ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ VĂN PHỤNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH
HOÁ GIAI ĐOẠN 2013 -2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - Năm 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ VĂN PHỤNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH
HOÁ
GIAI ĐOẠN 2013
-2017
Ngành: Quản lý đất
đai
Mã số: 8. 85. 01.
03
Xuất phát từ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thà nh cảm
ơn các thầy cô. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo PGS.TS
Phan Đình Binh, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ và trực tiếp hướng dẫn
tôi, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp quý báu và chỉ bảo tận tình
của các thầy, cô giáo trong Khoa Quản lý đất đai - Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên; các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bác, cô chú, anh, chị, các đồng chí
lãnh đạo Uỷ ban nhân dân thị xã Bỉm Sơn, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê, Trạm Bảo vệ
thực vật và Uỷ ban nhân dân các xã, phường đã tạo điều kiện cho tôi về thời gian và
cung cấp số liệu giúp tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình,
người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt việc học
tập, nghiên cứu của mình trong suốt quá trình học tập vừa qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó!
Thái Nguyên, ngày
tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Văn Phụng
3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
4
2.3.3. Đánh giá công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn thị
xã Bỉm Sơn ........................................................................................................ 23
2.3.4. Đánh giá tác động của công tác DĐĐT đất nông nghiệp trên địa bàn
thị xã Bỉm Sơn đến việc sản xuất của nông hộ ................................................. 23
2.3.5. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp sau dồn điền đổi thửa............................................................................. 24
2.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 24
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp ....................................................... 24
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp .................................................... 24
2.4.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp...................... 25
2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu ....................................................................... 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 27
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thị xã Bỉm Sơn ........................................ 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 27
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ........................................................................ 32
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Bỉm
Sơn.... 36
3.2. Tình hình sử dụng đất đai tại thị xã Bỉm Sơn ................................................ 36
3.3. Đánh giá công tác dồn điền đổi thửa ở thị xã Bỉm Sơn giai đoạn 20132017........ 39
3.3.1. Mục đích, nguyên tắc và quy trình thực hiện dồn điền đổi thửa ............. 39
3.3.2 Kết quả dồn điền đổi thửa ở thị xã Bỉm Sơn ............................................ 45
3.4. Đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của
hộ gia đình, cá nhân .............................................................................................. 50
3.4.1. Tác động của dồn điền đổi thửa đến công tác quản lý và sử dụng
đất nông nghiệp. ............................................................................................... 50
3.4.2. Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến cơ cấu cây trồng, vật nuôi và
quy mô sản xuất của 2 xã điều tra ..................................................................... 52
:
Cây hàng năm CLN
:
Cây lâu năm
CNH-HĐH
: Công nghiệp hoá- hiện đại hoá
DĐĐT
: Dồn điền đổi thửa
DĐRĐ
: Dồn đổi ruộng đất
DT
: Diện tích
GO
: Giá trị sản xuất
HTXNN
: Hợp tác xã nông nghiệp
: Nuôi trồng thuỷ sản
QH
: Quy hoạch
UBND
: Uỷ ban nhân dân
TBKT
: Tiến bộ kỹ thuật
SL
: Sản lượng
VA
: Giá trị gia tăng
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
vii
Hình 3.2. Sơ đồ quy trình thực hiện dồn điền đổi thửa tại thị xã Bỉm Sơn .............. 42
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài sản, là nguồn lực vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Trong sản
xuất đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì thay thế được. Đối với Việt
Nam, là quốc gia đất chật, người đông, đời sống của đại bộ phận nhân dân dựa vào
sản xuất nông nghiệp.
Thời gian qua trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đảng
và nhà nước ta luôn có những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy nền nông
nghiệp phát triển, điển hình là luật Đất đai năm 1993, theo đó đất đai được giao đến
tận tay người nông dân. Với chính sách mới về quyền sử dụng đất đã làm thay đổi
mối quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân thực sự trở thành người chủ
mảnh đất của mình, đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp.
Nhưng thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo Nghị định 64-CP ngày
27/9/1993 của Chính phủ, chúng ta đã thực hiện phương châm công bằng, ruộng tốt
cũng như xấu, xa cũng như gần đều được chia đều tính trên nhân khẩu nông nghiệp,
dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán, manh mún không đáp ứng được nhu cầu
phát triển của nền nông nghiệp thời kỳ đổi mới.
Ở Bỉm Sơn, tình trạng manh mún ruộng đất diễn ra ở hầu hết 2 xã, và 3
phường trong toàn Thị xã, thống kê cho thấy mỗi hộ sản xuất nông nghiệp năm
1993 với cách chia ruộng có tốt, có xấu, có xa, có gần nên trên địa bàn Thị xã bình
quân 9 - 16 thửa ruộng/hộ. Để giải quyết tình trạng manh mún ruộng đất năm 1998.
Thực hiện chỉ thị 13 CT/TU ngày 03/9/1998 của Ban Thường vụ tỉnh uỷ “về cuộc
vận động thực hiện dồn điền đổi thửa tạo điều kiện cho hộ nông dân phát triển sản
xuất nông nghiệp”, Kế hoạch số 12/KH-UB ngày 29/01/1999 của UBND tỉnh Bỉm
Sơn về dồn điền đổi thửa tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp hàng hoá
pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh, hoàn thiện quá trình chính sách dồn điền đổi
thửa trên địa bàn thị xã Bỉm Sơn.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần xây dựng cơ sở lý luận và hoàn thiện quy trình
dồn điền đổi thửa phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp góp phần tích
cực cho việc thực hiện xây dựng nông thôn mới.
- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua việc nghiên cứu đề tài và thực tiễn đề xuất các
giải pháp giúp hộ nông dân có hướng đầu tư thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây
trồng theo hướng hàng hóa, cải tiến kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất nông nghiệp, từng bước hình thành các mô hình sản xuất hàng hóa trên
cơ sở tích tụ ruộng đất nông nghiệp.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa trong nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm
Dồn điền đổi thửa (Group of land) là việc tập hợp dồn đổi các thửa ruộng
nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái ngược với chia các mảnh ruộng to thành các mảnh
ruộng nhỏ (TS. Đào Thế Anh, 2004).
Hay hiểu theo cách khác thì dồn điền đổi thửa là việc chuyển đổi ruộng đất từ
ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn giữa các hộ nông dân, tập trung ruộng đất để đưa nền
nông nghiệp vốn manh mún, nhỏ le sang phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa có
quy mô lớn hơn, dưới sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương xuống địa phương. Có
hai cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa:
Một là để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào,
Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế này vận hành tốt hơn. Hai là thực hiện các biện
pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch
gieo cấy, máy gặt đập liên hợp, ... Đồng thời để tranh thủ nguồn vốn của cấp trên
đầu tư cho xây dựng các công trình phúc lợi xã hội và phục vụ trực tiếp trong sản
xuất nông nghiệp. Vì vậy đòi hỏi phải quy hoạch giao thông nội đồng, thủy lợi tưới
tiêu phải đảm bảo thuận tiện. Trong đó phải đặc biệt quan tâm đến việc DĐĐT từ
nhiều ô thửa nhỏ thành một ô thửa lớn, góp phần tăng năng xuất, giảm chi phí mang
lại hiệu quả kinh tế cao.
Tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, sinh
thái và bền vững.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đang là một chủ
trương lớn nhằm hình thành nền nông nghiệp hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị
trường và điều kiện sinh thái từng vùng, góp phần tăng năng suất lao động, nâng
cao chất lượng và sức cạnh tranh của thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam
trong thời toàn cầu hóa thị trường.
Để vươn tới nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, đủ sức cạnh tranh trong
tương lai thì cần phải loại bỏ dần tư tưởng sản xuất tiểu nông, nhỏ lẻ. Công tác dồn
điền đổi thửa rất quan trọng, tạo bước đệm để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp,
tạo ra những sản phẩm hàng hóa chất lượng, khai thác hết tiềm năng đất đai của mỗi
địa phương.
5
1.1.3. Mục đích
Khắc phục tình trạng manh mún và phân tán ruộng đất, tạo điều kiện quy
hoạch vùng sản xuất tập trung, để thuận tiện cho việc áp dụng các tiến bộ KHKT.
Thực hiện cơ giới hóa trong nông nghiệp, giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả lao
động, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu lao động trong
nông nghiệp sang sản xuất ngành nghề, tăng thu nhập cho người dân.
Tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, cơ giới hóa vào đồng ruộng, tạo nguồn
lực thực hiện xây dựng Nông thôn mới, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội.
canh tác chắc chắn se tăng hơn so với trước DĐĐT.
DĐĐT tạo tiền đề cho việc quy hoạch lại đồng ruộng, là cơ sở cho việc hoạch
định chính sách đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho
việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất như: đường giao
thông nội đồng, cứng hoá hệ thống kênh mương, quy hoạch những vùng chuyên
canh, khai thác được lợi thế của từng vùng đất khác nhau.
DĐĐT thửa tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội bộ
ngành nông nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá, làm tiền đề cho việc hình
thành các doanh nghiệp trong nông nghiệp và có điều kiện để hình thành nhiều
trang trại, nông trại, góp phần đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư, thúc đẩy phân
công lại lao động xa hội. Bởi vì hiện nay do ruộng có ô thửa nhỏ, trên một cánh
đồng các hộ canh tác những cây trồng khác nhau có thời gian sinh trưởng khác
nhau, chế độ chăm sóc thu hoạch khác nhau. Điều đó gây ảnh hưởng và hạn chế lẫn
nhau, không có loại cây trồng nào có diện tích đủ lớn dẫn đến không có khối lượng
hàng hoá lớn. Nếu thực hiện DĐĐT se khắc phục được tình trạng này.
DĐĐT thành công se tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Hiện nay do thửa ruộng nhỏ, khâu làm đất người
nông dân chủ yếu cày bừa thủ công theo lối truyền thống bằng trâu, bò, thậm chí
nhiều nơi người dân vẫn cuốc đất bằng tay. Mặt khác khâu gieo cấy, thu hoạch phổ
biến hiện nay vẫn áp dụng phương pháp thủ công là chính, chi phí cao, mất nhiều
thời gian, năng suất lao động thấp, nông dân vẫn phải lao động cực nhọc.
Sau DĐĐT, bà con hạch toán qua một vài vụ sản xuất thấy năng suất lúa tăng
5 - 10 tạ /ha, chi phí điện nước, công lao động tiết kiệm được 10 -15 %. Thu hoạch
vụ đông, thương nhân về tận ruộng thu gom (Tổng cục Địa chính, 1998).
DĐĐT se tạo điều kiện sản xuất ra khối lượng sản phẩm hàng hoá đủ lớn giúp
cho công nghiệp chế biến phát triển, thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá nông sản.
7
8
* Đài Loan: Sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra. Lúc
đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc
phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân. Ruộng đất đã được trưng thu, tịch
thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện
ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ. Năm 1953, hòn đảo này đã có đến
679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29 ha/trang trại. Đến năm 1991 số
trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08 ha/trang trại.
Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi
phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người
Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù
có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ
đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp). Để giải quyết tình
trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp trong đó
công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà
nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai, ước tính đã có trên 75% số
trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất.
Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành
các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông
nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để
sản xuất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003).
* Indonesia: Đồng bằng Java của Indonesia, ruộng đất cũng bị manh mún.
Năm 1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn 0,5 ha chiếm trên 52% trong tổng
số 7,9 triệu nông hộ; trang trại có từ 0,5 đến 1,0 ha chiếm 27%, chỉ có 0,4% loại
trang trại có 4 đến 5 ha. Trong khi đó, 40% số trang trại do người làm công quản lý
chứ không do chủ đất quản lý. Tình trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng
có khoảng 7-8 mảnh. Manh mún đất đai được coi là một trong những rào cản của
phát triển sản xuất nông nghiệp nhất là sản xuất trồng trọt, cho nên rất nhiều nước
đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai. Việt Nam cũng
đang thực hiện chính sách này trong mấy năm gần đây. Dưới quan điểm kinh tế nếu
manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn
thì việc giảm mức độ manh mún đất đai se tạo điều kiện để các nguồn lực này được
sử dụng có hiệu quả hơn. Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế se đạt được lợi ích khi
ta giảm mức độ manh mún đất đai. Tuy nhiên, mức độ manh mún đất đai cũng
mang lại một số lợi ích nhỏ, trước mắt cho nông dân. Do đó ở nhiều nơi nông dân
muốn duy trì một mức độ nào đó của tình trạng này.
10
* Thực trạng manh mún ruộng đất ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)
Muốn có được những giải pháp triệt để khắc phục tình trạng manh mún ở
ĐBSH trước hết phải nghiên cứu những đặc điểm của manh mún ruộng đất và
những nguyên nhân gây nên tình trạng này. Manh mún ruộng đất ở ĐBSH là một
hiện tượng mang tính lịch sử. Tình trạng manh mún thể hiện trên cả 2 góc độ: manh
mún về ô thửa và bình quân quy mô ruộng đất/hộ gia đình nông dân. Vào những
năm 30 của thế kỷ trước, ĐBSH đã có đến 16,0 triệu thửa ruộng to nhỏ khác nhau.
Diện tích trung bình mỗi thửa ở tỉnh Bắc Ninh lúc bấy giờ là 680 m2. Nếu tính riêng
diện tích phải giành ra làm bờ vùng, bờ thửa thì ĐBSH đã mất đi trên 3% diện tích
đất canh tác. Đến năm
1997, tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH vẫn đứng ở vị trí thứ 2 trong 7
vùng sinh thái cả nước, chỉ sau miền núi phía Bắc.
Ở đồng bằng sông Hồng hiện nay sự manh mún ruộng đất cấp nông hộ thể
hiện ở các đặc điểm sau:
- Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ khoảng
0,25 ha/hộ).
8.
H
S
o
3,0
2
6,
4
3,
1
6,
1
0,
1,
4,
0,1
2,5
0,5
0,2
0,0
(Nguồn: Tổng cục Thống kê 2007)
11
Tình trạng mang mún ở ĐBSH cũng như các vùng kinh tế khác trong cả nước
tập trung chủ yếu trên các loại đất trồng cây hàng năm và mức độ manh mún thể
7 53
uy
D
5 03
uy
02
Tâ
yĐ
51
ôn
51
Đ
ồn
0
Diện
tích
Đ Đ
ấ ấ
1 1
53 01
03 02
30 02
02 10
10 01
03 05
0
0
(Nguồn: Tổng cục Địa chính 1997)
,7
,3
74
71
19
5,
5 aNi
nh
,3
,
92
4
8,
,
01 50
01 91
05 03
2
12
22
82
+ Độ phì tự nhiên của đất của các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ.
+ Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều
đất cho các hộ.
+ Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như: úng, hạn, chua... do
đó việc chia đều rủi ro cho các hộ là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng.
+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao, đặc biệt là các khu đất gần các trục
13
đường chính hoặc trong tương lai se nằm trong quy hoạch khu đô thị, khu công
nghiệp... vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người đều có thể
hưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro" nếu đất đai bị chuyển mục đích
sử dụng.
* Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông
nghiệp
- Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, không giảm được chi
phí lao động đầu vào.
- Thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến bộ kỹ
thuật (TBKT) để tăng năng suất. Theo họ, đầu tư TBKT có thể giúp tăng năng suất
nhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể.
- Thửa ruộng đã nhỏ, nhiều thửa lại phân tán làm tăng rất nhiều công thăm
đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không muốn trồng cây
hàng hoá do phải tăng công bảo vệ.
- Quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm
nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có xu thế giảm.
- Nhiều thửa ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn,
tính trung bình vùng ĐBSH mất khoảng 2,4% - 4% đất canh tác dùng để đắp bờ
vùng, bờ thửa.
- Khó khăn trong quản lý đất và không phù hợp với sản xuất hàng hoá
đất khác nhau. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh
mún đất đai ở Việt Nam. Nguyên nhân của manh mún đất đai do giao đất nông
nghiệp công bằng đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận và phân
tích những năm gần đây. Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng tình
trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác. Theo số liệu
của Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng đồng bằng sông Hồng có
khoảng 7 thửa, trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn, từ 10 – 20
thửa. Số liệu điều tra 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm
1993, trung bình một hộ có 7,6
thửa.
Năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng
cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn. Từ đó, nhiều tỉnh đã triển
khai thực hiện công tác dồn điền, đổi thửa và đã có được nhiều kết quả tốt trong
công tác quản lý Nhà nước về đất đai và trong sản xuất nông nghiệp, được phản ánh
tại bảng 1.4:
15
Bảng 1.4. Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số địa phương
1.
X
ã
T
2.
X
ã
L
3.
35
60
0
2 6
1 5
5 6
5
8
8 3
22
04
0
5 12
0 05
8
2 7 7
9 7 3
6 6 ,
1 4
6 ,
3
22
56
0
1 6
0 4
6 3
Đ
ơ
nT
vr
ư
Bình
Tổn
q
g số
uâ
thử
S %T S
a gi r a
u ả ư u
1 3 7 1
5 8 4 2
4 6 , 8 3
1 4
9 6
(Nguồn: Tổng cục Địa chính, 1998)