học giả cho rằng, nhà nước dần mất đi quyền lực vì ngày càng bị
các nhân tố mới của toàn cầu hóa (các tổ chức toàn cầu, các hãng toàn cầu,
các tổ chức khu vực, các tổ chức phi chính phủ…) cạnh tranh, chi phối. Trong
hội nhập quốc tế, nhà nước không còn độc quyền quyết định mọi thứ, nhất
là những thứ nằm trong các chủ thể khác như: thông tin, công nghệ, vốn, thị
trường… Phạm vi tác động của nhà nước chịu sự chi phối lớn của xu thế tự
do hóa thương mại, kinh tế của quá trình hội nhập.
16
Một xu hướng khác cho rằng, trong hội nhập quốc tế, nhà nước không
mất đi quyền lực mà điều chỉnh các chức năng để thích ứng với bối cảnh
mới. Không ít ý kiến cho rằng, nhà nước vẫn tiếp tục đóng vai trò quản lý xã
hội, là công cụ hữu hiệu để quản lý các vấn đề về kinh tế, văn hóa, xã hội,
đảm bảo đời sống cho nhân dân…
Liên quan đến vai trò của nhà nước trong hội nhập quốc tế, có một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Trong bài viết “Toàn cầu hóa kinh tế và chức năng của nhà nước”, Tạp
chí những vấn đề chính trị xã hội, Giáo sư Lei Da, trường Đại học Nhân dân
Trung Quốc [59] đã chỉ ra những thách thức đối với vai trò của Nhà nước
trong điều kiện toàn cầu hóa, dẫn tới một số quan niệm cho rằng “chức năng
của nhà nước dường như không còn quan trọng nữa”, “khắp nơi người ta nói
đến sự tiêu mòn của nhà nước”. Tuy nhiên, sau khi phân tích vai trò của nhà
nước đối với sự phát triển của nhiều nước trên thế giới, Lei Da rút ra kết
luận: đứng trước làn sóng lớn toàn cầu hóa kinh tế, không thể nhược hóa
chức năng của nhà nước mà trái lại, nhiệm vụ cấp bách của các nước đang
phát triển là điều chỉnh, tăng cường năng lực kinh tế của nhà nước, bổ sung
các phương pháp, phương tiện, chức năng mới của nhà nước.
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và mở cửa” của PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh. Trong bài viết này, tác giả đã làm
rõ 5 vai trò, chức năng chủ yếu của nhà nước ta hiện nay, bao gồm: một là,
tạo môi trường pháp lý và khuôn khổ, giới hạn cho các hoạt động kinh tế; hai
là, thực hiện chức năng quản lý kinh tế vĩ mô; ba là, bảo đảm quốc phòng, an
ninh, cung cấp các dịch vụ hàng hóa công cộng; bốn là, xây dựng và thực hiện
các chính sách xã hội, đảm bảo công bằng xã hội; năm là, đối ngoại phục vụ
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bài viết đã làm rõ vai trò ngày càng
quan trọng của nhà nước, bao phủ toàn diện các mặt, các lĩnh vực trong sự
phát triển kinh tế - xã hội đất nước, tuy nhiên tác giả cũng chú ý nhấn mạnh
vai trò của nhà nước ở chỗ quản lý, điều hành chứ không can thiệp trực tiếp
vào sự vận động khách quan của các lĩnh vực đó [87, tr.79-80].
18
- Tác giả Nguyễn Thị Phi Yến trong cuốn sách “Tìm hiểu vai trò quản lý
Nhà nước đối với việc phát huy nhân tố con người trong phát triển kinh tế”
[118] đã phân tích vai trò của quản lý Nhà nước qua những thời kỳ lịch sử
khác nhau, mối quan hệ giữa nhân tố con người và quản lý nhà nước trong
quá trình phát triển kinh tế; làm rõ thực trạng và một số vấn đề đặt ra đối với
vai trò quản lý của Nhà nước trong việc việc phát huy nhân tố con người để
phát triển kinh tế đất nước trong cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu,
bao cấp và cơ chế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Trên cơ sở đó, tác
giả trình bày một số giải pháp nhằm tiếp tục phát huy nhân tố con người
trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta. Cuốn sách tiếp tục làm rõ vai trò
của nhà nước đối với nhân tố quyết định sự phát triển, đó là nhân tố con
người.
- Tác giả Chu Văn Cấp trong bài viết “Vai trò của Nhà nước trong nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [15] đã chỉ rõ vai
trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
và tổ chức giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội.
Như vậy, ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà khoa học trong nước
đều đã chỉ rõ: trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhà nước ta chẳng những không
bị suy giảm vai trò, chức năng mà ngày càng thể hiện vai trò to lớn đối với mọi
mặt, mọi phương diện của đời sống xã hội. Vấn đề là cần phải có nhận thức
đúng đắn về vai trò của nhà nước trong điều kiện mới và bản thân nhà nước
phải có sự điều chỉnh, phát huy vai trò, chức năng của mình trong điều kiện đó.
Bên cạnh đó, các tác giả cũng đi sâu nghiên cứu các giải pháp nâng cao
vai trò của nhà nước đối với việc phát huy nội lực, ngoại lực đất nước trong
bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay được thể hiện trong từng lĩnh vực của đời
sống xã hội.
- Bài viết “Phát huy nội lực, xây dựng nền kinh tế Việt Nam độc lập, tự
chủ mở rộng hợp tác quốc tế” [84] của PGS.TS Vũ Văn Phúc đã nêu những vấn
đề lý luận khái quát về phát huy nội lực và ngoại lực, phân tích mối quan hệ
tương quan giữa nội lực và ngoại lực, trong đó, nội lực đóng vai trò quyết định
hiệu quả và thành công của hợp tác quốc tế, còn ngoại lực có vai trò hỗ trợ, bổ
20
sung cho nội lực để xây dựng và phát triển đất nước. Để nâng cao hiệu quả việc
phát huy nội lực và ngoại lực, tác giả đề xuất một số giải pháp như: cần xây
dựng chiến lược tổng thể về hội nhập, hoàn thiện chính sách, pháp luật, chiến
lược đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý của nhà nước, tạo điều kiện để các doanh nghiệp đứng vững trong cạnh
tranh; đẩy mạnh cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước; nâng cao hiệu quả
tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của nhân dân về yêu cầu, nội dung,
lộ trình hội nhập...
- Cuốn sách “Tác động của nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay” do PGS. TS
Nguyễn Cúc chủ biên [18] đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
- Luận án Tiến sĩ Triết học “Vai trò nhà nước đối với việc xây dựng nền
kinh tế Việt Nam độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay” của Trần Thị Thu Hường [53] không những nêu lên những lý luận căn
bản về toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích những tác động
tích cực và tiêu cực của quá trình đó đến sự phát triển của các quốc gia trên
thế giới trong đó có Việt Nam mà còn làm rõ một số lý luận căn bản về vai trò
của nhà nước đối với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Luận án chỉ ra thực trạng những tác
động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đến sự phát triển kinh tế và nguy
cơ đe dọa việc phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ của Việt Nam.
Từ đó, luận án chỉ ra những giải pháp để phát huy vai trò của nhà nước
ta trong việc vừa đảm bảo nền kinh tế độc lập, tự chủ vừa tích cực, chủ động
hội nhập sâu rộng, hiệu quả với nền kinh tế thế giới. Đó là các giải pháp: Một
là, coi trọng việc xây dựng, hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô của nhà
nước nhằm khai thác các nguồn lực trong nước và quốc tế; hai là, đổi mới tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; ba là, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
quản lý nhà nước về kinh tế; bốn là, nâng cao vai trò kinh tế của nhà nước.
Đây là những giải pháp khá căn bản, tuy nhiên các giải pháp đó mới chỉ dừng