VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
TỪ THỰC TIỄN QUẬN CẨM LỆ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Chính sách công
Mã số: 834 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1
và mất mát to lớn đối với những người đã có công lao đóng góp đối với đất
nước.
Cẩm Lệ là quận vùng ven thành phố Đà Nẵng, là cửa ngõ ra vào thành
phố từ phía Nam. Thời kháng chiến, Cẩm Lệ là một trong những nơi có trụ sở
làm việc và cũng là nơi có cơ sở tập trung huấn luyện, đóng quân của chế độ
cũ tại địa điểm Hoà Cầm và trung tâm quận Hoà Vang (nay là trung tâm hành
chính của quận Cẩm Lệ). Nơi đây là địa bàn đấu tranh hết sức ác liệt giữa ta
và địch. Nhiều gia đình sinh sống tại đây là cơ sở cách mạng trực tiếp hoặc
gián tiếp cùng bám địch và chuẩn bị thời cơ để tiến công vào nội thị. Do vậy,
số lượng người có công với cách mạng trên địa bàn quận là khá lớn, với 1.765
người vào cuối năm 2017 [16].
Trong những năm qua, quận Cẩm Lệ đã tổ chức thực hiện một cách
hiệu quả và nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về
người có công với cách mạng. Ngoài những chính sách người có công với
cách mạng theo quy định của trung ương, thành phố, quận đã huy động từ
quận đến phường và các tổ chức, cá nhân tham gia tích cực vào việc thực hiện
chính sách người có công bằng những việc làm cụ thể như: tham gia huy
động, đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa; thắp nến tri ân, phối hợp giữa Hội Cựu
chiến binh và Đoàn Thanh niên dâng hương tại các nghĩa trang vào tối 14
(Âm lịch) và ngày cuối tháng (Âm lịch); thường xuyên chăm sóc, phụng
dưỡng các BMVNAH. Đây là những việc làm rất thiết thực, cụ thể, đã tác
động một cách tích cực đến các đối tượng chính sách, nhằm giúp cho các đối
tượng này ổn định cuộc sống và tạo niềm tin của các đối tượng chính sách đối
với Đảng và Nhà Nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực hiện chính sách người có công
trên địa bàn quận Cẩm Lệ vẫn còn một số mặt hạn chế như: Công tác phổ
phúc lợi xã hội. Leliveld (1991) nghiên cứu lý thuyết về hệ thống an sinh xã
hội, đặc biệt nhấn mạnh các nội dụng về đặc điểm, tính cần thiết, những
nguyên tắt, những hình thức, và những nhân tố của hệ thống an sinh xã hội
3
của một quốc gia. BITS (2002) phân tích chuyên sâu hệ thống an sinh xã hội
dưới các nội dung chủ yếu : (i) An sinh xã hội, việc làm và phát triển; (ii) Mở
rộng các hỗ trợ xã hội; (iii) Bình đẳng giới; (iiii) Nguồn tài trợ bền vững cho
bảo đảm xã hội. JICA (2009) phân tích lý thuyết về an sinh xã hội và thực tế
hệ thống an sinh xã hội tại một số quốc gia châu Á.
Không nhiều các nghiên cứu định lượng đo lường hiệu quả thực hiện
các chính sách an sinh xã hội. Sử dụng các phương pháp ước lượng, Peter
Herrmann và cộng sự (2008) nghiên cứu tính hiệu quả của những khoản chi
tiêu công phục vụ mục tiêu xã hội trong mô hình các quốc gia Châu Âu.
Những kết quả ước lượng chỉ ra tính hiệu quả ý nghĩa của các khoản chi tiêu
nhà nước trong việc giảm tỷ lệ nghèo đói quốc gia. Sử dụng dữ liệu từ các
cuộc điều tra quốc gia trong thập kỷ qua, Svallfors (1995) đánh giá xem liệu
những thay đổi gần đây về kinh tế và chính trị có tác động đến các chính sách
phúc lợi của Thụy Điển trong dài hạn hay không? Kết quả thực nghiệm chỉ ra
một sự ổn định ý nghĩa về tính hiệu quả trong những chính sách phúc lợi xã
hội của Thụy Điển. Anu Muuri (2010) đo lường những nhân tố ảnh hưởng
đến thái độ của người dân Phần Lan đối với chất lượng các dịch vụ phúc lợi
xã hội, và đối với những lợi ích an sinh xã hội mà họ nhận được. Đầu tiên, tác
giả mô tả một cách tổng quát các nghiên cứu gắn với phúc lợi xã hội dưới
khía cạnh lý thuyết lợi ích. Sau đó, trên cơ sở dữ liệu của cuộc điều tra quốc
gia Phần Lan tiến hành vào cuối năm 2006, sử dụng phương pháp hồi quy
Logistic tác giả đã tìm thấy rằng : (1) Chất lượng dịch vụ phúc lợi xã hội và
mức độ lợi ích an sinh xã hội phụ thuộc ý nghĩa vào giới tính, đặc biệt là vai
trình nghiên cứu như sau:
Mai Ngọc Cường (2009) trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về
chính sách an sinh xã hội; phân tích hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt
Nam trong thời gian qua với những cấu thành cơ bản là bảo hiểm xã hội, bảo
5
hiểm y tế, trợ giúp và ưu đãi xã hội; đề xuất phương hướng và những giải
pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam.
Mai Ngọc Cường (2012) phân tích những thành tựu, những bất cập chủ
yếu của hệ thống chính sách an sinh xã hội Việt Nam. Đặc biệt, tác giả tranh
luận rằng chính sách an sinh xã hội chỉ là một hệ thống chính sách trong tổng
thể chính sách xã hội của một quốc gia, bên cạnh chính sách an sinh xã hội
còn có nhiều chính sách xã hội khác. Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất những
khuyến nghị quan trọng nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an
sinh xã hội của Việt Nam trong thời gian tới.
Với tiếp cận hệ thống an sinh xã hội bao gồm hai trụ cột là an sinh xã
hội đóng - hưởng và an sinh xã hội không đóng góp, Mai Ngọc Cường
(2013a) phân tích thực trạng an sinh xã hội ở Việt Nam, và những thành tựu,
hạn chế và nguyên nhân hạn chế của nó. Ngoài ra, tác giả khuyến nghị một số
vấn đề có ý nghĩa quan trọng để thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta
những năm tới. Cùng cách tiếp cận về hệ thống an sinh xã hội như trên, Mai
Ngọc Cường (2013b) cho rằng để phát triển hệ thống an sinh xã hội đến năm
2020, nhà nước cần đa dạng hóa hình thức bảo hiểm xã hội cho người lao
động khu vực phi chính thức và nông dân, chuyển căn cứ đóng bảo hiểm xã
hội từ chỗ dựa vào tiền công, tiền lương hiện nay sang dựa trên toàn bộ thu
nhập của người tham gia, bổ sung thêm các chế độ bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm
thai sản vào chế độ hưởng của bảo hiểm xã hội thu nhập, nâng độ bao phủ trợ
giúp xã hội đến năm 2020 khoảng 2,5-2,6% dân số. Ngoài ra, tác giả cũng đề
Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng”, của học viên Dương Thanh Phong, bảo vệ
năm 2018 tại Học viện Khoa học xã hội đã làm rõ một số vấn đề lý luận về
thực thi chính sách an sinh xã hội, đánh giá thực trạng quá trình tổ chức thực
hiện chính sách, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện chính
sách an sinh xã hội trên địa bàn quạn Thanh Khê.
7
Luận văn thạc sĩ “Thực hiện chính sách đối với người có công với cách
mạng thực tiễn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng”, của học viên Hồ Văn
Dũng, bảo vệ năm 2016 tại Học viện Khoa học xã hội đã nêu việc nghiên cứu
lý luận, đánh giá thực trạng quá trình tổ chức thực hiện chính sách, nêu lên
những phương hướng, giải pháp, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính
sách đối với người có công trên địa bàn quận Thanh Khê.
Trong luận án tiến sĩ “Thực thi chính sách anh sinh xã hội ở thành phố
Đà Nẵng hiện nay- thực trạng và giải pháp”, Lê Anh (2017) đã xây dựng
phương hướng và chủ trương, quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
chất lượng thực thi chính sách an sinh xã hội thành phố Đà Nẵng.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước đã đề cập
được các vấn đề lý luận và thực tiễn việc thực hiện chính sách an sinh xã hội,
chính sách người có công với cách mạng ở cấp quốc gia, địa phương. Song hiện
vẫn chưa có công trình nghiên cứu đánh giá việc thực hiện chính sách người có
công với cách mạng tại địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Vì vậy, tôi
quyết định chọn và thực hiện đề tài luận văn “Thực hiện chính sách người có
công với cách mạng, từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn (
thông qua nghiên cứu thực tiễn tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng) về thực
9
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng nhằm thu thập các ý
kiến của một số đối tượng chính sách về thực hiện chính sách tại địa bàn quận
Cẩ Lệ; phân tích thống kê, mô tả nhằm làm rõ thực trạng tình hình thực hiện
chính sách trên địa bàn quận. Đồng thời, kết hợp quan sát ghi chép hiện trường,
nghiên cứu thực địa thông quan điền dã, ... làm cơ sở để đánh giá thực tiễn.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích các kết quả điều tra
theo từng tiêu chí.
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: khảo sát bằng bảng
hỏi 50 người dân đang hưởng chính sách người có công với cách mạng tại
phường Hòa An, nhằm tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách tại địa
phương như đối chiếu với tình hình, phân tích kết quả kết quả thực hiện chính
sách để đưa ra đánh giá chung.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn sâu 6 cán bộ lao đông thương
binh xã hội cấp phường để thu thập thông tin và đánh giá việc thực hiện chính
sách từ phía người thực thi chính sách.
- Ngoài ra còn dựa trên phương pháp khác như: Phương pháp so sánh,
diễn giải, quy nạp làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu, đồng thời trong quá
trình nghiên cứu luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách người có
công với cách mạng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn phản ánh được thực trạng và đề xuất được một số giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách người có công với cách mạng tại
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
sóc người có công ngày càng được hoàn thiện. Đặc biệt, Hiến pháp 2013
“Nhà nước, xã hội tôn vinh, khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với
người có công với nước” (Khoản 1, Điều 59).
Ở mỗi thời kỳ, chế độ khác nhau thì chính sách người có công với cách
mạng cũng khác nhau. Nhưng suy cho cùng thì chính sách ưu đãi đối với
người có công là sự ghi nhận những công lao của họ cho đất nước, là những
chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần, là sự bày tỏ lòng biết ơn đến những
người đã hy sinh, đã cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.
Trong mấy chục năm qua, Đảng và Nhà nước ta coi việc thực hiện ưu
đãi xã hội đối với người có công là quốc sách. Chủ trương đó đã được luật
hóa bằng hai Pháp lệnh quan trọng đó là: Pháp lệnh “ưu đãi người hoạt động
cách mạng, liệt sỹ, gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động
kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng” và Pháp lệnh “Quy định
12
danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Khái niệm người có
công được hiểu theo 2 nghĩa rộng, hẹp khác nhau.
Theo nghĩa rộng, người có công là người bình thường, làm việc đại
nghĩa, có công lao lớn đối với đất nước, đó là nghĩa vụ không bao giờ kể công
và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa.
Cụ thể hơn, người có công là cống hiến của họ vì lợi ích của đất nước,
được nhân dân tôn vinh và được Nhà nước thông qua cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền ghi nhận theo qui định của pháp luật, đồng thời đảm bảo cho họ
các chế độ ưu đãi về kinh tế, về chính trị, xã hội. Ở đây, có thể thấy rõ những
tiêu chí cơ bản xác định nội hàm khái niệm người có công. Đó phải là những
người có thành tích đóng góp hoặc cống hiến lớn lao, xuất sắc vì lợi ích chung
của đất nước. Những cống hiến đó có thể được thực hiện trong các cuộc
kháng chiến vì độc lập tự do của Tổ quốc trong công cuộc xây dựng và phát
lớn của những người còn sống khi người thân mất đi là không gì đo đếm
được. Bước ra khỏi thời chiến, người có công với cách mạng những thương
tích, mất mát to lớn và bệnh tật nhưng vẫn tiếp tục đi đầu trên các lĩnh vực,
góp phần xây dựng đất nước, quê hương ngày càng giàu đẹp; luôn gương
mẫu, đi đầu ủng hộ và chấp hành tốt các chủ trương chính sách pháp luật của
Đảng và nhà nước, là tấm gương để mọi người noi theo; họ luôn trung thành
với chế độ mà mình đem sức lực, máu xương để bảo vệ; luôn xây dựng gia
đình ấm no, hạnh phúc; là những công dân gương mẫu, những tấm gương
sáng giáo dục thế hệ trẻ tích cực lao động, học tập trong sự nghiệp và bảo vệ
tổ quốc.
Đối với thương binh, bệnh binh đã trải qua 2 cuộc chiến tranh chống
Pháp và chống Mỹ: Đến nay, hiện còn ít, hầu hết ở tuổi cao và trung niên, họ
sống rất khiêm tốn, ít đòi hỏi quyền lợi các nhân; nhu cầu vật chất giản dị,
hăng hái tham gia tích cực các hoạt động công tác xã hội. Tuy nhiên, họ là
những người chịu ảnh hưởng lớn từ tác động kinh tế thị trường với các chủ
14
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến đời sống, tinh thần, vật
chất của chính họ; có một số ít đối tượng có tư tưởng công thần, đưa ra yêu sách,
đòi hỏi quá đáng , để trục lợi cho cá nhân và ảnh hưởng đến việc triển khai tổ
chức thực hiện chính sách người có công với cách mạng của Đảng và Nhà nước.
Đối với thân nhân liệt sỹ và người có công với cách mạng: Nỗi đau
thương, mất mát của người thân là sự đau đớn lớn nhất đối với những người
cha, mẹ, vợ, người con liệt sỹ mà không thể bù đắp. Vào các dịp Tết cổ
truyền, ngày lễ, họ rất cần sự quan tâm động viên, chia sẻ, đầm ấm trong
những ngày này đặc biệt này. Tuy nhiên, người có công có những đặc điểm
khác nhau trong công tác chăm sóc cũng khác nhau và phải tìm hiểu nhu cầu
kỹ đặc điểm của họ. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng để đưa ra những giải
cao đẹp, thể hiện tryền thống đạo lý quý báu của dân tộc ta, truyền thống
“uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Thể hiện nghĩa vụ, trách
nhiệm và tình cảm của Nhà nước và cộng đồng đối với người có công chứ
không phải sự ban ơn, làm phúc, từ thiện, nhân đạo. Bù đắp phần nào sự mất
mát to lớn, sự hy sinh cao cả của những người có công, thể hiện sự đoàn kết
giúp đỡ nhau trong cộng đồng, là sự chia sẻ trong cộng đồng, giúp đỡ những
người khó khăn do cuộc kháng chiến để lại nhằm đảm bảo một xã hội phát
triển lành mạnh.
Trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước ta, chính sách người có
công với cách mạng không chỉ là thể hiện sự sinh động, sự quan tâm của
Đảng - Nhà nước và nhân dân đối với những người đã cống hiến, hy sinh cho
độc lập, tự do, hạnh phúc và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia mà còn là hành
động xã hội văn hóa, là bản chất của chế độ xã hội, trở thành một bộ phận
trong hệ thống chính sách xã hội và phương châm phát triển đất nước. Những
năm qua, riêng việc luôn điều chỉnh và mở rộng chế độ ưu đãi người có công
cho phù hợp với tình hình thực tế xã hội của đất nước đã góp phần quan trọng
vào việc ổn định đời sống, từng bước nâng cao mức sống của các đối tượng
16
chính sách trong điều kiện đất nước có nhiều khó khăn, số người là đối tượng
có công lại rất lớn… mà chúng ta đã thực hiện đạt kết quả lớn như vậy là khá
trọn nghĩa, vẹn tình. Mặc dù chưa thật bằng lòng với những thành tích ấy,
nhưng có thể nói chính sách người có công với cách mạng đã góp phần không
nhỏ cho việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố hệ
thống chính trị, mở rộng dân chủ và làm thất bại mọi âm mưu chống phá của
kẻ thù dân tộc. Việc ưu đãi đối với người có công là vấn đề của hôm nay, thiết
thực góp vào sự phát triển. Nó trở thành động lực thúc đẩy xã hội, đặc biệt có
tác dụng giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào, tự tôn dân tộc cho thế hệ trẻ.
ngày 30/08/1950 thì Nhà nước sẽ tổ chức các trại an dưỡng để thu nhận và
chăm sóc thương binh, bệnh binh.
Giai đoạn từ 1955 đến 1975: Trong các văn bản ban hành trong thời kỳ
này đáng chú ý nhất là Nghị định số 16/CP ngày 30/10/1964 kèm theo bản Điều
lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ với quân nhân, thanh niên xung phong, dân quân
du kích với việc qui định chế độ thương tật mới là 8 hạng, mức khởi điểm là
21%. Quy định chế độ tiền tuất mới gồm tuất hàng tháng và tuất một lần đối với
gia đình và thân nhân liệt sĩ. Đồng thời, để phù hợp với tình hình thực tế của
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đánh giá đúng và động viên kịp thời sự
đóng góp của nhân dân, pháp luật ưu đãi người có công đã bổ sung các đối
tượng mới đó là :
- Chế độ đối với dân công thời chiến (nghị định số77/CP ngày
26/04/1966).
- Chế độ ưu đãi đối với lực lượng vận tải nhân dân (theo Quyết định số
84/CP ngày 04/5/1966).
- Chế độ cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không (Nghị định số
111/CP ngày 28/6/1973).
Tóm lại, chính sách ưu đãi người có công thời kỳ này đã phát triển
tương đối toàn diện các nội dung ưu đãi cả vật chất và tinh thần đối với người
18
có công, góp phần to lớn vào việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội,
củng cố và tăng cường tiềm lực kháng chiến.
Giai đoạn từ 1976 đến 1985: Sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước
đã ban hành hàng trăm văn bản chính sách ưu đãi người có công, bổ sung đối
tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, bệnh binh, liệt sĩ trong công cuộc
xây dựng bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Trên cơ sở đó, chính sách
ưu đãi người có công trong giai đoạn này đã khắc phục được một số bất hợp
cách mạng; và Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt
Nam anh hùng”. Tiếp theo đó Nhà nước đã ban hành một số Nghị định,
Thông tư… để hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh trên cũng như hoàn thiện hơn
những quy định về ưu đãi người có công. Hai quy định này đã đánh dấu cho
sự phát triển, tiến bộ của pháp luật ưu đãi người có công trong hệ thống các
chính sách, pháp luật.
Giai đoạn từ 1995 đến nay: Từ năm 1995 đến nay, công cuộc đổi mới
đất nước đạt nhiều thành tựu. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng nhìn chung đất
nước ta đang phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Đảng, Nhà nước đã có sự
quan tâm sâu sắc đến mọi mặt đời sống của nhân dân, hệ thống chính sách,
pháp luật đang ngày dần hoàn thiện. Chính sách mở cửa, hội nhập đem lại
chính sách đối với người có công nâng cao đời sống của người dân ngày càng
tốt hơn.
Trong giai đoạn này có một số điểm nổi bật, đánh dấu sự phát triển của
pháp luật ưu đãi người có công. Ngày 29/6/2005 Ủy ban thường vụ Quốc hội
đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PLUBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 10 năm 2005 (thay thế cho Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách
mạng năm 1994 - được sửa đổi năm 2000 và năm 2002). Pháp lệnh này đã mở
rộng thêm một số đối tượng được hưởng ưu đãi (từ 7 lên đến 11 nhóm với 11
20
đối tượng, không chỉ bao gồm những người có công với cách mạng mà còn
bao gồm cả thân nhân của họ); Trong công cuộc đổi mới đất nước, song song
với việc phát triển Nhà nước ta cũng đã quan tâm đặc biệt đối với đối tượng
chính sách và cũng đã tiếp tục ban hành: Pháp lệnh số 04/2012/PLUBTVQH13 ngày 16/7/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ
sung một số điều của Pháp Lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, có hiệu
lực kể từ ngày 01/09/2012; Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4
năm 2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu
cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945.
+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày
khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt
động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945.
Liệt sĩ, là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của
nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong
các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; trực tiếp
đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; hoạt động cách
mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục,
kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy
sinh; làm nghĩa vụ quốc tế; đấu tranh chống tội phạm; dũng cảm thực hiện
công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu
người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; do ốm đau, tai nạn khi đang
làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn;thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 19 của Pháp lệnh này chết vì vết thương tái
phát. Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ
22
quan có thẩm quyền giao; trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc
diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm.
+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng, là những Bà mẹ có chồng, con hoặc bản thân
đã công hiến hy sinh vì sự nghiệp giải phóng Dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm
nghĩa vụ Quốc tế.
+ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong