Tổng quan về thương mại điện tử - Pdf 52

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Nội dung của chương:
1.1. Nền kinh tế số
1.1.1. Đặc điểm
1.1.2. Những hạn chế
1.2. Thương mại điện tử
1.2.1. Khái niệm
1.2.2. Lịch sử phát triển của TMĐT
1.2.3. Động lực thúc đẩy TMĐT phát triển
1.2.4. Các đặc trưng của TMĐT
1.2.5. Các loại hình giao dịch TMĐT
1.2.6. Các hình thức hoạt động chủ yếu của TMĐT
1.2.7. Những yếu tố góp phần vào thành công của một giao dịch TMĐT
1.2.8. Lợi ích và hạn chế của TMĐT
1.2.9. Ứng dụng của TMĐT
Giới thiệu
Thương mại điện tử sẽ là thương mại của thế kỷ tương lai. Tốc độ, chi phí thấp và
khả năng truy cập Internet làm cho thương mại điện tử trở thành cơ hội mới cho tất cả
các doanh nghiệp. Thương mại điện tử sẽ giảm đáng kể chi phí chung, thúc đẩy sự phát
triển của lĩnh vực bán lẻ, đảm bảo thanh toán dễ dàng hơn và làm giảm rủi ro đầu tư nội
tại – đây chính là mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp. Đây cũng là điều mà con người
ở đầu thế kỷ này cần hiểu rõ. Chương 1 đưa ra cái nhìn sơ lược về thương mại điện tử
trong nền kinh tế số toàn cầu. Sau khi học xong, sinh viên có thể:
- Phân tích đặc điểm , hạn chế của nền kinh tế số
- Định nghĩa và nêu các đặc trưng của thương mại điện tử
- Nêu những động lực phát triển thương mại điện tử
- Phân biệt các loại hình giao dịch thương mại điện tử
- Phân tích các hình thức hoạt động chủ yếu của thương mại điện tử
- Đánh giá vai trò và đòi hỏi của điều kiện thực hiện giao dịch thương mại điện tử
- Phân tích lợi ích, hạn chế của thương mại điện tử đối với doanh nghiệp, khách

năng động, tạo ra nền tảng của hoạt động kinh tế. Tổ chức không nhất thiết biến mất,
nhưng nó được biến đổi. “Khối” trở thành “phân tử” trong tất cả các khía cạnh của đời
sống kinh tế xã hội. Như vậy, về kinh tế sẽ xuất hiện việc thay thế phương tiện truyền
thông đại chúng, sản xuất đại trà, chính phủ nguyên khối bằng phương tiện phân tử, sản
xuất phân tử, quản lý phân tử… Điều này dẫn đến việc kết thúc trật tự ra lệnh - điều
khiển, chuyển sang cơ cấu phân tử dựa trên tập thể. Người lao động và các nhóm công
tác được trao quyền hoặc tự do hành động và tạo ra giá trị các hệ thống và công nghệ
hướng đối tượng. Phần mềm tách dữ liệu khỏi lập trình (các dịch vụ) để tạo ra các
module hoặc các mẫu logo có thể tái sử dụng và lắp ráp rất nhanh.
- Nền kinh tế số là một nền kinh tế được nối mạng, tích hợp các phân tử thành
các cụm được nối mạng với các cụm khác để tạo ra của cải.
Các cơ cấu tổ chức mới được nối mạng không chỉ đơn giản là việc tạo ra các tổ
chức hướng – quá trình trong đó các quá trình kinh doanh được thiết kế lại để tiết kiệm
chi phí và tăng cường khả năng đáp ứng. Tổ chức mới, được liên minh về các công nghệ
hội tụ gọi là “Doanh nghiệp làm việc trên Internet” là một Web rộng lớn các mối quan
hệ gồm tất cả các cấp và các chức năng kinh doanh mà trong đó các ranh giới bên trong
và bên ngoài đều có thể thẩm thấu và thay đổi được.
Các mạng công nghệ mới giúp các công ty nhỏ vượt qua được các ưu thế chính của
các công ty lớn – kinh tế quy mô và có khả năng tiếp cận với các nguồn tài nguyên.
Đồng thời, các công ty nhỏ hơn này không bị đè nặng bởi các bất lợi chính mà các công
ty lớn phải chịu – quan liêu, trật tự ngột ngạt và không có khả năng thay đổi. Giống như
các công ty lớn tách nhỏ ra - trở thành các cụm của các phân tử nhỏ hơn có thể phối hợp
với nhau tốt – các công ty nhỏ có được các ưu thế về tính linh hoạt, chủ quyền và mềm
dẻo.
Doanh nghiệp làm việc trên Internet sẽ là một mở rộng của công ty ảo vì có sự tiếp
cận đến các đối tác kinh doanh bên ngoài, liên tục cơ cấu lại các mối quan hệ kinh
doanh và tăng cường sử dụng nguồn lực bên ngoài.
Như vậy, nền kinh tế số là nền kinh tế nối mạng với các mối liên kết sâu, phong
phú bên trong và giữa các tổ chức và các thể chế. Việc tạo ra của cải, mua bán và sự tồn
tại của xã hội đều dựa trên một cơ sở hạ tầng thông tin công cộng tồn tại ở khắp nơi.

công nghệ máytính, truyền thông và nội dung hội tụ của chúng.
- Nền kinh tế dựa trên đổi mới.
Một loại sản phẩm vừa được tạo ra thì mục tiêu của nhà sản xuất là tạo ra một sản
phẩm tốt hơn và làm cho sản phẩm đầu tiên trở nên lỗi thời. Nếu không làm cho nó lỗi
thời thì có người khác sẽ làm. Trong nền kinh tế số, đổi mới là quyết định tối ưu của
hoạt động kinh tế và thành công kinh doanh. Trí tưởng tượng của con người đã trở thành
nguồn tài nguyên chính của giá trị chứ không phải kiểu cách truyền thống dẫn đến thành
công như việc tiếp cận với nguyên liệu thô, năng suất, quy mô và chi phí lao động. Đổi
mới bao hàm các sản phẩm, các chiến lược tiếp thị, các phương pháp tiếp cận quản lý,
các thay đổi về tổ chức. Các nguyên tắc và phương pháp tiếp cận cũ thất bại rất nhanh.
Lợi thế lâu bền duy nhất là kiến thức tổ chức. Cơ sở hạ tầng thông tin doanh nghiệp mới
cung cấp một nền tảng cho việc đổi mới.
- Trong nền kinh tế số, khoảng cách giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất rất
mờ nhạt. Người tiêu dùng tham gia vào quá trình sản xuất thực sự khi tri thức,
thông tin và các ý tưởng của họ trở thành một phần của quá trình xác định sản
phẩm. Sự phối hợp của con người qua mạng trở thành một phần của nguồn
thông tin đa phương tiện hợp nhất.
- Trong nền kinh tế dựa trên các bit, tính tức thời trở thành quyết định và có thể
biến đổi hoạt động kinh tế và thành công trong kinh doanh. Nền kinh tế số là
nền kinh tế thời gian thực. Thương mại trở thành điện tử khi các giao dịch kinh
doanh và truyền thông diễn ra với tốc độ ánh sáng hơn là tốc độ của bưu điện.
Doanh nghiệp mới, là doanh nghiệp thời gian thực – liên tục và ngay lập tức điều
chỉnh để thay đổi các điều kiện kinh doanh. Chu kỳ sống của sản phẩm ngắn lại.
Công nghệ được áp dụng để thu thập thông tin trực tuyến và để cập nhật các
ngân hàng thông tin trong thời gian thực – đưa ra một bức tranh chính xác hoặc
tạo khả năng quản lý một quy trình quản lý từng phút một.
- Nền kinh tế số là nền kinh tế toàn cầu hoá, tri thức không biết tới biên giới.
Khi tri thức trở thành nguồn tài nguyên chính, chỉ có duy nhất một nền kinh tế
thế giới, ngay cả khi một tổ chức hoạt động trong một quốc gia, một khu vực hay
một vùng. Doanh nghiệp mới có khả năng độc lập về thời gian và không gian: nó

con người. Khi công nghệ xâm chiếm văn phòng, nhà ở, xe hơi, phòng khách
sạn, ghế máy bay, … của chúng ta, liệu có còn ranh giới rõ ràng giữa công việc
và hoạt động giải trí? Các nhà tâm lý học đã tranh luận rằng việc thực hiện đa
nhiệm vụ đang dẫn tới sự bất ổn tinh thần liên quan tới stress mới. Hay liệu công
nghệ có thể thực hiện điều ngược lại – đem lại tự do cho chúng ta, khuyến khích
chúng ta, làm chúng ta thư giãn ngay cả trong công việc.
- Tác động của phương tiện mới tới gia đình sẽ là gì? Phương tiện mới hứa hẹn
củng cố gia đình bằng cách chuyển các hoạt động của các thành viên trong mỗi
gia đình đang bị phân tán bởi xã hội công nghiệp quay trở lại nhà. Các hoạt động
đó bao gồm làm việc, học tập, mua bán, giải trí, chăm sóc sức khoẻ, quan tâm tới
người già và thậm chí tham gia vào tiến trình dân chủ. Nhưng liệu có nảy sinh
những nguy hiểm khác không? Sự xa cách giữa các thành viên trong gia đình hay
sự không đồng đều về khả năng tiếp cận với phương tiện mới giữa các gia đình.
0.2 THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
0.2.1 Khái niệm
TMĐT là hình thức mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ thông qua mạng máy
tính toàn cầu.
TMĐT theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu về TMĐT của Ủy ban
Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL): “Thuật ngữ Thương mại
cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ
mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính
thương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại cung
cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý
thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ
thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô
nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên
chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường
bộ.”
Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi của TMĐT rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh
vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn

- Năm 1984: Giao thức chuyển gởi tin TCP/IP (Transmision control protocol và
internet protocol) trở thành giao thức chuẩn của internet; hệ thống các tên miền
DNS (Domain Name system) ra đời để phân biệt được các máy chủ chia thành 6
loại chính:
+ .edu: lĩnh vực giáo dục
+ .gov: thuộc các cơ quan chính phủ
+. military: lĩnh vực quân sự
+.com: lĩnh vực thương mại
+. Org: các tổ chức
+.net: các mạng, giải trí
- Năm 1990: ARPNE ngừng hoạt động, internet chuyển sang giai đoạn mới
- Năm 1991: Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML (hypertext Markup
Language) ra đời cùng với giao thức truyền siêu văn bản HTTP (hypertext
transfer protocol). Internet thực sự trở thành công cụ đắc lực với hàng loạt dịch
vụ mới
WWW ra đời, đem lại cho người dùng khả năng tham chiếu từ một văn bản đến
nhiều văn bản khác, chuyển cơ sở dữ liệu này sang cơ sở dữ liệu khác với hình thức hấp
dẫn và nội dung phong phú
Internet và web là công cụ quan trọng nhất của Thương mại điện tửu, giúp cho
thương mại điện tử phát triển và hoạt động hiệu quả
Mạng internet được sử dụng rộng rãi từ năm 1994
Công ty Netsscape tung ra các phần mềm ứng dụng để khai thác thông tin trên
internet vào tháng 05/1995
Công ty Amazon.com ra đời vào tháng 5/1997
Công ty IBM tung ra chiến dịch quảng cáo cho các mô hình kinh doanh điện tử năm
1997
Dịch vụ internet bắt đầu được cung cấp tại Việt Nam chính thức từ năm 1997
0.2.3 Động lực thúc đẩy TMĐT phát triển
- Động lực kinh tế: một trong những lợi ích của TMĐT là tính hiệu quả kinh tế
đạt được từ việc giảm chi phí truyền thống, hạ tầng công nghệ chi phí thấp, tốc

khu vực này. Lắp đặt đường dây trên mặt đất ở các vùng nông thôn có thể hấp dẫn thành
phần tư nhân hơn nếu doanh thu từ việc này không giới hạn với chi phí điện thoại
đường dài và nội hạt. Sự phát triển này sẽ đảm bảo sự tiếp cận có thể chấp nhận được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status