MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG NNPTNT PHÚ THỌ - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

NGUYỄN MINH TUẤN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ
ÁN CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG NN&PTNT PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Hà Nội – 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI

NGUYỄN MINH TUẤN

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ
ÁN CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG NN&PTNT PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Kinh tế TNTN và môi trường
Mã số

Do trình độ, kinh nghiệm và thời gian nghiên cứu hạn chế nên Luận văn
khó tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được những ý kiến đóng
góp.
Luận văn được hoàn thành tại Khoa Kinh tế và Quản lý Trường Đại học
Thủy lợi.
Hà Nội, ngày 28 tháng 02 năm 2011
Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Tuấn


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Mục tiêu tổng thể của một dự án
Hình 1.2: Sơ đồ các nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng
Hình 1.3: Các giai đoạn của một dự án đầu tư xây dựng
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Phú Thọ

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Sự khác nhau giữa quản lý SX kinh doanh và quản lý dự án
B
0

Bảng 3.1: Kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi trong tương lai
B
1


DANH CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
ADB:


NĐ-CP:

Nghị định Chính phủ

NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NQ:

Nghị quyết

NSNN:

Ngân sách nhà nước

ODA:

Quỹ hỗ trợ phát triển chính thức

QĐ:

Quyết định

QLDA:

Quản lý dự án

TCVN:

Tiêu chuẩn Việt Nam


Xây dựng

XDCT:

Xây dựng công trình


Lời cam đoan
Lời cám ơn
Danh mục hình
Danh mục bảng
Danh mục chữ viết tắt

MỤC LỤC


Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng cơ bản là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự
tăng trưởng hay phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Nguồn vốn đầu tư
xây dựng cơ bản thường chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi ngân sách hàng năm.
Sản phẩm trong lĩnh vực xây dựng cơ bản có đặc thù riêng không giống với
sản phẩm khác, nó được sản xuất đơn chiếc, trong các điều kiện khác nhau,
thời gian xây dựng dài, trải qua nhiều giai đoạn quản lý có tính đặc thù, đặc
biệt là có nhiều tổ chức cá nhân cùng tham gia quản lý đầu tư và xây dựng từ
khâu chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc dự án đưa vào khai thác sử dụng. Chính


Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

Để góp phần tìm ra những giải pháp góp phần tăng cường hơn nữa

công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc ngành Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, nơi mình công tác, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý đầu tư xây dựng tại
Ban Quản lý dự án Công trình xây dựng NN&PTNT Phú Thọ“ làm đề tài
luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về dự án đầu tư
và quản lý dự án đầu tư xây dựng, vai trò của các bên tham gia trong quá trình
chuẩn bị, thực hiện đầu tư và sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản lý thực
hiện các dự án đầu tư xây dựng trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế.
- Trên cơ sở đánh giá những mặt hạn chế trong công tác quản lý các dự
án, phân tích nguyên nhân và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả công tác quản lý dự án đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
3. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận chung về dự án đầu tư xây dựng, hệ thống các
văn bản pháp quy về quản lý đầu tư xây dựng của Nhà nước và thực trạng
triển khai thực hiện các dự án đầu tư xây dựng của cả nước nói chung, trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng trong thời gian qua. Đề tài tiếp cận phương pháp
duy vật biện chứng để phân tích để giải quyết các vấn đề liên quan đến quá
trình quản lý dự án đầu tư xây dựng. Luận văn sử dụng kết hợp một số
phương pháp nghiên cứu sau:

quản lý dự án đầu tư xây dựng
b. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu , đề xuất biện pháp của luận văn là tài liệu
tham khảo hữu ích đối với việc nâng cao h ơn nữa chất lượng, hiệu quả công
tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng nói chung trên địa bàn cả nước, và
tại Ban Quản lý dự án Công trình xây dựng NN & PTNT Phú Thọ nói riêng.
6. Kết quả dự kiến đạt được
Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
quản lý đầu tư xây dựng các dự án đầu tư xây dựng nông nghiệp và phát triển
nông thôn trong cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói riêng.
7. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận kiến nghị, Luận vân gồm có 3 chương
Học viên: Nguyễn Minh Tuấn - Lớp: Cao học 17K

3


Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

chính là:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư
Chương 2: Phân tích hiện trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại
Ban Quản lý dự án Công trình Xây dựng NN & PTNT Phú Thọ
Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý dự án
đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý dự án Công trình Xây dựng NN
& PTNT Phú Thọ

Học viên: Nguyễn Minh Tuấn - Lớp: Cao học 17K

quản lý kinh doanh.
b. Theo tính chất đầu tư thì đầu tư được chia thành:
- Đầu tư mới: Đây hình thức đưa toàn bộ vốn đầu tư xây dựng một
công trình mới hoàn toàn.

Học viên: Nguyễn Minh Tuấn - Lớp: Cao học 17K

5


Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

- Đầu tư mở rộng: là hình thức đầu tư nhằm mở rộng công trình cũ

đang hoạt động để nâng cao công suất của công trình cũ.
- Đầu tư sửa chữa, cải tạo: là việc đầu tư nhằm khôi phục năng lực của
công trình đang hoạt động.
- Cho vay (tín dụng): đây là hình thức dưới dạng cho vay kiếm lời qua
lãi suất tiền cho vay, hình thức này phổ biến nhất là hoạt động của các ngân
hàng thương mại.
c. Theo nội dung kinh tế:
- Đầu tư vào ngườn nhân lực: Là việc đầu tư cho lực lượng lao động
nhằm mục đích tăng về lượng và chất. Gồm các hình thức đào tạo dài hạn,
ngắn hạn, cấp chứng chỉ,...
- Đầu tư vào tài sản lưu động: nhằm bảo đảm sự hoạt động liên tục của
quá trình sản xuất kinh doanh trong từng chu kỳ sản xuất;
- Đầu tư xây dựng cơ bản: là việc đầu tư nhằm tạo mới hoặc nâng cao
mức độ hiện đại tài sản cố định thông qua việc xây dựng mới nhà xưởng, các

tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao
gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực.
- Dự án là một quá trình gồm các công tác, nhiệm vụ có liên quan đến
nhau, được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng
buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách.
b. Dự án đầu tư:
Có nhiều khái niệm khác nhau về dự án đầu tư, nhưng những khái niệm
thường xuyên được sử dụng khi nghiên cứu về dự án đầu tư như sau:
- Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động về chi phí liên quan
với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một
thời gian nhất định;
- Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở
rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về
số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó
trong một khoảng thời gian xác định;
- Dự án đầu tư là việc sử dụng hiệu quả đầu vào để thu được đầu tư vì
mục đích cụ thể;
- Dự án đầu tư là tổng thể các Biện pháp nhằm sử dụng các nguồn lực
tài nguyên hữu hạn vốn có để đem lại lợi ích thực cho xã hội càng nhiều càng
tốt;
- Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động dự kiến với các nguồn lực và
chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và
Học viên: Nguyễn Minh Tuấn - Lớp: Cao học 17K

7


Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

Học viên: Nguyễn Minh Tuấn - Lớp: Cao học 17K

8


Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

tư đều có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản. Vì thế, đối với những dự
án đầu tư không liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản không gọi là dự án
đầu tư xây dựng.
Xét theo quan điểm động, có thể hiểu dự án đầu tư xây dựng công trình
là một quá trình thực hiện các nhiệm vụ từ ý tưởng đầu tư xây dựng công
trình thành hiện thực trong sự ràng buộc về kết quả (chất lượng), thời gian
(tiến độ) và chi phí đã xác định trong hồ sơ dự án và được thực hiện trong
những điều kiện không chắc chắn (rủi ro).
Dự án đầu tư xây dựng công trình, xét về mặt hình thức là tập hợp các
hồ sơ và bản vẽ thiết kế kiến trúc, thiết kế kỹ thuật và tổ chức thi công công
trình xây dựng và các tài liệu liên quan khác xác định chất lượng công trình
cần đạt được, tổng mức đầu tư của dự án và thời gian thực hiện dự án, hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội của dự án,...
Theo định nghĩa của Luật Xây dựng Việt Nam (2003) thì: “Dự án đầu
tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để
xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục
đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch
vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm
phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”. Cũng cần hiểu rõ thêm khái niệm
“Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước” là dự án có thành phần vốn
nhà nước tham gia chiếm từ 30% tổng mức đầu tư của dự án trở lên và được

thương mại, tài chính, kinh tế. Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là nghiên
cứu một cách toàn diện tính khả thi của dự án. Trong giai đoạn này (có thể)
gồm hai bước: nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi. Các dự án lớn
và quan trọng thường phải thông qua hai bước này, còn các dự án nhỏ và
không quan trọng thì trong giai đoạn này chỉ cần thực hiện bước nghiên cứu
khả thi. Chuẩn bị tốt và phân tích kỹ lưỡng sẽ làm giảm những khó khăn và
chi phí trong giai đoạn thực hiện đầu tư.
3. Thẩm định và phê duyệt dự án
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách, giai đoạn này thường được
thực hiện với sự tham gia của các cơ quan nhà nước, các tổ chức tài chính và
các thành phần khác tham gia dự án, nhằm xác minh, thẩm tra lại toàn bộ kết
luận đã được đưa ra trong quá trình chuẩn bị và phân tích dự án, trên cơ sở đó
chấp nhận hay bác bỏ dự án. Dự án sẽ được phê duyệt, thông qua và đưa vào
thực hiện, nếu nó được xác nhận là có hiệu quả và khả thi. Ngược lại, thì tùy
theo mức độ, dự án có thể được sửa đổi hay buộc phải làm lại.
4. Triển khai thực hiện dự án
Là giai đoạn bắt đầu triển khai vốn và các nguồn lực vào thực hiện đến
khi dự án chấm dứt hoạt động. Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình
Học viên: Nguyễn Minh Tuấn - Lớp: Cao học 17K

10


Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

chuẩn bị và phân tích kỹ lưỡng, song thực tế rất ít khi được tiến hành đúng
như hoạch định. Nhiều dự án không đảm bảo được tiến độ thời gian và chi phí
dự kiến, thậm chí một số dự án phải thay đổi thiết kế ban đầu do giải pháp kỹ



Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

án phải nghiên cứu kỹ chủ trương, chính sách của Nhà nước và các văn bản
pháp quy liên quan tới hoạt động đầu tư.
Tính đồng nhất: để đảm bảo tính đồng nhất của dự án, các dự án phải
tuân thủ các quy định chung của các cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư,
kể cả các quy định về thủ tục đầu tư. Đối với các dự án quốc tế thì chúng còn
phải tuân thủ những quy định chung mang tính quốc tế.
1.1.4. Phân loại dự án đầu tư
Dự án đầu tư được phân loại theo các tiêu chí sau:
1. Theo cơ cấu tái sản xuất
Dự án đầu tư được phân thành dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án
đầu tư theo chiều sâu. Trong đó đầu tư chiều rộng thường đòi hỏi khối lượng
vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ
vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao. Còn đầu tư theo chiều
sâu thường đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không
lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng.
2. Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội
Dự án đầu tư có thể phân chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng,... hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ với
nhau. Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ
tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt
hiệu quả cao; còn các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đến lượt
mình lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở
hạ tầng và các dự án đầu tư khác.

triển vọng rõ ràng có thể bỏ qua bước lập dự án tiền khả thi và ngay dự án khả
thi.
b. Dự án khả thi:
Dự án khả thi là dự án chi tiết, các giải pháp có căn cứ và mang tính
hợp lý, có thể thực hiện được và khả năng mang lại kết quả vững chắc. Vì ở
giai đoạn nghiên cứu khả thi các vấn đề (nội dung) của dự án được xem xét ở
trạng thái động theo tình hình từng năm trong suốt cả đời dự án. Do đó mọi
yếu tố không ổn định đều được đề cập đến. Vì vậy các kết quả nghiên cứu
một cách chi tiết và đạt độ chính xác cao.
5. Theo nguồn vốn:
Theo nguồn vốn, dự án đầu tư có thể phân chia thành dự án đầu tư có
vốn huy động trong nước, dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài (vốn
đầu tư trực tiếp và gián tiếp).

Học viên: Nguyễn Minh Tuấn - Lớp: Cao học 17K

13


Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

Việc phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn, vai

trò của mỗi nguồn vốn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành,
từng địa phương và toàn bộ nền kinh tế cũng như có các giải pháp thích hợp
đối với việc quản lý các dự án đối với từng nguồn vốn huy động.
6. Theo vùng lãnh thổ
Cách phân loại này cho thấy tình hình đầu tư liên quốc gia, dự án quốc


Trường Đại học Thuỷ lợi

Kết thúc dự án xây dựng được tính vào thời điểm bàn giao công trình

đưa vào sử dụng và vận hành sản xuất ra sản phẩm đạt công suất thiết kế.
Trong điều kiện thị trường, chủ đầu tư kỳ vọng không chỉ ở công trình đang
xây dựng mà điều chính yếu là kết quả từ công trình xây dựng mang lại nguồn
thu và lợi nhuận như thế nào sau khi đưa công trình vào sản xuất kinh doanh.
Bởi vậy, chủ đầu tư xem sự vận hành của công trình quan trọng tương quan
với những mục đích kinh doanh của mình. Chính vì thế mà chủ đầu tư hết sức
thận trọng xem xét các yếu tố chi phí trong toàn bộ dự án. Khoản chi phí trực
tiếp cho quá trình vận hành công trình có thể giảm đáng kể do việc tăng chi
phí ban đầu ở giai đoạn xây dựng của dự án.
Một dự án xây dựng được xem là thành công khi: Tổng các chi phí
không vượt quá tổng dự toán hoặc tổng mức đầu tư (trong bước lập dự án);
Thời gian thực hiện phải tương ứng với hạn định trong kế hoạch; Và chất
lượng đảm bảo thỏa mãn nhu cầu khách hàng và các bên tham gia.
1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.2.1. Khái niệm, vai trò, mục tiêu của quản lý dự án
1. Khái niệm về quản lý dự án
Thực tế có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm quản lý dự án,
có thể nêu ra một số khái niệm thường được nhiều học giả sử dụng như sau:
- Quản lý dự án là nghệ thuật và khoa học phối hợp con người, thiết bị,
vật tư, tiền bạc, cùng với tiến độ để hoàn thành một dự án cụ thể đúng
thời hạn trong vòng chi phí đã được duyệt;
- Quản lý dự án là việc điều phối và tổ chức các bên khác nhau tham gia
vào một dự án nhằm hoàn thành dự án đó theo những hạn chế được áp
đặt bởi chất lượng, thời gian và chi phí
- Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực

thông tin,...);
- Đánh giá các rủi ro có thể xảy ra, đề xuất các biện pháp theo dõi và
hành động;
- Động viên nhân lực tham gia và kết phối hợp các hoạt động của họ;
- Theo dõi dự án, thông báo cho ban chỉ đạo dự án thông tin về tiến trình
thực hiện dự án và tất cả những gì có thể dẫn tới sự thay đổi mục tiêu
hoặc chương trình dự án.
Vậy, quản lý dự án không thể chỉ đơn thuần là thực hiện một khối công
việc đã được hoạch định sẵn, mà nhiều khi chính lại là việc hình thành lên
khối công việc đó. Điều này có nghĩa là không thể quan niệm đơn giản quản
lý dự án chỉ là theo dõi thực hiện dự án.
Để thực hiện mục tiêu đề ra một cách hiệu quả, các nhà quản lý dự án
phải biết và có khả năng vận dụng các lý luận khoa học, các công cụ khoa
Học viên: Nguyễn Minh Tuấn - Lớp: Cao học 17K

16


Luận văn Thạc sĩ Kinh tế

Trường Đại học Thuỷ lợi

học, các phương pháp khoa học vào quá trình quản lý. Quản lý dự án cũng
như các lĩnh vực quản lý khác luôn đòi hỏi các nhà quản lý phải có năng lực
ứng xử và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ các mối quan hệ con người, vì thế
có thể thấy rằng quản lý dự án phải trở thành một nghệ thuật ứng xử.
Quản lý dự án có những khác biệt so với quản lý sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp, do dự án có những đặc điểm mang tính đặc thù so với sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Mục tiêu cần đạt được của dự án đã
được xác định trước trong sự ràng buộc về thời gian và chi phí nguồn lực để

Hoạt động diễn ra theo chu Hoạt động được kế hoạch
trình liên tục lặp lại của sản hóa trong một khoảng thời
xuất

gian có giới hạn

Nhân tố ảnh
hưởng

Chịu ảnh hưởng của cả các
Chịu ảnh hưởng chủ yếu của
yếu tố bên trong và bên
các yếu tố bên trong
ngoài

Sản phẩm

Sản phẩm đầu ra biến thiên
Sản phẩm đầu ra biến thiên
rất khó dự tính được chính
nhưng có thể dự tính được
xác

Hiệu quả

Hiệu quả trong tương lai có
thể được dự đoán trước với Hiệu quả trong tương lai rất
một khoảng sai số có thể biết khó dự báo chính xác
được


Để có thể đạt được kết quả mong muốn, mỗi dự án đều dự trù chi phí
nguồn lực huy động cho dự án (nhân lực, tài lực, vật lực, kinh phí,...). Trên
thực tế, do những biến cố rủi ro làm cho chi phí, nguồn lực thực tế thường có
nguy cơ vượt quá dự kiến ban đầu. Cũng có những trường hợp không đủ
nguồn lực huy động cho dự án như đã dự kiến làm cho dự án triển khai không
thuận lợi, phải điều chỉnh, thay đổi lại mục tiêu so với dự kiến ban đầu,...
3. Thời gian:

Học viên: Nguyễn Minh Tuấn - Lớp: Cao học 17K

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status