ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------------------------
HÀ THỊ VÂN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA HỖN HỢP
RUỘT BẦU ĐẾN SINH TRƢỞNG CỦA CÂY TRẨU
(Vernicia montana Lour) GIAI ĐOẠN VƢỜN ƢƠM TẠI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp
Khoa
: Lâm nghiệp
Khóa học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------------------------
Thái Nguyên, 2015
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung
thực. Khóa luận đã được giáo viên hướng dẫn xem và sửa.
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2015
Giảng viên hƣớng dẫn
Sinh viên
TS. Dƣơng Văn Thảo
Hà Thị Vân
ii
LỜI CẢM ƠN
Trường Đại Học Nông Lâm với mục tiêu đào tạo được những kỹ sư
không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn phải thành thạo thực hành. Bởi vậy,
thực tập tốt nghiệp là một giai đoạn không thể thiếu để mỗi sinh viên có thể
vận dụng được những gì đã học và áp dụng vào thực tiễn, tích lũy được những
kinh nghiệm cần thiết sau này.
Được sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên
cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Trẩu
Bảng 4.2: Sắp xếp các chỉ số quan sát Hvn trong phân tích phương sai một
nhân tố ............................................................................................. 32
Bảng 4.3. Bảng phân tích phương sai một nhân tố của hỗn hợp ruột bầu tới
sinh trưởng chiều cao cây Trẩu ....................................................... 33
Bảng 4.4: Bảng sai dị từng cặp xi xj cho sinh trưởng về chiều cao vút ngọn
của cây Trẩu ..................................................................................... 34
Bảng 4.5: Kết quả sinh trưởng D 00 của cây Trẩu giai đoạn vườn ươm ở các
công thức thí nghiệm ....................................................................... 35
Bảng 4.6: Sắp xếp các chỉ số quan sát D00 trong phân tích phương sai một
nhân tố ............................................................................................. 37
Bảng 4.7: Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với hỗn hợp ruột bầu
tới sinh trưởngđường kính cổ rễ của cây Trẩu ................................ 38
Bảng 4.8: Bảng sai dị từng cặp xi xj cho sinh trưởng về đường kính cổ rễ
cây Trẩu ........................................................................................... 39
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh khối khô của cây Trẩu ở
các công thức thí nghiệm ................................................................. 40
Bảng 4.10: Dự tính tỷ lệ xuất vườn của cây Trẩu ở các CTNN ..................... 43
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm ............................................ 21
Hình 4.1: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng H vn của cây Trẩu ............................. 30
Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn sinh trưởng về đường kính cổ rễ (cm) của cây
Trẩu ở các công thức thí nghiệm ..................................................... 36
Hình 4.3: Biểu đồ biểu diễn sinh khối khô của cây Trẩu ở các công thức thí
nghiệm ............................................................................................. 41
Hình 4.4: Ảnh sinh khối khô của cây Trẩu ở các công thức thí nghiệm ........ 41
Hình 4.5: Biểu đồ tỷ lệ % cây tốt, trung bình, xấu của Trẩu .......................... 44
D oo
: Là đường kính gốc trung bình
Di
: Là giá trị đường kính gốc một cây
Hi
: Là giá trị chiều cao vút ngọn của một cây
N
: Là dung lượng mẫu điều tra
i
: Là thứ tự cây thứ i
cm
: xentimet
mm
: milimet
TB
hưởng của các công thức ruột bầu .................................................................. 30
4.2. Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng đường kính cổ rễ D 00 của cây Trẩu
giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm ......................................... 35
vii
4.3. Kết quả nghiên cứu về sinh khối khô của cây Trẩu ở các CTTN ................ 40
4.4. Dự tính tỷ lệ xuất vườn của cây Trẩu ở các công thức thí nghiệm.............. 42
PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ .................................... 47
5.1. Kết luận .................................................................................................... 47
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 49
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là nguồn tài nguyên tự nhiên vô cùng quý giá của con người, nếu
chúng ta biết khai thác và sử dụng, bảo vệ một cách hợp lý. Rừng không chỉ
cung cấp những các lâm đặc sản như: gỗ củi, tre, nứa, cây dược liệu, nấm,…
mà rừng còn là lá phổi xanh của nhân loại, điều hòa khí hậu, hấp thụ chất độc
hại như: CO2, SO2,…. làm sạch không khí, giảm tiếng ôn, cân bằng môi
trường sinh thái đem lại cuộc sống trong lành cho con người.
Rừng có vai trò rất lớn như vậy, nhưng trong những năm vừa qua diện
tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về chất lượng và số
lượng. Theo số liệu điều tra của viện điều tra quy hoạch rừng, Năm 1945 diện
tích rừng tự nhiên của nước ta là 14 triệu ha tương đương với độ che phủ là
43% đến năm 1990 diện tích rừng tự nhiên nước ta chỉ còn 9,175 triệu ha,
tương đương với độ che phủ là 27,2%. Nguyên nhân chủ yếu là do chiến
ruột bầu. Ruột bầu là nơi cung cấp chủ yếu dinh dưỡng cho cây cây con trong
giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn, tuy nhiên mỗi loài cây sẽ phù hợp với thành
phần ruột bầu khác nhau.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Trẩu
(Vernicia montana Lour) giai đoạn vườn ươm tại Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí trong gieo ươm, tạo
ra được cây con Trẩu đảm bảo số lượng và chất lượng cung cấp giống cho
công tác trồng rừng hiện nay.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
3
Xác định được công thức hỗn hợp ruột bầu ảnh hưởng tốt nhất tới sinh
trưởng của cây Trẩu về chiều cao (Hvn), đường kính cổ rễ (Doo), sinh khối ở
giai đoạn vườn ươm.
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản suất, biết áp dụng và kết
hợp giữa lý thuyết và thực hành.
+ Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc làm tự lập khi ra thực tế.
+ Các kết quả nghiên cứu là cơ sở nghiên cứu khoa học cho các nghiên
cứu tiếp theo về kỹ thuật gieo ươm cây Trẩu.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
+ Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất để tạo hỗn hợp ruột bầu
khi gieo ươm Trẩu.
+ Đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo giống cây con ở giai
đoạn vườn ươm đảm bảo có chất lượng tốt.
thể thống canh tác, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp sẽ nâng cao
hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản suất, bảo vệ
môi trường sinh thái bền vững.
5
Trong gieo ươm:
- Điều kiện đất đai:
Đất là hoàn cảnh để cây con sinh trưởng, phát triển sau này, cây con
sinh trưởng, phát triển tốt hay sấu là do đất cung cấp chất dinh dưỡng, nước
và không khí cho cây.
Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay
không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH… của đất quyết định.
+ Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ
giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước
tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm, sinh trưởng của cây con, dễ làm
đất và chăm sóc cây con hơn… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng
cần căn cứ vào đặc tính sinh học loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất thịt
trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm. Gieo ươm cây Thông ưa đất cát
pha, thoát nước tốt.
+ Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất
dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N, P, K, Mg, Ca và các chất vi
lượng khác… Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm
trên đất tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận rễ,
thân, cành, lá phát triển cân đối [11].
+ Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân
đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con. Đất quá khô
hoặc quá ẩm đều không tốt. Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên
quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho loại đất cát pha ở độ
sâu là 1,5 - 2m, đất sét là trên 2,5m.
lên trên mặt đất của cây (thân, lá, hoa quả ) cây trồng phát triển bình thường.
- Bón phân qua lá: (Lá, thân, cành, quả, cây) lượng phân hòa tan vào
nước ở một nồng độ cho phép. Phun ướt đẫm lá thân cây và quả, chất dinh
dưỡng được ngấm qua lá.
7
Ruột bầu: Là môi trường trực tiếp nuôi cây, thành phần ruột bầu gồm đất
và phân bón. Đất làm ruột bầu thường sử dụng loại đất có thành phần cơ giới
nhẹ hoặc trung bình, phân bón là phân hữu cơ đã ủ hoai mục (phân chuồng,
phân xanh), phân vi sinh và phân vô cơ. Tùy theo tính chất đất, đặc tính sinh
thái học của cây con mà tỷ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp [8].
Trong nhân giống các loài cây gỗ, theo Nguyễn Văn Sở, 2004[9], thành
phần hỗn hợp ruột bầu là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất
lớn đến sinh trưởng cây con trong vườn ươm. Hỗn hợp ruột bầu tốt phải đảm
bảo những điều kiện lý tính và hóa tính giúp cây sinh trưởng khoẻ mạnh và
nhanh. Một hỗn hợp ruột bầu nhẹ, thoáng khí, khả năng giữ nước cao nhưng
nghèo chất khoáng cũng không giúp cây phát triển tốt. Ngược lại, một hỗn
hợp ruột bầu chứa nhiều chất khoáng, nhưng cấu trúc đất nặng, khó thấm
nước và thoát nước cũng ảnh hưởng xấu đến cây con.
Thành phần hỗn hợp ruột bầu bao gồm đất, phân bón (hữu cơ, vô cơ) và
chất phụ gia để đảm bảo điều kiện lý hóa tính của ruột bầu. Đất được chọn làm
ruột bầu là đất tốt, có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt, thành phần cơ giới từ
cát pha đến thịt nhẹ, pH trung tính, không mang mầm mống sâu bệnh hại.
Theo Nguyễn Xuân Quát (1985)[8], để giúp cây con sinh trưởng và
phát triển tốt, vấn đề bổ sung thêm chất khoáng và cải thiện tính chất của ruột
bầu bằng cách bón phân là rất cần thiết. Trong giai đoạn vườn ươm, những
yếu tố được đặc biệt quan tâm là đạm, lân, kali và các chất phụ gia.
Đạm (N) là chất dinh dưỡng cần cho sinh trưởng và phát triển của cây
trồng. Mặc dù hàm lượng trong cây không cao, nhưng nitơ lại có vai trò quan
1985[15].
Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng cứng,
lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năng xuất
chất khô giảm. Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng đạm. Một vài
loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ. Ở
những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với
9
các vết nâu, cây tăng trưởng chậm. Khi thừa lân không thấy tác hại nghiêm
trọng như thừa nitơ.
Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá
trình đồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước, thúc đẩy quá trình
sử dụng đạm ở dạng NH4+, giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc, ít đổ ngã,
chống sâu bệnh, chịu hạn và rét . Do vậy, nếu thiếu kali, thì cây có biểu hiện
về hình thái rất rõ như lá hơi ngắn, phiến lá hẹp và có màu lục tối, sau chuyển
sang vàng, xuất hiện những chấm đỏ, lá bị khô (cháy) rồi rủ xuống. Các chất
phụ gia thường được sử dụng là xơ dừa, tro trấu…Chúng có tác dụng làm xốp
đất, giữ ẩm, thoáng khí…
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới
Phân bón lá đã được sử dụng từ lâu trên thế giới. Hàng năm trên thế
giới tiêu thụ khoảng 130 triệu tấn phân bón.
Mở đầu là nhà thực vật học Hà Lan - Van Helmont (1629) ông đã trồng
cây Liễu nặng 2.25kg vào thùng chứa 80kg đất. Một năm sau cây liễu nặng
66kg trong khi đất chỉ giảm 66g. Tác giả kết luận cây chỉ cần nước để sống.
Vào cuối thế kỷ XVIII đầi thế kỷ XIX thuyết mùn do thaer (1873) đề
xuất cho từng cây hấp thụ mùn để sống. Đến thế kỷ XIX nhà hóa học người
Đức Liibig (1840) đã sây dựng thuyết chất khoáng. Liibig cho rằng độ mầu
mỡ của đất là do muối khoáng trong đất. Ông nhấn mạnh rằng việc bón phân
hóa học cho cây sẽ làm tăng năng suất cây trồng. Năm 1963 Kinur và Chiber
giả cũng đã tập trung xem xét ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu[8].
Những nghiên cứu như thế cũng đã được Hoàng Công Đãng (2000)[4] thực
hiện với loài Bần chua ở giai đoạn vườn ươm
Nguyễn Thị Mừng (1997)[6], thành phần ruột bầu được cấu tạo từ 79%
đất + 18% phân chuồng + 0,5% N + 2% P + 0,5% K hoặc 80% đất + 15%
phân chuồng + 1% N + 3% P + 1% K sẽ đảm bảo cho cây Cẩm lai (Dalbergia
bariaensis Pierre) sinh trưởng tốt trong giai đoạn vườn ươm.
Khi nghiên cứu gieo ươm Dầu song nàng (Dipterrocarpus dyerii),
Nguyễn Tuấn Bình (2002)[2] cũng nhận thấy hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng
11
rất nhiều đến sinh trưởng của cây con. Theo tác giả, đất feralit đỏ vàng trên
phiến thạch sét và đất xám trên granit có tác dụng nâng cao sức sinh trưởng
của cây con Dầu song nàng. Hàm lượng phân super phốt phát (Long Thành)
thích hợp cho sinh trưởng của Dầu song nàng là 2% – 3%, còn phân NPK là
3% so với trọng lượng bầu.
Theo Nguyễn Văn Thêm và Phạm Thanh Hải (2004)[10], bón lót cho
Chiêu liêu nước (Terminalia calamansanai) trong giai đoạn 6 tháng tuổi ở
vườn ươm là việc làm cần thiết. Nếu bón lót phân tổng hợp NPK (16:16:8)
cho Chiêu liêu nước, thì hàm lượng thích hợp là 1% so với trọng lượng ruột
bầu. Tương tự, phân super photphat là 1%, còn phân hữu cơ hoai là 15% –
20% so với trọng lượng ruột bầu.
Theo Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006)[7], khi gieo ươm cây Huỷnh liên
(Tecoma stans (L.) H.B.K), hỗn hợp ruột bầu thích hợp bao gồm đất, phân
chuồng hoai, xơ dừa, tro, trấu theo tỷ lệ 90:5:2: 2,1 và 0,3% kali clorua, 0,5%
super lân và 0,1% vôi.
Cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn phân bón
lá có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất. Do trên mỗi lá có hàng triệu khí
khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng. Phân
tầng đất
(cm)
Mùn
N
P2O5
K2O
N
P2O5
K2O
PH
1 -10
1,766 0,024 0,241 0,035 3,64
4,56
0,90
3,5
10 - 30
Chi (genus) Vernicia
Loài (species): V. montana
Danh pháp hai phần: Vernicia montana LOUR.
Danh pháp đồng nghĩa: Aleurites montana; Aleurites vernicia;
Aleurites cordata
Cây trẩu lá xẻ: Vernicia montana Lour
Mô tả thực vật:
Cây Trẩu còn gọi là cây dầu sơn, ngô đồng, mộc đu thụ, thiên niên
đồng, bancoulier, abrasin, thuộc họ thầu dầu euphorbiaceae.
Trẩu là một cây to, cao có thể tới 8m hay nhiều hơn, thân nhẵn, lá đa
dạng, khi thì có thùy sâu, khi xẻ nông, khi thì nguyên và hình tim, mặt trên
bóng, màu sẫm, mặt dưới mờ, màu nhạt. Các lá đa dạng đều có một đặc điểm
chung: Ở gốc phiến lá và kẽ thùy bao giờ cũng có hai tuyến đỏ nổi rõ, cuống
lá dài 7-10cm. Hoa đơn tính, cùng gốc, có khi khác gốc. Tràng 5, màu trắng,
đốm tía ở móng tràng. Quả hình trứng, màu lục, đường kính 3-5cm, mặt ngoài
nhăn nheo, cấu tạo bởi 3 mảnh vỏ, mỗi mảnh có một đường gân nổi cao, 3 hạt
có 3 nội nhũ to chứa có lá xẻ thùy nhiều dầu. Mùa hoa tháng 4, thường ra hoa
trước khi lá non xuất hiện. Thường tháng 9 lại có 1 vụ hoa nữa. Quả của lứa
hoa trước chín vào khoảng tháng 10.
Cây trẩu mọc hoang và được trồng nhiều vùng từ cao đến thấp, miền
núi cũng như đồng bằng ở khắp nước ta. Trẩu ưa đất mát, thoát nước,trên có
dốc. Hầu hết các tỉnh đều có trẩu, miền Bắc như Ninh Bình, Nam Định, Hà
Nam, Hoà Bình, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ An, Hà
Tĩnh. Tại Hoa Nam - Trung Quốc trẩu mọc và được trồng ở các tỉnh Quảng
Đông, Quảng Tây. Tuy trẩu không đòi hỏi đất lắm nhưng những nơi nào đất
không có độ xốp vừa phải, đất không mát và không tốt thì cay trẩu kém phát
triển. Ở những đất thích hợp cây trẩu mọc rất nhanh, ra hoa ngay vào năm thứ 2
15
Vỏ quả có thể dùng làm than hoạt tính.
Gỗ màu trắng, mềm dễ bị mối mọt, nên có thể dùng làm bột giấy hoặc
làm củi đun. Những nghiên cứu gần đây của Đại học Lâm nghiệp cho biết, gỗ
trẩu có thể xử lý để sản xuất đồ mộc dạng ván ghép thanh.
Thâ ̣n tro ̣ng: Hạn sử dụng 03 năm kể từ ngày sản xuất
Bảo quản nơi khô ráo, tránh ánh nắng trực tiếp
Đựng trong thùng kín, tránh để gần lửa
Yêu cầu khí hậu, đất đai
Trẩu lá xẻ phân bố tự nhiên ở Việt Nam, Trung Quốc, Lào v.v… ở Việt Nam
phân bố ở vùng đồi, núi các tỉnh miền Trung và miền Bắc. Trẩu cũng đã được
nhân dân gây trồng lâu đời.
Phạm vi thích ứng với khí hậu của cây trẩu này rất rộng. Nhiệt độ thích hợp
nhất để trẩu sinh trưởng tốt, sản lượng quả cao là những nơi có nhiệt độ bình
quân hàng năm trên 20oC, ẩm độ không khí 85-90%, lượng mưa 1000-2000
mm. Trong mùa sinh trưởng từ tháng 4-7 cần lượng mưa tương đối nhiều, nếu
mưa ít thì sản lượng quả thấp.
Trẩu yêu cầu đất tốt, tầng đất dày, đất tơi xốp, thoát nước, nhưng đủ
ẩm, hơi chua (độ pH 5-6,5). Những nơi đất chua, kiềm, đất bị chặt, nhiều đá
lẫn hoặc sỏi sạn thì trẩu sinh trưởng không tốt.
Trẩu là cây ưa sáng mạnh, nên nơi đồi gò, trồng thưa, tán cây xòe rộng
thì trẩu kết quả nhiều. Nơi khe núi, chân núi do thiếu ánh sáng nên trẩu ra hoa
kết quả kém mặc dù cây vẫn có thể mọc tốt.
Kỹ thuật gây trồng
Cần chú ý đầu tiên đến khâu chọn giống. Khả năng ra hoa kết quả của
trẩu biến động rất lớn theo từng cá thể. Những cây ra hoa cái nhiều thường là
giữ được tính ổn định, người ta đã dùng cách ghép mắt của cây ra hoa cái
nhiều vào cây trẩu con mọc từ hạt rồi đem trồng thì sẽ đem lại kết quả cao.