ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BẾ VĂN ĐỀ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN
SINH TRƯỞNG CÂY ĐINH THỐI (FERNANDOA BRILLETII)
TẠI TẠI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN
THỦY SẢN VÙNG ĐÔNG BẮC TRƯỜNG ĐHNL THÁI NGUYÊN
LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁTTRIỀN LOÀI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: QLTNR
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Giảng viên hướng dẫn: TS. Vũ Văn Thông
Thái Nguyên, năm 2018
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả công bố trong luận văn hoàn
toàn trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào. Các thông tin
trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc.
Ngày 28 tháng 5 năm 2018
Tác giả luận văn
Bế Văn Đề
ii
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là cơ hội cho sinh viên vận dụng lý thuyết và tiếp
xúc với thực tiễn, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, xây dựng phong cách làm
việc khoa học và phát huy được tính sáng tạo của bản thân để tích lũy được
kinh nghiệm cần thiết cho sau này.
Được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, giáo viên
hướng dẫn và nguyện vọng của bản thân, tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp
với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng
của cây Đinh thối (FERNANDOA BRILLETII) tại Trung tâm nghiên cứu
phát triển thủy sản vườn Đông abwcs trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên” .
của cây Đinh thối giai đoạn
vườn ươm ở các CTTN .............................................................................................27
Bảng 4.4. Kết quả sinh trưởng số lá của cây Đinh thối giai đoạn
vườn ươm ở các CTTN .............................................................................................31
Bảng 4.5. Dự tính tỷ lệ xuất vườn cây con Đinh thối ở các CTTN (%) ...................34
4
DANH MỤC HÌNH
Biểu đồ 4.1. Biểu đồ động thái tăng trưởng
Biểu đồ 4.2. Biểu đồ động thái sinh trưởng
vn
00
cây Đinh thối ............................... 23
của cây Đinh thối
giai đoạn vườn ươm ở các CTTN ............................................................................. 27
Biểu đồ 4.3. Số lá cây Đinh thối giai đoạn vườn ươm.............................................. 32
Biểu đồ 4.4. Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ % cây tốt, trung bình, xấu
của cây Đinh thối (%) ............................................................................................... 35
Biểu đồ 4.5. Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ % cây con Đinh thối xuất vườn (%)................ 35
00,
động thái ra lá của
cây Đinh thối dưới ảnh hưởng của các CTTN trong giai đoạn vườn ươm ...............22
6
4.2.1 Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến
vn của cây Đinh thối dưới
ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm .....................................................22
4.2.2. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến đường kính cổ rễ của cây
Đinh thối dưới ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm ............................26
4.2.3. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến động thái ra lá của cây Đinh
thối dưới ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm .....................................30
4.2.4. Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến chất lượng lá của cây
Đinh thối dưới ảnh hưởng các CTTN trong giai đoạn vườn ươm ............................34
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................37
5.1. Kết luận ..............................................................................................................37
5.2. Kiến nghị ............................................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................39
vii
Danh mục các từ viết tắt
CTTN
LSD.05
: Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
P
: Xác xuất
CT1
: Công thức 1
CT2
: Công thức 2
CT3
: Công thức 3
CT4
: Công thức 4
CT5
: Công thức 5
dài toàn huyện với hệ thông thực vật rừng phong phú và đa dạng, với nhiều
2
loài cây gỗ như lim, sến, re hương, đinh thối, dẻ gai, sồi vàng, sồi gai... Trong
số đó Đinh thối là cây gỗ quý, có giá trị kinh tế cao, cần được ưu tiên bảo tồn
và phát triển hàng đầu trong khu vực.
Đinh thối (Fernandoa brilletii) họ chùm ớt (Đinh), bộ Hoa môi
(Lamiales). Loài Đinh thối có kích thước thuộc loại cây gỗ lớn, có vân thớ
đẹp. Vì có giá trị kinh tế cao nên cây Đinh thối đã bị khai thác kiệt, với số
lượng còn lại trong tự nhiên rất ít. Do đó, vấn đề khôi phục về cả chất lượng
và số lượng của loài này đang là việc làm cần thiết, nhất là việc đáp ứng
nguồn giống cây con cho trồng rừng vì vậy tôi tiến hành thực hiện Khóa luận
tốt nghiệp nhằm: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu để sinh
trưởng cây Đinh thối (Fernandoa brilletii) tại Tại Trung tâm Đào tạo,
nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường ĐHNL Thái
Nguyên làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển loài”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu Đinh thối
Xác định được công thức hỗn hợp bầu ảnh hưởng tốt nhất tới sinh
trưởng của cây con Đinh thối về đường kính cổ rễ (D00) chiều cao vút ngọn
(Hvn), trong giai đoạn vườn ươm.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập
Củng cố lý thuyết đã học, rèn luyện kỹ năng thực hành và nâng cao kỹ
năng nghề nghiệp, kỹ thuật sản xuất giống cây rừng, nhằm bảo tồn nguồn gen
các loài cây rừng quý, hiếm.
Các kết quả nghiên cứu là cơ sở nghiên cứu khoa học cho các nghiên
cứu tiếp theo về kỹ thuật gieo ươm cây Đinh thối.
Đây là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu học tập và
phần ruột bầu, kích thước bầu, ánh sáng, nước…có ảnh hưởng rất lớn đến đời
sống cây con, quyết định đến khả năng sinh trưởng của cây con tốt hay xấu.
Phân bón là thức ăn của cây trồng, nó có thể là một sản phẩm thiên
nhiên hoặc sản phẩm được chế tạo trong công nghiệp. Tuy nhiên sự tác động
của chúng đến sinh trưởng cây trồng là như nhau.
Đất có vai trò quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp, dù ở trong
vườn ươm hay trong sản xuất đất đều đóng một vai trò nhất định đối với sinh
trưởng của cây trồng như: Trong sản xuất nông lâm nghiệp đất là giá thể, là
môi trường số trực tiếp của bộ rễ của cây trồng và là nơi lưu trữ, cung cấp các
chất dinh dưỡng cho cây trồng. Trong gieo ươm thì đất là nơi cung cấp chủ
yếu chất dinh dưỡng cho cây con trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn ươm.
Việc lựa chọn loại đất sử dụng làm giá thể trong vườn ươm là rất quan
trọng, nó tác động lớn đến việc nảy mầm của cây trồng trong nhân giống hữu
tính. Đất vườn ươm phải chọn thành phần cơ giới cát pha có kết cấu tơi xốp,
thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt
giống nãy mầm, sinh trưởng của cây con dễ làm đất và chăm sóc cây con hơn
… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng cần căn cứ vào đặc tinh sinh
vật học loài cây.
5
Chọn đất vườn ươm cần có độ phì cao, đất có độ phì tốt là đất có hàm
lượng cao các chất dinh dưỡng khoáng cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các
chất vi lượng khác đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Khi tiến
hành gieo ươm trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ
phận rễ, thân, cành lá, phát triển cân đối. Mặt khác khi cây con đem trồng
rừng có sức đề kháng cao với hoàn cảnh khắc nghiệt nơi trồng sẽ giảm được
công chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh hại.
Việt Nam là đất nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Sở (2004) [9], thành phần hỗn
hợp ruột bầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sinh
trưởng cây con trong vườn ươm. Hỗn hợp ruột bầu tốt phải đảm bảo những
điều kiện lý tính và hóa tính giúp cây sinh trưởng khoẻ mạnh và nhanh. Một
hỗn hợp ruột bầu nhẹ, thoáng khí, khả năng giữ nước cao nhưng nghèo chất
khoáng cũng không giúp cây phát triển tốt. Ngược lại, một hỗn hợp ruột bầu
chứa nhiều chất khoáng, nhưng cấu trúc đất nặng, khó thấm nước và thoát
nước cũng ảnh hưởng xấu đến cây con. Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao
gồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ) và chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý
hóa tính của ruột bầu. Đất được chọn làm ruột bầu là đất tốt, có khả năng giữ
ẩm và thoát nước tốt, thành phần cơ giới từ cát pha đến thịt nhẹ, pH trung
tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại.
Nguyễn Xuân Quát (1985) [8], cũng đã chỉ ra rằng để giúp cây con sinh
trưởng và phát triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tính
chất của ruột bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết. Trong giai đoạn vườn
ươm, những yếu tố được đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ
gia. Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng. Lân có
tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của hệ
rễ. Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát
triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả. Cây được cung cấp đầy đủ
lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua
và kiềm. Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng
7
cứng, lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năng
xuất chất khô giảm. Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng đạm. Một
vài loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ. Ở
những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với
nước trên thế giới mới công nhận phân bón giúp cho cây sinh trưởng phát
triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống chịu được với hạn hán, sâu
bệnh. Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ biến và không thể thiếu trong
sản xuất nông nghiệp. Hàng năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 130 triệu tấn
phân bón.
Theo nghiên cứu của Năm 1974 polster, Fidler và lir đã kết luận Sinh
trưởng của cây thân gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng trong đất
trong suốt quá trình sinh trưởng. Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ ở
mỗi thời kỳ khác nhau là khác nhau.
Chất lượng cây con có quan hệ logic với tình trạng chất khoáng. Nito
và photpho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưỡng và phát triển của cây
con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con còn thể hiện rõ qua màu sắc lá. Theo
Thomas D. Landis (1985) [18].
Cho thấy việc nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng là
vô cùng quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng.
Nhà thực vật học Hà Lan - Van Helmont (1629) ông đã trồng cây Liễu
nặng 2.25kg vào thùng chứa 80kg đất. Một năm sau cây liễu nặng 66kg trong
khi đất chỉ giảm 66g. Ông đã kết luận cây chỉ cần nước để sống.
Vào cuối thế kỷ XVIII đầi thế kỷ XIX thuyết mùn do thaer (1873) đề
xuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống. Đến thế kỷ XIX nhà hóa học người
Đức Liibig (1840) đã sây dựng thuyết chất khoáng. Liibig cho rằng độ mầu
mỡ của đất là do muối khoáng trong đất. Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân
hóa học cho cây sẽ làm tăng năng suất cây trồng. Năm 1963 Kinur và Chiber
khẳng định việc bón phân cho đất theo từng thời kỳ khác nhau là khác nhau.
Cùng năm đó Turbittki đã đưa ra quan điểm: phân bón là nguồn dinh dưỡng
bổ sung cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, đối với từng loài cây, từng tuối
cây cần có nhiều nghiên cứu cụ thể tránh lãng phí phân bón không cần thiết.
Việc bón phân thừa hay thiếu đều dẫn tới biểu hiện cây sinh trưởng chậm và
chất lượng kém.
Yogen… (Nhật Bản), Bloom, Blus, Solu, Spray-NGrow… (Hoa Kỳ), Diệp lục
tố, đặc phong… (Trung Quốc). Nhiều chế phẩm đã được nghiện cứu và cho
phép sử dụng trong sản suất nông nghiệp ở Việt Nam.
10
2.2.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Từ lâu nông dân ta đã có câu "người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân".
Phân bón đã là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng
để nuôi sống nhân loại trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều nước không có công
nghệ sản xuất phân bón mà tiền tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ở
các nước có sự chênh lệch khá lớn. Sự chênh lệch này không phải do tính chất
đất đai khác nhau quyết định mà chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng như
trình độ hiểu biết về khoa học dinh dưỡng cho cây trồng quyết định.
Có nhiều công trình nghiên cứu để tìm ra các biện pháp kỹ thuật nhằm
tăng năng suất cây trồng cho nền nông nghiệp với mong muốn không ngừng
nâng cao đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hiện nay.
Từ năm 1980 - 1985, Nguyễn Minh Đường và nhiều tác giả khác cũng
có những nghiên cứu chi tiết về gieo ươm và trồng rừng sao dầu ở rừng ở
miền Đông Nam Bộ.
Khi nghiên cứu gieo ươm Thông nhựa (Pinus merkusii), Nguyễn Xuân
Quát (1985) [8] cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp
ruột bầu. Những nghiên cứu như thế cũng đã được Hoàng Công Đãng (2000)
[4] thực hiện với loài Bần chua ở giai đoạn vườn ươm.
Để thăm dò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát
(1985) [8] và Hoàng Công Đãng (2000) [4] đã bón lót super lân, clorua kali,
sulphat amôn với tỷ lệ từ 0%-6% so với trọng lượng ruột bầu. Đối với phân
hữu cơ, các tác giả thường sử dụng phân chuồng hoai (phân trâu, phân bò và
phân heo) với liều lượng từ 0%-25% so với trọng lượng bầu. Một số nghiên
Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006) [7], khi gieo ươm cây Huỷnh liên
(Tecoma stans(L.) H.B.K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp bao gồm đất, phân
chuồng hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ 90:5:2: 2,1 và 0,3% kali clorua,0,5%
super lân và 0,1% vôi.
Cuốn sách “Giống cây rừng”, “Lâm sinh 1”, “Lâm sinh 2”, “Hướng dẫn
kĩ thuật trồng cây nông lâm nghiệp cho đồng bào Miền núi”, “Tổ chức gieo
ươm cây bản địa phục vụ mục tiêu phục hồi rừng”…Và hàng loạt các bài luận
12
văn, luân án, đề tài, chuyên đề nghiên cứu về nhân giống về gieo ươm. Những
cuốn sách này có nói về các khâu chính và các kĩ thuật cần thiết trong công
tác gieo ươm từ khâu xây dựng vườn ươm, khảo nghiệm giống, bảo quản hạt
giống và hàng loạt các nghiên cứu về cách thức xử lý ở mỗi loại hạt giống
khác nhau. Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của mỗi loại hạt, công thức phân phù
hợp…Mỗi loài cây đều có đặc tính sinh thái khác nhau, nên trong sản xuất
trồng cây, cũng như gieo ươm cần đòi hỏi đất đai, hỗn hợp ruột bầu không
như nhau.
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy hỗn hợp ruột bầu khi gieo ươm của
một số loài cây như sau: Thành phần ruột bầu gieo ươm cây Quế: 80% đất
tầng A +20% phân chuồng hoai. Thành phần ruột gieo ươm Thông: gồm 80%
đất tầng A + 20% phân chuồng hoai, những nơi gần rừng Thông nên lấy đất ở
rừng Thông và thêm1% supe lân. Thành phần ruột bầu gieo ươm Hồi: 80%
đất tầng A (đất thịt) + 20%phân chuồng hoai. Thành phần ruột bầu gieo ươm
Trám Trắng: 90% đất tầng A + 9% phân chuồng hoai và 1% supe lân (tính
theo trọng lượng bầu). Hỗn hợp ruột bầu để gieo ươm cây Bằng Lăng là: 94%
đất + 5% phânchuồng 1% supe lân. Hỗn hợp ruột bầu gieo ươm cây Mỡ là:
85% đất +10% phân chuồng +4% đất hun + 1% supe lân.
Như vậy, các nghiên cứu ở trên đều nhằm mục đích tìm ra phương
bầu. Tương tự, phân super photphat là 1%, còn phân hữu cơ hoai là 15% –
20% so với trọng lượng ruột bầu.
Theo Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006)[7], khi gieo ươm cây Huỷnh liên
(Tecoma stans (L.) H.B.K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp bao gồm đất, phân
chuồng hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ 90:5:2: 2,1 và 0,3% kali clorua, 0,5%
super lân và 0,1% vôi.
Cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn phân
bón lá có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất. Do trên mỗi lá có hàng triệu
khí khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng.
Phân được xâm nhập trực tiếp, di chuyển nhanh chóng trong cây nên đáp ứng
được yêu cầu cần thiết nhu cầu dinh dưỡng của cây trong thời gian ngắn, giúp
cây sinh trưởng tốt cho năng suất và chất lượng cao [13].
14
2.3. Tổng quan về loài cây Đinh thối
Tên khoa học: Fernandoa brilletii (Dop) Steenis, tên đồng nghĩa
Hexaneurocarpon brilletii Dop. Thuộc trong chi Đinh Fernandoa (tên đồng
nghĩa Ferdinandia, Ferdinandoa, Fernandia, Haplophragma), họ Chùm ớt
(Đinh), bộ Hoa môi (Lamiales). Cây được Steenis mô tả khoa học năm 1976 .
Loài Đinh thối có kích thước thuộc loại cây gỗ lớn, cao 25- 30m,
thân cây thẳng, gốc có bạnh nhỏ, cành rậm, vỏ thân màu xám trắng kay xám
tro, nhạt, rạn nứt dọc hay bong mảng. Đinh thối loài cây thường xanh
Phân bố: Ở rải rác phía Bắc Việt Nam, xuất hiện trong các các cánh rừng
thường xanh mưa mùa nhiệt đới thuộc các tỉnh Hoà Bình, Thái Nguyên,
Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bác Kạn,...
- Đặc điểm nhận biết
Cây gỗ lớn, cao 25- 30m, đường kính có thể tới 50-100cm. Vỏ mầu xám
tro bong mảng, có nhiều lớp mỏng lớp trong nâu vàng. Phân cành thấp. Cành
thịt vỏ vàng hoặc hơi hồng, Gỗ Đinh thối khi sẻ có màu vàng nhạt mặt gỗ
mịn mát có mùi thối khó chịu nhất là cây nào để lâu giác mục , gốc có bạnh
vè nhỏ.
Đinh thối phân cành ở 3/4 chiều cao thân cây, góc phân cành lớn 60 o
70 , cành lớn thường bị cong vặn và có phần xà xuống.
2.4.2. Đặc điểm hình thái lá cây
Lá cây Đinh thối là loại lá đơn nguyên, phiến lá dày, hơi nhọn, lá dài
10-15 cm, rộng 3-4,5 cm, mặt sau có 5-8 đôi gân thứ cấp nổi rõ và phân bố
so le nhau qua gân chính, mặt trước các gân không nổi rõ, lá non có màu
xanh..... Kết quả được minh họa ở hình 4.2.
2.5. Tổng quan khu vực nghiên cứu
* Vị trí địa lý: Đề tài được tiến hành tại vườn trung Trung tâm Đào tạo,
nghiên cứu và phát triển thủy sản vùng Đông Bắc trường ĐHNL Thái Nguyên.
Vườn ươm nằm ở khu vực chân đồi, hầu hết đất ở đây là loại đất feralit
phát triển trên đá sa thạch. Do vườn ươm mới chuyển về đây nên đất lấy để
hoạt động đóng bầu gieo cây là đất mặt ở đồi tương đối tốt.