Thực trạng vấn đề chuyển đổi giới tính ở việt nam hiện nay - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI THỊ XUÂN HOA

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÙI THỊ XUÂN HOA

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Mã số : 60380103



Luật HN&GĐ

Luật Hôn nhân và gia đình

LGBT

Cộng đồng bao gồm người đồng tính nam/nữ -Gay/Lesbian;
người song tính-Bisexual; người chuyển đổi giới tínhTransgender)

FTM

Chuyển giới từ nữ sang nam

MTF

Chuyển giới từ nam sang nữ

TG

Người xuyên giới/chuyển giới

TS

Người chuyển đổi giới tính

iSEE

Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường


1.3.3. Mạng lưới xã hội của người chuyển giới ở Việt Nam....................... 20
1.3.4. Một số nhân vật chuyển giới nổi tiếng ở Việt Nam và thế giới......... 22
1.3.5. Các thách thức xã hội người chuyển giới phải đối mặt .................... 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .............................................................................. 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI
TÍNH ............................................................................................................... 36
2.1. Thực trạng pháp lý về người chuyển đổi giới tính ở trên thế giới ....... 36
2.1.1.Quan điểm của Liên hiệp quốc .......................................................... 36
2.1.2. Pháp luật của một số quốc gia .......................................................... 37
2.2. Thực trạng pháp lý về người chuyển đổi giới tính ở Việt Nam ........... 39
2.2.1. Khung pháp lý trước năm 2015 ........................................................ 39
2.2.2. Khung pháp lý từ Bộ luật Dân sự năm 2015 .................................... 45


KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .............................................................................. 50
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
......................................................................................................................... 51
3.1. Những vấn đề thực tiễn đặt ra trong cuộc sống từ việc chuyển đổi giới
tính ............................................................................................................... 51
3.1.1. Không có nhu cầu chuyển đổi giới tính thông qua can thiệp phẫu
thuật ............................................................................................................. 51
3.1.2. Tạo ra “phong trào” chuyển đổi giới tính........................................ 52
3.1.3. Chuyển đổi giới tính cho trẻ em ........................................................ 53
3.1.4. Trở lại giới tính cũ vì thấy không phù hợp ....................................... 53
3.2. Sự cần thiết xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính ở Việt Nam ............ 54
3.2.1. Một số căn cứ cho việc xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính ........... 54
3.2.2. Một số định hướng cho việc xây dựng dự thảo Luật Chuyển đổi giới
tính ............................................................................................................... 59
3.3. Những kiến nghị về xây dựng pháp luật .............................................. 62

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, khi con người trong xã hội đã quan tâm
nhiều hơn đến những giá trị tinh thần và coi đó là bộ phận không thể thiếu trong
cuộc sống, bên cạnh đó là sự phát triển nhanh chóng của nhận thức, ý thức về quyền
con người, quyền nhân thân, thì quan điểm về sự khác biệt bản dạng giới đã có
nhiều thay đổi.
Những cá nhân thuộc cộng đồng LGBT và cả những cá nhân không thuộc
cộng đồng này đều đã và đang có chung một nhận thức rằng quyền lợi chính đáng
của những người đồng tính, song tính, chuyển giới chưa được nhà nước, pháp luật
và xã hội quan tâm một cách đúng mực, dẫn đến việc nhiều người phải sống tủi
nhục trong sự kỳ thị của xã hội và chính gia đình họ. Đặc biệt, ở Việt Nam, một
quốc gia chịu ảnh hưởng của quan niệm Á Đông truyền thống, xã hội vẫn giữ thái
độ kỳ thị, phân biệt đối với các cá nhân LGBT khiến họ với số lượng ít ỏi, không có
tiếng nói trong xã hội càng trở nên dễ bị tổn thương hơn bao giờ hét. Đã đến lúc


2
pháp luật và xã hội của chúng ta phải đối diện trực tiếp với cộng đồng LGBT và các
vấn đề của LGBT để có những giải pháp thích đáng đảm bảo quyền lợi chính, đáng
của họ, thay vì bỏ mặc hàng loạt các vướng mắc về mặt xã hội và pháp luật liên
quan đến việc đảm bảo tốt hơn quyền con người và quyền lợi của họ.
Thực tiễn pháp lý ở Việt Nam cho thấy, cho đến hiện nay, hôn nhân đồng
tính hay chung sống giữa những người đồng tính vẫn chưa được thừa nhận. Kỳ họp
thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật Dân sự năm 2015 trong đó có Điều
37 thuộc nhóm quyền nhân thân cho phép chuyển đổi giới tính. Đây được xem là
một bước tiến rất lớn trong việc công nhận, bảo vệ quyền lợi cho những người trong
cộng đồng LGBT nói chung và nhóm người chuyển đổi giới tính nói riêng. Vì theo
luật pháp, những người chuyển đổi giới tính ở Việt Nam sẽ được xác định lại tên
họ, thụ hưởng các quyền nhân thân giống như các công dân bình thường khác theo
giới tính mà họ đã chuyển đổi. Tuy nhiên cho đến nay văn bản hướng dẫn thi hành
điều luật vẫn còn nằm trên bàn soạn thảo.

đổi giới tính là vấn đề nhân thân, tuy nhiên trong Bộ luật Dân sự năm 2015 chuyển
đối giới tính được xem như một “dị biệt” của chế định quyền nhân thân, không có
từ “quyền”. Quy định như vậy khiến Điều 37 không thể trở thành cơ sở pháp lý mà
chỉ qui định một vấn đề mang tính xã hội ở khía cạnh phát hiện. Qua đó, tác giả
PGS.TS Trần Thị Huệ và TS. Vũ Thị Hồng Yến nêu các đề xuất cũng như các
quyền nhân thân khác, Điều 37 có tiêu đề “quyền chuyển đổi giới tính” thì mới
thực sự là cơ sở pháp lý.
- Luận văn thạc sỹ “Quyền con người của người đồng tính, song tính và
chuyển giới - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Đặng Hoàng Hiếu
(2015): nghiên cứu các vấn đề về quyền con người nói chung của LGBT.
- Luận văn thạc sĩ “Một số vấn đề về quyền nhân thân liên quan đến LGBT
trong pháp luật dân sự Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Hằng (năm 2016) nghiên cứu
các vấn đề về quyền nhân thân của LGBT.
Ngoài ra còn có loạt bài viết của tác giả Trương Hồng Quang là nghiên cứu viên
Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp trên blog https://hongtquang.wordpress.com có nội


4
dung nghiên cứu khá sâu về quyền của người đồng tính và người chuyển giới; các
tài liệu liên quan của Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE); Tổ
chức bảo vệ và thúc đẩy quyền của người LGBT tại Việt Nam (ICS); Trung tâm
Nghiên cứu và Ứng dụng khoa học về Giới - Gia đình - Phụ nữ và Vị thành niên
(CSAGA); các tài liệu nhằm phục vụ cho việc xây dựng dự thảo Luật Chuyển đổi
giới tính của Vụ Pháp chế - Bộ Y tế.
Nhìn chung, các tác phẩm trên đều tiếp cận theo các hướng nghiên cứu đi sâu
vào vấn đề chuyển đổi giới tính dưới góc độ y học, hoặc đi sâu vào vấn đề pháp luật
quốc tế, hoặc đề cập đến một vấn đề nhỏ lẻ mang tính thời sự nhất của nhóm người
chuyển đổi giới tính mà chưa có tác phẩm nào đề cập một cách tập trung nhất đến
các thực tiễn về thực trạng chuyển đổi giới tính ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Chương 2: Thực trạng pháp luật về chuyển đổi giới tính.
Chương 3: Một số kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về chuyển
đổi giới tính ở Việt Nam hiện nay


6
CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm về chuyển đổi giới tính
1.1.1.1. Khái niệm về bản dạng giới
Muốn hiểu về chuyển đổi giới tính, trước hết cần phải hiểu về bản dạng giới,
thể hiện giới và phân biệt được sự khác nhau giữa bản dạng giới và giới tính sinh học.
Bản dạng giới là “cảm nhận nội tâm sâu sắc và những trải nghiệm về giới của
một người mà có thể không tương ứng với giới tính khi sinh ra, bao gồm nhận thức
cá nhân về cơ thể và những thể hiện về giới, bao gồm phục trang, lời nói và điệu
bộ”. Những người có bản dạng giới không trùng với giới tính khi sinh ra thường
được gọi là người chuyển giới. Cách gọi này áp dụng cho cả những người chưa
phẫu thuật, hay những người ăn mặc xuyên giới mà không nhận mình là nam hay
nữ. Nếu họ nhận mình là nam (sinh ra là nữ, nghĩ mình là nam) thì sẽ gọi là chuyển
giới nam, nếu họ nhận mình là nữ (sinh ra là nam, nghĩ mình sang nữ) thì sẽ gọi là
chuyển giới nữ.
Thể hiện giới là những biểu hiện bên ngoài về bản dạng giới, thông qua những
hành vi, dáng vẻ, tính cách, ngoại hình “nữ tính”, “nam tính” hay “trung tính” trong
đời sống.
Bản dạng giới độc lập với xu hướng tính dục (là khả năng một người cảm thấy
hấp dẫn về mặt cảm xúc sâu sắc, tình cảm, tình dục, mối quan hệ gần gũi với những
cá nhân có giới khác, cùng hay nhiều hơn một giới) vì bản dạng giới liên quan tới
việc một người nghĩ mình thuộc giới tính nào, còn xu hướng tính dục liên quan tới
việc một người cảm thấy hấp dẫn với ai.

cảm giác về một giới tính mới mẻ thông qua y phục (bao gồm trang sức, hình xăm
và các phục sức khác thường gắn với giới tính đối lập) có thể một cách bí mật hoặc
công khai, có thể hoàn toàn hoặc chỉ phần nào . Có ba thuật ngữ thường được dùng
để mô tả những người như vậy (trong tiếng Anh thường được nhắc đến là: người ăn


8
mặc cải giới (transvestite), người chuyển giới (transgender); người chuyển giới tính
(transsexual). Tuy nhiên trên thực tế, người có giới tính khác biệt với cơ thể sinh
học có thể có những bản dạng giới rất phức tạp và họ có thể chuyển từ loại hình này
sang loại hình khác trong suốt cuộc đời.
Ở Việt Nam, “transgender” là một thuật ngữ mới xuất hiện và gây khó khăn
trong khi sử dụng. Hiện nay có nhiều cách gọi ám chỉ thuật ngữ này, đó là “người
chuyển giới”, “người xuyên giới”, “người vượt giới”, trong khi khái niệm
“transexual” khá được thống nhất về cách hiểu – đó là “người chuyển đổi giới tính”
(mong muốn thay đổi cơ thể hoặc đã qua phẫu thuật). Cách gọi phổ thông thường
được nhiều người nói đến đó là “người chuyển giới”, mặc dù nội hàm của thuật ngữ
này gây lúng túng khi phân tích từ nguyên nghĩa gốc cũng như trên thực tế. Bởi rất
nhiều người “chuyển giới” hoàn toàn không “chuyển” sang giới tính ngược lại với
giới tính sinh học của họ, mà thường có cảm giác về một bản dạng giới mơ hồ về
giới tính, hoặc chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác, giới tính này sang giới
tính khác, tùy vào thời gian và bối cảnh. Họ thường được phân làm hai nhóm: một
là nhóm từ nam qua nữ (MTF: Male to Female Transgender) và nhóm từ nữ qua
nam (FTM: Female to Male Transgender).
Để phân biệt người chuyển giới (TG) và người chuyển đổi giới tính (TS) cần
hiểu người chuyển giới là một người được sinh ra với cơ thể sinh học là nam hay
nữ, nhưng có một khát vọng mạnh mẽ và nhất quán, có giới tính khác với giới tính
sinh học của họ lúc sinh. Họ có thể trải qua hoặc không trải qua việc điều trị y tế để
chuyển đổi sang bản dạng giới họ chọn. Người chuyển đổi giới tính là người mong
muốn hoặc đã trải qua phẫu thuật để đạt đến sự trùng khớp giữa cơ quan sinh dục và

một số lý do. Người ăn mặc chuyển giới là những người mặc trang phục của giới
tính khác để phần nào thể hiện những cảm nhận và quan niệm bên trong của họ về
giới. Người ăn mặc chuyển giới thường được xem là nhóm lớn nhất của bộ phận
những người chuyển giới. Mặc dù những người này hầu hết đều là nam và có xu
hướng dị tính, nhưng cũng có người nữ ăn mặc chuyển giới và tất cả họ có thể thuộc
bất kỳ xu hướng tính dục nào (dị tính, đồng tính, song tính). Khác với những người


10
chuyển đổi giới tính, những người này không mong muốn thay đổi giới tính sinh
học của bản thân.
Các cá nhân nằm trong nhóm người chuyển giới có thể muốn dùng những
thuật ngữ khác để chỉ mình. Nhiều người đã chuyển đổi giới tính nhìn nhận họ là
một nhóm riêng, chứ không muốn nằm dưới cái tên chung là “người chuyển giới”.
Nhiều người sau khi phẫu thuật chuyển đổi giới tính cũng không còn xem mình như
người chuyển đổi giới tính nữa mà muốn được nhìn nhận đơn thuần là nam hay nữ.
1.1.2. Khái niệm về LGBT trong đó có người chuyển giới
Người chuyển giới thuộc nhóm LGBT. Đây là tên viết tắt tiếng Anh của cụm
từ L-Lesbian (đồng tính nữ), G-Gay (đồng tính nam), B-Bisexual (song tính) và TTransgender (chuyển giới). Theo đó:
- Đồng tính (bao gồm đồng tính nam - Gay và đồng tính nữ - Lesbian): là từ
viết tắt của cụm từ đồng tính luyến ái (homosexuality) là thuật ngữ chỉ việc bị hấp
dẫn trên phương diện tình yêu, tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục
giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách
lâu dài. Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl
Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật
chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law), sau đó lần lượt được sử
dụng lại trong các tác phẩm Discovery of the Soul (1880) của Gustav Jager,
Psychopathia Sexualis (1886) của Richard von Krafft- Ebing. Từ đó thuật ngữ trên
được dùng rộng rãi để phân biệt giữa người có khuynh hướng tình dục đồng tính với
người dị tính và người lưỡng tính 1.

tính không tồn tại. Có hẳn một thuật ngữ để chỉ về hiện tượng phủ nhận sự tồn tại
của song tính: Bisexual erasure. Cách hiểu lầm này xoay quanh việc giảm tối đa khả
năng một người có thể là người song tính, mà luôn muốn quy về thành đồng tính hoặc
dị tính. Một số khác cho rằng đó là một dạng hành vi lệch chuẩn hoặc một giai đoạn
nhất thời, lưỡng lự, không dứt khoát, băn khoăn, lăng nhăng, tò mò, muốn gây chú ý...2
Người chuyển giới (Transgender) là người có giới tính sinh học không trùng
với bản dạng giới của họ, họ đã nhờ sự can thiệp của y học để chuyển giới tính hoặc
“tìm lại giới tính thật” của mình.
2

http:// www. 6sac. com/2012/06/song-tinh-trong-gioi-cua-ong-tinh-va-di. html


12
Mặc dù người chuyển giới đã tồn tại như một bộ phận của các nền văn hóa và
xã hội khác nhau trong lịch sử loài người, nhưng đến gần đây họ mới trở thành tâm
điểm chú ý của giới y học. Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng việc chuyển giới có
nguồn gốc từ những yếu tố sinh học phức tạp và nó là bẩm sinh. Tuy nhiên, sự hà
khắc của xã hội đã biến việc là một người chuyển giới trở thành một vấn đề nghiêm
trọng, khó chấp nhận.
Ở Việt Nam, khái niệm chuyển giới chỉ mới biết đến trong thời gian gần đây.
Trước kia, người chuyển giới được gộp chung vào nhóm đồng tính hay thế giới thứ
ba. Tuy nhiên, cùng với sự bùng nổ của internet và các diễn đàn mạng (như
LesKing.com.vn; Thegioithu3.vn...), những người sống giữa hai giới không hoàn
toàn hài lòng khi bị xem là người đồng tính. Thực tế, người chuyển giới thường trải
qua quá trình bối rối trong việc nhận diện giới của chính mình cũng như đối mặt với
những quyết định chuyển đổi, khó khăn liên quan đến sử dụng hoóc-mon phẫu thuật
và công khai thể hiện giới.
Đối với người chuyển giới, trong xã hội không phải ai cũng có nhận thức đúng
đắn và đầy đủ về bản chất của người chuyển giới. Dưới đây xin tóm tắt một số nhận

thuật chuyển giới vì pháp luật chưa cho phép hoặc do không có điều kiện kinh tế).3
Nói tóm lại, xu hướng tính dục của con người được chia thành 3 loại chủ yếu:
dị tính luyến ái, đồng tính luyến ái và song tính luyến ái, còn theo bản dạng giới thì
phân thành: người chuyển giới và người không chuyển giới. LGBT là một tổ hợp từ
chỉ một nhóm người có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt với số đông,
chiếm thiểu số trong xã hội. Sự khác biệt và tỉ lệ thiểu số không thể hiện đây là một
nhóm bệnh tâm lý hay là một nhóm tệ nạn xã hội có thể lây lan, mà thể hiện sự đa
dạng của các nền văn hoá nhân loại dựa trên thiên hướng tình dục và bản dạng giới.
1.2. Thực trạng về chuyển đổi giới tính trên thế giới
1.2.1. Những nước đã hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính
Tính đến tháng 9/2015, có 61 quốc gia trên thế giới hợp pháp hóa việc thay
đổi giới tính trên giấy tờ4. Và từ 01/01/2017, Việt Nam chính thức trở thành quốc
gia thứ 62 trên thế giới công nhận việc chuyển đổi giới tính. Phần lớn các nước

3

https://hongtquang.wordpress.com/2014/03/21/nguoi-chuyen-gioi-va-phap-luat-the-gioi-ve-nguoichuyen- gioi/

Viện Nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (iSEE), Có bao nhiêu nước hợp pháp hóa chuyển
đổi giới tính
4


14
châu Âu, châu Mỹ và nhiều nước châu Á thừa nhận quyền thay đổi nhân thân sau
khi phẫu thuật, các nước đang thay đổi theo xu hướng thừa nhận quyền thay đổi giới
tính trên giấy tờ ngay cả khi không phẫu thuật. Ngoài ra, quyền thay đổi họ tên
không phụ thuộc vào việc phẫu thuật hay chưa cũng đã được thừa nhận rộng rãi.
Hiện tại ở Châu Âu có 38 quốc gia cho phép thay đổi giới tính trên giấy tờ,
gồm toàn bộ Liên minh Châu Âu và các nước ngoài Liên minh trừ Albania,

Với châu Á, nhiều nước châu Á thừa nhận giới tính mới sau khi phẫu thuật,
như Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Phillipines… và một số nước không yêu cầu
phải phẫu thuật để thay đổi giấy tờ như Hàn Quốc, Đài Loan, Israel… Từ trước,
không có luật nào ở Trung Quốc cấm phẫu thuật chuyển giới5. Năm 2002 và 2008,
Bộ Công an Trung Quốc ra hai hướng dẫn về việc thay đổi giới tính trên sổ hộ khẩu
và thẻ căn cước, sau khi nhận thấy nhiều khó khăn của người chuyển giới trong việc
đăng ký thay đổi hộ tịch. Sau khi đã chuyển đổi thành công trên giấy tờ, họ có tất cả
quyền và nghĩa vụ như giới tính mới, bao gồm cả việc kết hôn. Ước tính có tới
400.000 người chuyển giới ở đất nước đông dân nhất thế giới này. Năm 2009, Bộ
Công an Trung Quốc ra một số quy định nhằm thắt chặt hơn, như phải trên 20 tuổi,
không có tiền án, phải sống công khai với giới tính mong muốn ít nhất 3 năm trước
khi phẫu thuật và phải hoàn tất quá trình phẫu thuật trước khi thay đổi giấy tờ. Quy
định này được cho là quá khắc nghiệt, vì theo hướng dẫn chính thức của Hiệp hội
Chuyên khoa Sức khỏe Chuyển giới, thì chỉ cần 3 điều kiện: 12 tháng liên tục sống
công khai như giới tính mình mong muốn, sử dụng liệu pháp hoóc-mon và một
chứng nhận từ chuyên gia tâm lý.
Vào năm 2013, Tòa án Tối cao Hàn Quốc ra phán quyết rằng một người không
nhất thiết phải phẫu thuật chuyển giới mới có thể thay đổi giới tính trên giấy tờ.
Nguyên đơn của vụ kiện là 5 người chuyển giới, tất cả đều chưa trải qua phẫu thuật.
Trong đó có một người tên “K.”, sinh ra là nữ, bắt đầu nhận và thể hiện mình là
nam từ tuổi vị thành niên. Khi trưởng thành, anh này phẫu thuật cắt bỏ ngực, sử

Viện Nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (iSEE), Có bao nhiêu nước hợp pháp hóa chuyển
đổi giới tính
5


16
dụng hoóc-mon để phát triển râu, cơ bắp, giọng trầm. Anh đã sống cùng vợ mình
hơn 20 năm, tuy vậy anh chưa đi đến bước phẫu thuật cuối cùng là tạo hình dương

trùng khớp với dữ liệu của GBA. Cơ sở dữ liệu này khiến thông tin về giới tính của
người chuyển giới hiện diện ở khắp nơi. Và trong mọi giao dịch hàng ngày, họ sẽ
phải khai đi khai lại thông tin cá nhân của mình cho trùng khớp, hoặc sẽ bị tội gian
lận khai báo. Không đổi được giới tính, đồng nghĩa với người chuyển giới cũng bị
rắc rối trong việc đổi tên. Hà Lan không nêu rõ giới tính nào thì đặt tên nào, nhưng
chỉ nói là tên phải “phù hợp.” Và trong nhiều vụ việc, tòa án cho rằng một người nữ
mà chọn tên nam, hay ngược lại, thì tên đó là “không phù hợp” và bác đơn của họ.
Tháng 12/2013, Quốc hội Hà Lan sửa đổi Bộ luật Dân sự, chỉnh sửa lại một số quy
định từ năm 1985, bãi bỏ những điều kiện về trị liệu hoóc-mon và phẫu thuật
chuyển giới, từ nay, người chuyển giới chỉ còn cần một giấy chứng nhận từ chuyên
gia tâm lý rằng người này có bản dạng giới thuộc về giới tính kia, sẽ có thể thay đổi
giới tính trên thông tin hộ tịch của mình. Đây là sự thay đổi rất ý nghĩa. Nó chặt chẽ
vừa đủ và trao thêm tự do cho cả người dân và cơ quan nhà nước. Và khẳng định
một chân lý là: giới tính của một người không thể do người khác quyết định. Nhà
nước không trao cho họ giới tính mà nhà nước chỉ có thể thừa nhận giới tính đó.
1.3. Thực trạng về chuyển đổi giới tính ở Việt Nam
1.3.1. Người chuyển giới trong lịch sử Việt Nam
Nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ lịch sử đã cho thấy hiện tượng chuyển giới tồn
tại rất lâu ở Việt Nam với trường hợp đầu tiên được ghi chép trong biên niên sử từ
năm 1351 (Đại Việt sử ký toàn thư, dẫn theo Đại Việt thông sử 1759)6. Ví dụ ghi
chép của các sử quan về trường hợp “người con gái Nghệ An biến thành con trai”
vào năm 1351; hay ghi chép về thói quen của một thành viên hoàng gia An Vương
Tuân – con trưởng của Hiến Tông “là người thông minh học rộng, sức lực hơn
người, nhưng tính ngang bướng, thích mặc quần áo phụ nữ”.

Viện Nghiên cứu Kinh tế, Xã hội và Môi trường (iSEE), Giới thiệu về cộng đồng người chuyển
giới ở Việt Nam
6




19
hiện. Theo đó, năm 2015, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một ngôi mộ có niên đại
gần 2.500 năm tại dãy núi Altai thuộc vùng Trung Á. Các nhà khảo cổ và nhân
chủng học khẳng định ngôi mộ này thuộc về một bộ tộc chiến binh cổ xưa tại dãy
nói Altai và người trong mộ đã qua đời cách đây 2.500 năm. Kết quả từ việc phân
tích DNA bộ xương khiến các nhà khoa học tin rằng đây chính là bằng chứng về
người chuyển giới cổ xưa nhất từng được phát hiện, bởi kết cấu bộ xương là nam
giới nhưng lại được mai táng cùng với phụ kiện và trang sức dành cho một người
phụ nữ trẻ. Cỗ quan tài và gối gỗ khá nhỏ so với những ngôi mộ bình thường dành
cho nam giới. Bên cạnh đó, các nhà khảo cổ còn tìm thấy vỏ ốc, một điều khá hiếm
trong nghi thức chôn cất của văn hóa Pazyrk và là biểu tượng cho khả năng sinh sản
của phụ nữ. Điều này càng củng cố cho việc người quá cố từng được xem là một
người phụ nữ trẻ. Đặc biệt, người quá cố còn được trọng vọng vào loại bậc nhất
trong bộ lạc khi chôn cùng cô là 9 con ngựa với vai trò làm đoàn hộ tống đến thế
giới bên kia. Đây rất có thể là bằng chứng về việc người chuyển giới không những
không bị kỳ thị mà còn được xem trọng trong những nền văn minh cổ xưa. Mặc dù
đây có thể bộ xương đầu tiên của một người chuyển giới cổ nhất từng được phát
hiện thế nhưng trong lịch sử đã ghi nhận nhiều trường hợp chuyển giới khác nhau,
đặc biệt là Hy Lạp cổ. Những người phụ nữ chuyển giới thường đảm nhận vai trò
nữ tu sĩ phục vụ tại các đền thờ thần Artemis và Diana cũng như nhiều câu chuyện
về các nam thần và nữ thần thay đổi giới tính. Một số nhà sử học cũng cho rằng các
thành viên của Amazon – một nhóm các chiến binh thường xung đột với người Hy
Lạp – chính là người chuyển giới hoặc lưỡng tính.
1.3.2. Người chuyển giới ở Việt Nam hiện nay
Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có cuộc tổng điều tra nào về số lượng hoặc
tỷ lệ người chuyển giới ở Việt Nam. Còn nghiên cứu trên thế giới cho các kết quả
khác nhau từ 0,1% - 0,5% dân số là người chuyển giới. Gần đây, các cuộc điều tra
dân số tại Mỹ và trên thế giới đã có câu hỏi nhằm xác định bản dạng giới và xu
hướng tình dục. Số liệu ước tính mới nhất cho thấy có khoảng 0,3% dân số Mỹ là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status