NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHI PHÍ TRONG THI CÔNG ĐƯỜNG HẦM ĐÔ THỊ VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM GIẢM CHI PHÍ. - Pdf 53

B GIO DC V O TO

B NễNG NGHIP V PTTN

TRNG I HC THU LI
----------------------------------

vũ thị vân

NGHIÊN CứU về NHữNG YếU Tố ảNH
HƯởng đến chi phí trong thi công
đường hầm đô thị và những biện
pháp nhằm giảm chi phí

luận văn thạc sĩ

Hà nội, 2011


B GIO DC V O TO

B NễNG NGHIP V PTTN

TRNG I HC THU LI
----------------------------------

vũ thị vân

NGHIÊN CứU về NHữNG YếU Tố ảNH

HƯởng đến chi phí trong thi công

đã luôn nhiệt tình giúp đỡ tác giả để hoàn thành tốt luận văn này.
Hà Nội, ngày 08 tháng 3 năm2011

Vũ Thị Vân


LUẬN VĂN THẠC SĨ

1

MỞ ĐẦU
------------------------

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Hầm và các không gian ngầm ngày càng có vai trò quan trọng trong một hệ thống
giao thông hiện đại. Hầu hết các khu vực đô thị trên thế giới đều phải đối mặt với
nhiều vấn đề lớn, đặc biệt là giao thông. Kết cấu hạ tầng cũ nhìn chung là lỗi thời,
không còn đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển không ngừng gia tăng. Trong
bối cảnh đó thì không gian giao thông theo hướng trên cao và theo hướng đi ngầm
trong lòng đất lại được khám phá và phát triển. Hơn nữa, công trình hầm có những ưu
thế vượt trội so với các loại hình giao thông khác nhờ sự đi lại nhanh chóng, tiện lợi,
và an toàn cao, nhất là trong trường hợp thiên tai, chiến sự. Có thể nói giao thông
ngầm là xu thế phát triển tất yếu của một nền kinh tế hiện đại của thế giới.
Thế ký XVII, đường hầm hiện đại đầu tiên của thế giới ra đời, đó là đường hầm
Malpas dài 155m cho kênh đào Midi, miền nam nước Pháp. Năm 1991, Anh và Pháp
hợp tác xây dựng đường hầm eo biển Manche dài 50km, đánh dấu một bước phát triển
mới của ngành xây dựng công trình ngầm trên thế giới.
Đầu thập niên của thế kỷ XXI, tại châu Âu và châu Á tốc độ đầu tư xây dựng công
trình ngầm gia tăng rất nhanh và rất nhiều công trình ngầm hiện đại nhanh chóng được
hoàn thành.

đường hầm đô thị và những biện pháp làm giảm chi phí” là hết sức cần thiết và có ý
nghĩa thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:

1. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến giá thành xây dựng đường hầm đô thị
2. Tìm biện pháp giảm thiểu phát sinh chi phí

3. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Cách tiếp cận:
- Nghiên cứu thông qua việc thu thập các tài liệu có liên quan: các giáo trình về thi
công hầm trong đô thị, các tài liệu chuyên ngành trong nước và nước ngoài, trên báo
và mạng internet....
3.2. Phương pháp nghiên cứu:
- Thống kê các yếu tố thường phát sinh chi phí trong thi công xây dựng đường
hầm đô thị
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng
- Đề ra biện pháp để giảm thiểu chi phí

Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2


LUẬN VĂN THẠC SĨ

3

3.3. Kết quả dự kiến đạt được:
- Tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí thi công xây dựng đường hầm đô thị
- Đề ra biện pháp giảm thiểu phát sinh chi phí thi công đường hầm đô thị

than đá, dẫn nước. Ngày nay, hầm được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực khác
nhau của nền kinh tế quốc dân đặc biệt là ở các nước phát triển. Trong giao thông,
đường hầm xuyên qua núi, đi ngầm trong lòng thành phố, vượt sông, vượt biển. Trong
thuỷ lợi, thuỷ điện hầm có nhiệm vụ dẫn nước tưới, phục vụ phát điện. Trong an ninh
quốc phòng hầm được sử dụng để giữ an toàn và đảm bảo bí mật. Trong công nghiệp
khai thác mỏ, đường hầm làm đường vận chuyển khai thác,…
Trên thế giới vào thế kỷ XVII, đường hầm hiện đại đầu tiên đã được hoàn thành.
Nhưng tại Châu Âu, một “cơn sốt” xây dựng công trình ngầm phục vụ giao thông đã
thực sự bùng nổ trong thập niên đầu của thế ký XXI. Tính riêng Italia, đến năm 2008,
tổng chiều dài đường ngầm giao thông đã lên tới hơn 1000km với tổng mức đầu tư lên
tới 30 tỷ Euro. Dự án đường sắt xuyên núi Anpơ của Thuỵ Sỹ đã giảm căng thẳng cho
mạng lưới đường ô tô và nâng cao năng lực vận tải hàng hoá trên toàn tuyến đường.
Ngoài ra một loạt các dự án quy mô lớn xây dựng các đường hầm thoát nước, tưới
tiêu, hầm thuỷ điện, đặt cáp ngầm,… đang được triển khai, góp phần gia tăng đáng kể
số lượng và phát triển công nghệ kỹ thật xây dựng hầm.
Ở châu Á tốc độ đầu tư xây dựng các đường hầm cũng tăng rất nhanh, đặc biệt là
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Tại Việt Nam, từ năm 1930 đã có hầm giao thông
thuỷ Rú Cóc (Nghệ An) xuyên qua núi giúp thuyền bè đi lại từ thượng lưu xuống hạ
lưu sông Lam, tránh đi qua đập nước Đô Lương. Sau ngày thống nhất đất nước ta mở
đầu xây dựng hầm Dốc Xây trên quốc lộ 1A, đoạn qua Ninh Bình dài khoảng 100m.
Tiếp đó, vào những năm 1967-1970 trên các tuyến đường sắt phía Bắc có 14 hầm được
xây dựng: Tuyến Đồng Mỏ-Bản Thí có 8 hầm với tổng chiều dài 2.156m, tuyến KépThải Nguyên có 4 hầm với tổng chiều dài là 1.583m, tuyến Kép- Bãi Cháy có 2 hầm.
Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2


LUẬN VĂN THẠC SĨ

5

khu nhà ở, các khu thương mại, khu văn phòng,… nên phải rất hạn chế các biện pháp
thi công bằng nổ mìn gây chấn động dẫn đến nứt, sụt, lún mặt đất và các công trình
xây dựng trên đó. Vì vậy, biện pháp thi công chủ yếu trong thi công hầm đô thị là biện
Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2


LUẬN VĂN THẠC SĨ

6

pháp thi công đào hở, biện pháp thi công đào ngầm bằng khiên đào, kích ép đất, máy
đào TBM, còn biện pháp thi công nổ mìn được dùng rất hạn chế. Công tác chống đỡ
trong quá trình đào phải kịp thời nhằm tránh hiện tượng lún từ biến gây lún mặt đất.
Cá biệt những đoạn hầm nằm gần móng công trình bên trên phải tiến hành gia cố trước
khi đào hầm. Những yêu cầu trên đòi hỏi trong khâu khảo sát ban đầu phải đảm bảo
tính chính xác cao về các,lớp địa chất mà tuyến hầm di qua. Mặt khác phải có mức độ
dự trữ hợp lý vật tư kỹ thuật, đặc biệt kết cấu chống đỡ, nhằm bảo đảm tiến độ thi
công được bảo đảm khi địa chất có thay đổi.
- Trong quá trình thi công hầm đòi hỏi phải có thiết bị chuyên dùng riêng như:
máy khoan có nhiều mũi, có thể thay đổi cần khoan theo chiều cao, chiều dài, các góc,
các loại máy đào được cơ giới hóa toàn bộ như máy đào dạng khiên khi qua lớp trầm
tích dưới đáy sông, máy đào TBM để đào hầm đúng mặt cắt thiết kế, máy đào giếng
đứng kiểu ROBIN, v.v…
1.1.3. Đặc điểm tổ chức thi công:
- Đặc thù của hầm đô thị là việc nối tiếp giao thông trên mặt đất với giao thông
trong hầm trong điều kiện địa hình chật hẹp, mật độ giao thông dày đặc là khó khăn
lớn cho bài toán vận chuyển. Đồng thời việc liên hệ giữa đường hầm với trên mặt đất
chỉ qua 2 cửa hầm, rất khó cho việc tăng thêm thiết bị, tăng thêm người, tăng thêm vật

* Những thách thức trong thi công:
- Chi phí và tính khả thi của dự án bị chi phối rất lớn bởi địa chất và địa chất thuỷ
văn. Các đô thị đa phần nằm trên lớp trầm tích châu thổ thuộc loại đất mềm yếu nên
khi đào hầm dễ xảy ra sự cố như hiện tượng sạt lở lớn thậm chí sập hầm, sập các công
trình xung quanh. Do đó yêu cầu khảo sát địa chất khu vực cần thiết phải được hiểu
toàn diện hơn và đầy đủ theo cả ba chiều, không chỉ dọc theo các tuyến công trình mà
còn phải cả theo các mặt cắt ngang công trình để giúp đánh giá đúng đắn cấu tạo địa
chất tại các khu vực, chế độ địa chất thuỷ văn, phán đoán khả năng phân bố theo diện
và theo chiều sâu các yếu tố địa chất, địa chất thuỷ văn bất lợi từ đó có biện pháp thi
công hợp lý.
- Khi đào hầm đất đá sẽ sinh ra áp lực lên kết cấu chống đỡ trong quá trình đào.
Đó là hiện tượng đất đá lơi ra và hiện tượng mỏi của vật liệu khi không kịp chống đỡ,
(hiện tượng chùng ứng suất và hiện tượng từ biến). Vì thế phải có biện pháp chống đỡ
hợp lý, kịp thời đảm bảo được an toàn trong thi công và chất lượng công trình
- Các điều kiện về chỉ tiêu kỹ thuật thay đổi ở phạm vi rộng như thời gian, mùa,
tốc độ, hướng chất tải cũng như một số các điều kiện khác như nhiệt độ, độ ẩm,v.v….
cũng gây trở ngại lớn cho tiến độ thi công
- Sự biến đổi của nước ngầm là yếu tố gây nhiều khó khăn nhất trong quá trình
thi công, đặc biệt là nước ngầm có áp rất khó xử lý, vì vậy cần phải dự báo thận trọng
các thông số của nước ngầm trong quá trình thi công.
* Kiểm tra địa chất, địa chất thuỷ văn:
- Yêu cầu kiểm tra phải tiến hành trước khi đào, trong quá trình đào và sau khi
xây dựng vỏ hầm
- Luôn đối chiếu sự phân lớp, phân tầng địa chất, những điểm xuất hiện dòng
nước ngầm (lượng và áp lực) và những điều thực tế gặp phải trong quá trình đào với
Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2



nông) như các nhà ga xe điện ngầm, các nút giao thông qua những đoạn đường có mật
độ lưu thông dày đặc, do vậy ngoài phương pháp đào ngầm còn áp dụng thêm phương
pháp đào hở. Phương pháp đào ngầm đã được áp dụng rộng rãi ở mọi địa hình, còn
phương pháp đào hở đối với Việt Nam lần đầu áp dụng cho nút giao thông Kim Liên,
Ngã tư Sở.

Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2


LUẬN VĂN THẠC SĨ

9

1.2.2. Phương pháp đào ngầm:
Cấu trúc địa chất của tuyến đường hầm qua đô thị thường thay đổi nhiều do các
thành phố lớn đều nằm trên các đồng bằng với các tầng đất đá khác nhau. Nói chung
bất kỳ một dự án đào hầm nào cũng đòi hỏi tiến hành 3 bước trong quá trình chuẩn bị
và thiết kế. Đó là lựa chọn hệ thống các biện pháp đào hầm đi kèm với việc xử lý khi
trạng thái đất đá biến đổi, phân tích về chi phí và những rủi ro để lựa chọn một cách tối
ưu về toàn bộ phương án đào hầm, và thiết kế lớp vỏ hầm cùng với dự báo sự biến đổi
địa chất để ứng phó kịp thời . Bước đầu tiên, có ảnh hưởng lớn nhất đến chi phí đào
hầm là do phải lựa chọn thiết bị đào và những thiết bị đặc biệt để xử lý địa chất phát
sinh trong quá trình đào. Nếu thiết bị không phù hợp buộc phải dừng thi công và chờ
mua thiết bị mới thì giá thành sẽ tăng lên rất lớn do việc phải mua sắm thiết bị mới và
phí tổn do chậm tiến độ thi công. Ngoài ra, sẽ làm tăng biến dạng lớp đất trên mặt dẫn
đến những hư hỏng công trình cùng với việc cản trở giao thông bề mặt.
Công nghệ thi công đào ngầm bao gồm: đào bằng TBM, khiên đào, kích. Nhưng
trong thi công hầm qua đô thị thì TBM được dùng phổ biến hơn cả.

thi công.
- Phải có các giải pháp ngăn và thoát nước ngầm, bảo đảm hầm luôn khô ráo trong
quá trình xây dựng
- Lập và thực hiện chu trình thi công đào hầm hợp lý và nhanh nhất, thi công hầm
không ảnh hưởng đến giao thông trên mặt đất.
- Kiểm soát được trạng thái ứng suất và biến dạng của kết cấu vỏ hầm, nền đất
xung quanh vỏ hầm cũng như lún sụt trên mặt đất khu vực thi công hầm bên dưới
- Chỉ được vận hành thiết bị TBM về phía trước khi đã thực hiện bơm vữa đủ áp
lực thiết kế phía sau vỏ hầm và đất nền xung quanh
* Cấu tạo của TBM:
Một máy TBM gồm có một số bộ phận cơ bản như sau:
- Mâm cắt: có các lưỡi cắt để cắt đất đá bằng cách xoay tròn và tạo áp lực tì lên
mặt gương đào;
- Vỏ khiên: Ngăn đất đá tràn vào máy và bảo vệ an toàn cho công nhân vận hành
máy
- Kích đẩy: Tựa vào các đốt vỏ đã được lắp ráp và dịch chuyển về phía trước cùng
với mâm cắt
- Bộ điều khiển chính: Điều khiển và tạo áp lực cho mâm cắt quay tròn, hoạt động
bằng điện
- Băng chuyền: Đưa đất đá rơi xuống ở mặt gương đào ra ngoài
- Bộ lắp ráp: Lắp các đốt vỏ để tạo ra vòng bảo vệ ở cuối của TBM
- Các bộ phận khác: Dịch chuyển TBM, phun vữa, thông gió, cấp năng lượng,..
Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2


LUẬN VĂN THẠC SĨ

11

LUẬN VĂN THẠC SĨ

12

- Khiên bán cơ giới về đào: Tương tự như khiên mặt hở nhưng được trang bị xẻng
đào, búa phá đá điều khiển bằng khí nén. Có thể dùng khí nén để ổn định gương hầm
khi đào
- Khiên cơ giới hoá hoàn toàn: Đất đá được đào toàn mặt cắt hầm nhờ trang bị
bánh xe cắt hoặc những núm cắt quay. Công cụ dạng đĩa cắt quay có thể áp dụng cho
mọi loại đất. Có thể điều chỉnh độ mở của mặt khiên và đất đá di chuyển ngược với
hướng tiến của khiên để đi vào máy vận chuyển đứng sau khiên. Có thể dùng khí nén
hỗ trợ ổn định cho gương hầm.
- Khiên có thiết bị ép vữa để cân bằng nước ngầm và áp lực đất ở gương hầm.
Thích hợp nhất cho đất cát, có xu hướng tạo chất dính để giữ sét không trượt, với đất
hạt thô có thể bị lở vào trong vữa
- Khiên có buồng cân bằng áp lực tại mặt gương. Loại này có mặt che kín dạng
buồng để chứa nước và đất nhằm cân bằng với nước ngầm hoặc đất tràn vào với áp lực
tại mặt gương.
- Khiên phun loại vữa đặc với áp lực cao: Có thiết bị phun vữa đặc hơn vào khoang cắt
đất.

Hình 1.2. Sơ đồ nguyên lý công nghệ đào hầm bằng khiên đào

Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2


LUẬN VĂN THẠC SĨ



LUẬN VĂN THẠC SĨ

14

Hình 1.3. Công nghệ đào hầm bằng kích

1.2.3. Phương pháp thi công đào hở:
Có nhiều phương thức thi công công trình theo công nghệ thi công đào hở:
a. Phương thức tường-nền: Theo phương pháp này các công trình ngầm được
thi công theo trình tự sau: Đầu tiên từ mặt đất tiến hành làm tường bảo vệ vách hố
móng, sau đó đào hố móng đến tận đáy công trình (đáy hố móng), rồi thi công kết cấu
công trình từ dưới lên sau cùng lấp lại hố móng bằng vật liệu lấp phủ. Tuỳ vào đặc
điểm cơ học, địa chất của khối đất đào, thành hào có thể nghiêng hoặc thẳng đứng và
có thể phải chống đỡ hoặc tự ổn định. Kết cấu chống giữ thành hào được sử dụng có
thể là cọc-ván ép, cọc cừ, tường khoan nhồi hay tường hào nhồi bằng bê tông hoặc bê
tông cốt thép, có thể được gia cố thêm bằng neo, khoan phun ép (khoan phụt), kích
chống, giằng,…Cọc cừ thép thường được tháo ra để sử dụng tiếp. Còn trường hợp sử
dụng tường hào nhồi hoặc tường cọc nhồi, kết cấu đáy của hầm thường được liên kết
với tường tạo thành một bộ phận của kết cấu hầm.
b. Phương thức tường- nóc: Theo phương thức này trước tiên chỉ đào hố móng
đén cao trình nhất định, rồi tiến hành chống đỡ vách hố móng và thi công kết cấu công
trình đầu tiên . Tiến hành lấp hố móng để đảm bảo hoạt động trên mặt đất được bình
thường. Tiếp tục đào đến tầng thứ hai và phế thải được chuyển lên mặt đất nhờ cửa sổ
được chừa sẵn ở tầng kết cấu trên cùng. Tiếp tục như vậy đối với các tầng đào phía
dưới cho đến tận đáy công trình. Phương thức này được sử dụng để thi công dọc theo
các tuyến phố chật hẹp và yêu cầu giải toả giao thông nhanh, không cho phép đường
phố ở trạng thái đào bới kéo dài
Học viên: Vũ Thị Vân


16

có thể sử dụng các máy đào cơ giới lại nhỏ hoặc máy đào hầm chuyên dụng để
thực hiện. Trong khi tiến hành đào cần bố trí các hố gom nước và máy bơm kết hợp
với ống kim lọc đề phòng nước ngầm dâng cao ảnh hưởng đến quá trình thi công.
Công tác giữ khô hố móng được đặc biệt quan tâm bởi sự xâm nhập của nước có
khả năng gây ra sự sụt lún thành vách hố đào, sập hố móng. Việc tiêu nước mặt bằng
được thực hiện bằng các bố trí trạm bơm phục vụ công tác tiêu nước hố đào được đặt
tại các cửa vận chuyển trên sàn tầng hầm thứ nhất. Đầu ống hút thả xuống hố thu
nước, đầu trên được đưa ra ngoài để thải nước vào hệ thống thoát nước thành phố.
Các bước thi công top-down: Gồm 8 bước
- Lắp tường kết cấu để chống đỡ khối đào
- Hạ thấp mực nước ngầm
- Đào đến dầm đáy
- Thi công màng ngăn nước
- Lấp lại phần mái và khôi phục mặt đất
- Đào bên trong và chống đỡ
- Thi công dầm sàn và liên kết với tường chống đỡ
- Lấp lại phần nóc và khôi phục mặt đất
- Đào bên trong, chống đỡ
- Thi công dầm sàn và liên kết với chống đỡ
- Hoàn thành tường bên trong bao gồm phần thứ hai
Ưu điểm của công nghệ thi công Top- down:
- Cho phép trả lại hiện trạng mặt đất sớm
- Có thể sử dụng những tường kết cấu cố định làm tường chống đỡ tạm thời cho
khối đào
- Những dầm kết cấu sẽ hoạt động như bộ phận chống đỡ bên trong cho công
đoạn nào, như vậy sẽ giảm khối lượng chống đỡ theo yêu cầu
- Chừng mực nào đó nó đòi hỏi diện tích thi công ít hơn
- Kết quả giá thành hầm có thể thấp hơn bằng cách giảm bớt những công việc

Phương pháp thi công bottom-up tương tự như phương pháp thi công top-down
chỉ khác là phương pháp bottom-up được thi công từ dưới đáy lên trên .
Ưu điểm của công nghệ thi công Bottom-up:
- Thiết bị thi công, kho và chỗ để vật liệu dễ bố trí trong hố móng
- Những hệ thống thoát nước có thể bố trí ngoài kết cấu để dẫn đi hoặc bơm ra xa
kết cấu
Nhược điểm của công nghệ thi công Bottom-up:
- Chân chống đòi hỏi sâu hơn so với phương pháp Top- down
- Mặt đất không có thể trả lại hiện trạng khi công trình chưa kết thúc
- Yêu cầu hạ thấp mực nước ngầm có thể dẫn đến ảnh hưởng bất lợi cho cơ sở hạ
tầng xung quanh.

Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2


LUẬN VĂN THẠC SĨ

19

Hình 1.6. Thi công tầng hầm theo phương pháp bottom-up
1.3. TỔ CHỨC THI CÔNG XÂY DỰNG ĐƯỜNG HẦM:

Với những đặc thù rất riêng của hầm trong đô thị như: hầm đi qua vùng có mật độ
dân cư đông đúc, phía trên của nó có nhiều công trình như khu chung cư, khu thương
mại, khu văn phòng, khu nhà ở của dân… và nền địa chất mang đặc trưng của vùng
đồng bằng châu thổ nên công tác tổ chức thi công cũng có những yêu cầu khác biệt.
Nội dung của công tác tổ chức thi công cho hầm đô thị bao gồm:
- Để đảm bảo tránh sụt lún đến các công trình lân cận trước khi thi công phải khảo

lượng, khu dân cư, khu hành chính, khu sản xuất, giao thông, thông tin, v.v…
1.4. NHỮNG RỦI RO CÓ THỂ XẢY RA TRONG THI CÔNG HẦM

Rủi ro trong xây dựng đường hầm có thể hiểu là những biểu hiện, sự kiện làm thay
đổi thậm chí phá vỡ hoàn toàn chức năng sử dụng của các hạng mục, kết cấu của công
trình cũng như làm thay đổi trình tự thi công các hạng mục đã được dự kiến trước đó
Rủi ro trong xây dựng đường hầm đặc biệt nghiêm trọng và có tần suất xảy ra lớn
hơn nhiều so với các loại hình công trình xây dựng khác. Trong quá trình thi công
đường hầm trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã gặp phải rất nhiều rủi ro khác nhau.
Mỗi sự rủi ro xảy ra đều là những bài học hữu ích đối với những người xây dựng. Do
chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm và nhận thức về các rủi ro trong thi công các công
trình ngầm, nên tìm hiểu các khả năng xảy ra rủi ro và nguyên nhân để có thể có các
giải pháp phòng ngừa và xử lý có hiệu quả là rất cần thiết.
Rủi ro trong xây dựng đường hầm rất đa dạng có thể xảy ra ở các vị trí khác nhau
của công trình, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Do đó cũng
có thể phân loại rủi ro theo nhiều cách.
Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2


LUẬN VĂN THẠC SĨ

21

Phân theo vị trí hay hình thức:
- Phá hủy đất đá tới mặt đất
- Sập lở đất đá ở nóc hầm
- Sập lở đất đá ở hai bên hông
- Sập lở đất đá ở gương thi công


Hình 1.7. Sự cố trong đường hầm số 4, Thượng Hải đã làm sụt đổ các toà nhà
2. Heathrow Express Link, Anh, 1994:
Tuyến Heathrow Express Link là tuyến tàu nhanh nối sân bay London với ga tàu
hỏa Padington. Trong khi đường hầm đư ợc thi công bằng TBM (SM), thì hai ga tại
sân bay cũng đựơc xây dựng bằng phương pháp bê tông phun. Vào ngày 21 tháng 10
năm 1994 đã xảy ra sự cố. Đầu tiên phát hiện có vết nứt và tách vỡ vỏ bê tông phun tại
một trong ba gương thi công. Sau đó xuất hiện phễu lún sụt trên mặt đất. Tiếp đó sự cố
lan dần ra cả hai gương còn lại . Cuối cùng cả ba đoạn hầm bị sập lở, kế tiếp nhau và
nhiều ngôi nhà trên mặt đất bị phá hủy.
Sau khi sự cố xảy ra, người ta đã lấp đầy các khoảng trống bằng bê tông bọt. Các
ngôi nhà lân cận có thể bị nguy hại đều được bảo vệ. Trong quá trình khắc phục, đầu
tiên đào một giếng tiết diện tròn (đường kính 50m, sâu 40m), sử dụng tường cọc khoan
nhồi cắt nhau (các lỗ khoan giao cắt nhau). Phần đất các đoạn hầm bị phá hủy phía
trong giếng lại được đào bằng ph ương pháp thông thường.
3. Thi công tầng hầm toà nhà Pacific:
Công trình cao ốc Pacific có 5 tầng hầm, 1 tầng trệt và 18 tầng lầu. Tường tầng
hầm bằng bêtông cốt thép, dày 1m, thi công bằng công nghệ tường trong đất, khi đào
đất để thi công tầng hầm thứ 5 thì phát hiện một lỗ thủng lớn ở tường tầng hầm có kích
Học viên: Vũ Thị Vân

Lớp: 17C2



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status