LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài tiểu luân về đề tài: “Thực trạng tình hình sử dụng các biểu
tượng quốc gia Việt Nam hiện nay”. Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo giảng dạy
bộ môn “Nghi thức Nhà nước” Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã giảng dạy và
hướng dẫn trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài. Mặc dù đã cố gắng
hoàn thành tốt bài tiểu luận, nhưng do kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh
khỏi nhưng sai sót mà bản thân thiếu. Mong quý thầy cô và bạn đọc có thể góp ý
để bài tiểu luận được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi đảm bảo đây là đề tài nghiên cứu của mình, tất cả nội dung nghiên cứu và
kết quả nghiên cứu đều trung thực. Trong quá trình nghiên cứu có kham khảo một
số nội dung của một số tài liệu. Nếu có bất kỳ sự gian lận nào trong quá trình
nghiên cứu của tôi, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
MỤC LỤC
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thời đại phát triển của thế giới hiện nay chúng ta đang mải mê đi xây
dựng và phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, …mà đôi khi chúng
ta quên đi đến nguồn gốc của lịch sử dân tộc trong đó có các biểu tượng
quốc gia. Bác Hồ ta đã nói: “Dân ta phải biết sử ta, cho tường tích gốc nước
nhà Việt Nam” cho nên nó rất quan trọng nhất là đặc biết là thế hệ trẻ những
chủ nhân tương lai của đất nước trong đó có cá nhân tôi vì vậy tôi đã chọn
đề tài: “Thực trạng việc sử dụng các biểu tượng quống gia Việt Nam hiện
nay” để làm bài nghiên cứu của mình đề mọi người hiểu hơn về biệu tượng
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA
1.1 Khái niệm và đặc điểm của biểu tượng quốc gia
1.1.1 Khái niệm
Biểu tượng trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là: "bày ra", "trình bày", "dấu hiệu",
để người ta dễ nhận biết một điều gì đó. Tượng có nghĩa là "hình tượng". Biểu
tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu
tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng.
Quốc gia là một khái niệm địa lý và chính trị, trừu tượng về tinh thần, tình
cảm và pháp lý, để chỉ về một lãnh thổ có chủ quyền, một chính quyền và
những con người của các dân tộc có trên lãnh thổ đó; họ gắn bó với nhau bằng luật
pháp, quyền lợi, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chữ viết qua quá trình lịch sử lập
quốc, và những con người chấp nhận nền văn hóa cũng như lịch sử lập quốc đó
cùng chịu sự chi phối của chính quyền, và, họ cùng nhau chia sẻ quá khứ cũng như
hiện tại và cùng nhau xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ
quyền.
Biểu tượng quốc gia là hình ảnh tượng trưng và đại diện cho một quốc gia.
Ngoài ra nó còn được thể hiện với các hình thức phong phú và đa dạng. Những loại
hình cơ bản của biểu tượng quốc gia gồm: quốc hiệu (thường kèm theo khẩu hiệu
hoặc tiêu ngữ), quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, quốc thiều, quốc phục, quốc hoa, quốc
thú hoặc quốc điểu... và những biểu tượng không chính thức khác.
Hầu hết các biểu tượng quốc gia có nguồn gốc trong thế giới tự nhiên, như động
vật hoặc chim chóc (linh vật), hoa lá (quốc hoa) hoặc vật tổ những cũng có thể là
biểu tượng khác. Biểu tượng quốc gia có thể xuất hiện nhiều chỗ như quốc
kỳ, quốc hiệu, hoặc khác. Cần phân giữa một biểu tượng chính thức quốc gia với
các biểu tượng không chính thức và thường liên quan đến đến hình ảnh du
lịch hoặc linh vật, biểu tượng cho các sự kiện quan trọng có tầm quốc gia, quốc tế,
như cối xay gió ở Hà Lan, chú báo Zakuni của Nam Phi, chú chó USA của Mỹ....
Nhiều biểu tượng không chính thức nhưng quan trọng và thậm chí được biết đến
biểu tượng quốc gia, để hiểu sâu hơn về các biểu tượng quốc gia mời các bạn
đọc cùng đi và chương 2 tình hình sử dụng các biểu tượng quốc gia ở Việt nam.
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC BIỂU TƯỢNG QUỐC GIA Ở
VIỆT NAM
2.1 Quy định của nhà nước về việc sử dụng các biểu tượng quốc gia
Nói tới biểu tượng quốc gia của một nước, người ta thường nhắc đến Quốc kỳ,
Quốc huy, Quốc ca, Quốc khánh, ngôn ngữ quốc gia, Thủ đô và đơn vị tiền tệ.
Kế thừa các bản Hiến pháp trước đây và phù hợp với truyền thống dân tộc, Hiến
pháp năm 2013 quy định về biểu tượng quốc gia như sau:
- Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng
bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh.
- Quốc huy nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có
ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và
dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài Tiến
quân ca.
- Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là ngày Tuyên ngôn độc
lập 2 tháng 9 năm 1945.
- Thủ đô nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thủ đô Hà Nội.
- Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt.
- Đơn vị tiền tệ quốc gia là Đồng Việt Nam.
2.2 Các biểu tượng quốc gia
Việt Nam là một đất nước, một dân tộc có lịch sử dựng nước và giữ nước hào
hùng được thể hiện qua các dấu mốc lịc sử trường tồn đến đến ngày nay
Biểu tượng quốc gia của Việt Nam được lưu truyền từ quá khứ đến hiện tại ngày
nay và cũng trải qua rất nhiều sự thay đổi cho đến khi các biểu tượng chính thức
----------------Hai dòng chữ trên được trình bày cách nhau dòng đơn.
Trên đây là nội dung quy định về việc trình bày quốc hiệu, tiêu ngữ trong văn bản
hành chính của các cơ quan, đơn vị trong quân đội. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này
bạn nên tham khảo thêm tại Thông tư 92/2012/TT-BQP.
Trân trọng!
Việc sử dụng quốc hiệu luôn tuân thủ đúng với thể thức đưa ra ở tất cả các cơ
quan, trường học, các cá nhân, tổ chức, và các văn bản,…
2.2.2 Quốc huy
* Vài nét về Quốc huy:
- Quốc huy là một trong những biểu tượng của một quốc gia; bên cạnh quốc
kỳ và quốc ca. Quốc huy là một biểu tượng thể hiện chế độ, hình ảnh đặc trưng của
quốc gia đó. Quốc huy thường được sử dụng trên các ấn phẩm quốc gia như tiền
tệ, hộ chiếu, giấy tờ,...
Không nên nhầm lẫn một biểu tượng chính thức của quốc gia với các biểu tượng,
hình ảnh không chính thức dùng để quảng bá du lịch, ví dụ cối xay gió của Hà Lan.
Một vài biểu tượng không chính thức thậm chí còn nổi tiếng hơn những quốc huy
chính thức.
Quốc huy của bất cứ quốc gia nào đều mang một thông điệp, một ý nghĩa nhất
định, quốc huy Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh
tượng trưng cho Đảng cộng sản Việt Nam, cho lịch sử cách mạng của dân tộc Việt
và tiền đồ sáng lạng của nhân dân nước Việt Nam.(xem phụ lục …)
Việc sử dụng quốc huy được quy định tại hướng dẫn số 3420/HD-BVHTTDL ngày
02/10/1012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch:
1. Hình Quốc huy: Điều 142 chương XI Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992.
“…Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa
các bông lúa lúc xa lúc liền nhau. Các cọng bông lúa kết thành đế quốc huy xòe
quá to hoặc bị thu nhỏ, mất cân đối.
- Chiều ánh sáng ngôi sao của mẫu quốc huy Việt Nam chính thức, chiếu từ bên
phải sang, theo bản đồ Việt Nam là ánh sáng ban mai từ biển Đông chiếu vào.
Trong hình quốc huy sai, ánh sáng chiếu ngược từ phía tây ở bên trái sang vào buổi
chiều, phần bóng ngôi sao in sai thành màu quá đậm hoặc màu đỏ.
- Bánh xe răng cưa sai hình và chỉ có 5, 7, 9 răng (bánh xe quốc huy chuẩn có 10
răng). Trong bánh xe lại có các vành màu đỏ.
- Băng đỏ có tên nước về hình dáng, góc độ uốn lượn chưa đúng.
Theo nghiên cứu, có ít hình quốc huy gần đúng với mẫu chính thức. Nhiều hình
quốc huy bị sai, có những hình rất sai và xấu, vô hình trung làm mất đi vẻ đẹp, sự
chuẩn mực, trang trọng của quốc huy Việt Nam. Sở dĩ có những sai sót trên là do
sau lần mẫu quốc huy Việt Nam chuẩn được in trên công báo số 22 ngày 8.8.1956,
kể từ đó đến nay, nhất là từ sau năm 1975 hầu như chưa thấy được in lại và phổ
biến rõ trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc trên trang thông tin điện tử
của cơ quan có trách nhiệm. Những cơ quan, tổ chức có sử dụng hình quốc huy,
những người thiết kế lại hình quốc huy trên các văn bản tài liệu, chứng chỉ, báo
chí, trên trụ sở cơ quan…, do không chú ý tìm hiểu kỹ lưỡng hoặc không biết để
tiếp cận được với mẫu quốc huy Việt Nam chính thức đang được lưu trữ tại Trung
tâm lưu trữ quốc gia III và Viện Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, nên chỉ vẽ lại theo
hình quốc huy nào đó có trước. Có hình quốc huy được vẽ một cách sơ sài, cẩu thả
hoặc có khi người thiết kế lại tùy tiện tự phóng tác thêm theo cảm tính nên hầu hết
các hình quốc huy bị "tam sao thất bản". Càng những năm về sau, nhiều hình quốc
huy càng sai và xấu so với mẫu chính thức. Để khắc phục tình trạng trên vốn đã
thành phổ biến, chúng tôi đề nghị Văn phòng Quốc hội, Bộ Văn hóa - Thể thao Du lịch cần có sự xem xét và chỉ đạo để chuẩn hóa lại mẫu quốc huy Việt Nam
đang được sử dụng trên các lĩnh vực hành chính, văn hóa, thông tin, báo chí, kinh
tế, xã hội. Cần phổ biến lại mẫu quốc huy Việt Nam chính thức trên các phương
tiện truyền thông đại chúng, kèm theo những quy định chặt chẽ về việc sử dụng
nguyên thủy.
Nền đỏ tượng trưng cho màu nhiệt huyết cách mạng, màu chiến đấu và chiến
thắng; màu vàng của ngôi sao tượng trưng cho sự sáng ngời của linh hồn dân tộc
Việt Nam; năm cánh sao là sức mạnh đoàn kết của các tầng lớp đồng bào chiến đấu
giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Quốc kỳ Việt Nam được tung bay trên khắp các công sở, trường học, các Đại sứ
quán Việt Nam ở nước ngoài, các cửa khẩu, các buổi mít tinh, lễ đón tiếp các đoàn
khách cấp cao nước ngoài; Quốc kỳ Việt Nam cũng được giương lên cùng với
Quốc kỳ của những nước trên thế giới khi các đoàn cấp cao của chúng ta đến thăm
và làm việc. Cờ đỏ sao vàng Việt Nam cũng được tung bay trên từng nóc nhà mỗi
một gia đình Việt Nam vào những ngày lễ hội, Tết cổ truyền...
Lá cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ duy nhất đại diện cho dân tộc Việt Nam, điều đó
đã khắc sâu vào tâm khảm của mỗi một người dân Việt Nam như Chủ tịch Hồ Chí
Minh, vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam đã khẳng định tại cuộc họp Quốc
hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946: "Lá cờ đỏ sao
vàng đã thấm máu đồng bào ta trong Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940. Chính lá cờ
này đã cùng phái đoàn chính phủ đi từ châu á sang châu Âu, từ châu Âu về châu á;
cờ đã có mặt trên khắp đất nước Việt Nam. Vậy thì... trừ 25 triệu đồng bào, còn
không ai có quyền đòi thay đổi Quốc kỳ và Quốc ca...". Đó là hồn nước, niềm tự
hào, biểu tượng thiêng liêng bất khả xâm phạm của bản sắc dân tộc Việt Nam.
* Sử dụng Quốc kỳ:
Theo tập quán quốc tế, quốc kỳ được treo trong những trường hợp sau đây:
- Đón một đoàn từ cấp Bộ trưởng, Chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trở lên;
- Các cuộc Hội nghị, Hội thảo, Hội chợ và các cuộc thi quốc tế.
- Treo ở sân bay, nhà ga quốc tế, bến cảng quốc tế, quảng trường, nơi đón tiễn, cơ
quan, trong các cuộc chiêu đãi, hội đàm, ký kết, mít tinh…
Tuy nhiên, một số nước mở rộng đến Chủ tịch chính quyền, Chủ tịch Hội đồng
Nhân dân tỉnh,thành phố. Nước ta chưa có quy định về vấn đề này nhưng có thể áp
gia được treo cùng, để tránh trình trạng to nhỏ quá khác nhau trong một hàng,
thông thường lễ tân ngoại giao, người ta xử lý theo nguyên tắc lấy chiều dài của
các quốc kỳ bằng nhau.
- Khi treo trên một khu đất, trước một tòa nhà hay trên nóc nhà, một quốc kỳ duy
nhất được đặt bên phải hoặc chính giữa, hoặc bên trái đối với một người đang đứng
đối mặt.
Nhận xét: Thời gian qua, việc treo cờ Tổ quốc trong những ngày lễ lớn, những sự
kiện trọng đại của đất nước và thành phố đã trở thành nghi lễ quen thuộc, được
thực hiện một cách trang trọng, tạo nét đẹp văn hóa trong những ngày lễ, hội trên
địa bàn thành phố. Hầu hết các cơ quan, địa phương, đơn vị và nhân dân trên địa
bàn thành phố đã có ý thức việc treo cờ Tổ quốc, qua đó thể hiện lòng yêu nước,
niềm tự hào dân tộc, ý chí độc lập, tự chủ quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, vẫn còn
một số cơ quan, đơn vị, hộ gia đình chưa nhận thức đúng mức ý nghĩa và nắm rõ
các quy định nên việc treo cờ Tổ quốc còn thiếu trang nghiêm, chưa đồng bộ, gây
phản cảm và ảnh hưởng mỹ quan đô thị.
2.2.4 Quốc ca
* Một bài nét về quốc ca:
Mỗi chúng ta ai cũng đã rất nhiều lần nghe bài Tiến quân ca và cũng rất nhiều lần
nghe Quốc ca mỗi khi cháo cờ, một bản nhặc như hồng đất nước. Tiến quân ca là
Quốc ca của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.kể từ 1946 khi Việt Nam
còn là chính thể Dân Chủ Cộng hòa. Chính xác hơn khi Quốc ca Việt Nam là lời
của một bài hát Tiến quân ca. Quốc ca Việt Nam là bài Tiến quân ca do Văn Cao
sáng tác, bắt nguồn từ lúc phòng trào Việt Minh sử dụng bài hát này cho tới khi trở
thành Quốc ca và sau đó sử dụng cho toàn nước Việt Nam sau khi Quốc hội Việt
Nam họp và chính thức thống nhất năm 1976. Bài quốc ca đem lại không khí hào
phủ số 31-TB 15/02/1993 về việc treo Quốc kỳ, chào cờ và hát Quốc ca với những
nội dung sau:
Quốc ca có thể hát bằng lời hoặc cử bằng nhạc:
- Khi làm lễ chào cờ;
- Khi khai mạc và bế mạc những cuộc mít tinh, những buổi họp long trọng do
chính quyền hoặc đoàn thể tổ chức;
- Hàng ngày khi bắt đầu buổi phát thanh thứ nhất và khi kết thúc buổi phát thanh
cuối cùng của Đài tiếng nói Việt Nam.
Nếu hát thì khi khai mạc hát đoạn 1, khi bế mục hát đoạn 2.
Trong những cuộc duyệt binh hoặc mít tinh lớn có cử quốc ca bằng nhạc, đồng thời
có bắn đại bác thì có thể cử quốc ca một lần hay nhiều lần.
Khi cử quốc ca, mọi người phải bỏ mũ, đừng nghiêm (ở trong phòng họp, có treo
quốc kỳ sau Chủ tịch Đoàn, thì khi chào cờ, Chủ tịch Đoàn đứng nhìn về phía
trước mình, không phải quay mặt vào quốc kỳ. Còn những người khác thì đứng
nhìn về phía quốc kỳ),
Cử quốc ca của ta và quốc ca một nước bạn: Trong những buổi lễ (ví dụ như lễ
kỷ niệm ngày Quốc Khánh một nước bạn hoặc đặc biệt trong những buổi biểu diễn
long trọng của những đoàn nghệ thuật nước bạn), có cử quốc ca của ta và quốc ca
của bạn thì, khi khai mạc cũng như khi bế mạc, cử quốc ca của bạn trước và quốc
ca ta sau.
Cử quốc ca và Quốc tế ca: khi kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1 tháng 5,
- Khi khai mạc: cử quốc ca,
- Khi bế mạc: cử quốc tế ca.
Đối với những trường hợp cụ thể chưa nói trong thể lệ này, thì các cơ quan sẽ
báo cáo lên Thủ Tướng Phủ để xét định.
Hiện nay việc hát quốc ca được sử dụng thường xuyên và đều thực hiện đúng
như quy định đưa ra ở tất cả các cơ quan Nhà nước cũng như một số tổ chức khác.
2.2.5 Một số biểu tượng chưa chính thức