NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐÊN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY SA MỘC DẦU - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------

LÊ KHẮC SƠN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HỖN HỢP RUỘT BẦU ĐẾN SINH
TRƯỞNG CỦA CÂY SA MỘC DẦU (Cunninghamia konishii Hayata)TẠI VƯỜN
ƯƠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạọ
Chuyên ngành
Khoa
Khóa

: Chính quy
: Quản lý tài nguyên rừng
: Lâm nghiệp
: 2011 – 2015

Thái nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------

LÊ KHẮC SƠN


toàn chịu trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày
XÁC NHẬN CỦA GVHD

Ths. Lương Thị Anh

tháng

năm 2015

Người viết cam đoan

Lê Khắc Sơn

`

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu
của Hội đồng chấm Khóa luận tốt nghiệp!


ii

LỜI CẢM ƠN
Cuối cùng bốn năm đại học cũng đã trôi qua, trong suốt khoảng thời
gian đó không chỉ tôi mà tất cả các bạn sinh viên đã được học tập và rèn
luyện, đã được trang bị đầy đủ những kiến thức cơ bản để chuẩn bị hành
trang bước vào cuộc sống, góp một phần sức lực nhỏ bé của mình vào xây
dựng đất nước. Nhưng những kiến thức trong thực tế còn rất hạn chế và
học phải đi đôi với hành, chính vì vậy mà giai đoạn thực tập tốt nghiệp là


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang


iv

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang


v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Hvn

Chiều cao cây
Đường kính cây

CTTN

Công thức thí nghiệm

OTC

Ô tiêu chuẩn

TB

loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam, có phân bố tự nhiên hiện còn sót lại ở
vùng núi cao thuộc các tỉnh phía bắc Việt Nam. Đây là loại cây gỗ lớn, gỗ
lá kim, thớ gỗ đẹp và đặc biệt là có chứa tinh dầu trong các thành phần của
cây, thường mọc trên các đỉnh núi đá có độ cao từ 500 – 1500m so với mặt
nước biển như Hà Giang, Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa. Loài này mang
nhiều ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn
hóa cảnh quan. Hiện nay vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng và
một số cá thể trưởng thành của loài bị giảm sút nghiêm trọng do nhiều
nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do khai thác gỗ vì mục đích thương mại và
xây dựng, làm hàng mỹ nghệ, điều kiện hoàn cảnh sống thay đổi, quần thể
bị chia cắt, khả năng tái sinh kém. Vì vậy, loài này đang đứng trước nguy
cơ tuyệt chủng. Cần phải có ngay biện pháp kịp thời để bảo tồn và hướng
tới phát triển nhân rộng loài cây gỗ quý, hiếm ở vùng núi đá vôi.
Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu
về khả năng sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm.Vì cây sa
mộc dầu là loài cây tái sinh bình thường nhưng sức sống của cây con và
mầm cây là rất yếu nên không đáp ứng được khâu gây trồng trong công tác


2

trồng rừng cần phải được đây mạnh tốc độ sinh trưởng giảm chi phí sản
xuất và rút ngắn được thời gian gieo ươm.
Trong sản xuất cây con từ hạt có nhiều yếu tố ảnh hưởng điến sinh
trưởng và phát triển của cây con trong giai đoạn vườn ươm,trong đó có hỗn
hợp ruột bầu.Ruột bầu là nơi cung cấp chủ yếu chất dinh dưỡng cho cây
trong giai đoạn nuôi dưỡng ở vườn ươm tuy nhiên mỗi loài cây phù hơp
với thành phần ruột bầu khác nhau,thực tế đã có những kết quả nghiên cứu
đầy đủ về tạo hỗn hợp ruột bầu và được áp dụng vào sản xuất cây con cho
nhiều loài cây sử dụng để trồng rừng trong cả nước nhưng cây Sa Mộc Dầu

của loài thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng trong tương lai gần là Sa mộc
dầu, cung cấp thông tin phục vụ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen
thực vật rừng qúy hiếm của Việt Nam.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
+ Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất để tạo hỗn hợp ruột bầu
với công khi gieo ươm cây Sa Mộc Dầu.
+ Đề xuất xây dựng những biện pháp chăm sóc tạo giống cây con ở
giai đoạn vườn ươm. Tạo cây con đảm bảo chất lượng tốt.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của thực vật nói
chung và Sa mộc dầu nói riêng. Nó không những có tác dụng làm cho cây
sinh truởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành
và phát triển của cơ thể thực vật.
Các loại phân hóa học được sử dụng chăm sóc cây con trong thời
gian ngắn. Bón phân cần kết hợp với các biện pháp lâm sinh. Nhổ cỏ,
tưới nước, phòng trừ sâu bệnh, phải thường xuyên phát huy tối đa hiệu
lực của phân bón.
Phân bón là chất dùng để cung cấp một trong nhiều chất cần thiết
cho cây. Phân bón có thể là một sản phẩm thiên nhiên hoặc được chế tạo
trong công nghiệp, trong cả hai trường hợp các nguyên tố dinh dưỡng đều
như nhau và tác động như nhau đối với sinh trưởng của cây.
Trong sản xuất nông lâm nghiệp: Đất là giá thể ,môi trường sinh
sống trực tiếp của bộ rễ và là nguồn cung cấp nước, cất dinh dưỡng cho
cây. Đất tốt cây da hoa kết quả sớm, sản lượng chất lượng quả, hạt cao, chu

cát pha ở độ sâu là 1,5-2m; đất sét là trên 2,5m.
Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước
ngầm cao hay thấp mà còn phải tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của
từng loài cây ươm.
+Độ pH của đất: Có ảnh hưởng tới tốc độ nảy mầm của hạt giống và
sinh trưởng của cây con,đa số các loài cây thích hợp với độ pH trung tính
cá biệt có loài ưa chua như cây Thông, ưa kiềm như Phi lao.


6

+ Sâu bênh hại:
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa
nhiều nên hầu hết các vườn ươm đều có nhiều sâu bênh hại, làm ảnh hưởng
đến sản lượng và chất lượng cây con tăng giá thành sản xuất cây con, thậm
chí có nơi còn dẫn tới thất bại hoàn toàn. Cho nên trước khi xây dựng vườn
ươm cần điều tra mức độ nhiễm sâu bệnh hại của đất để có biện pháp sử lý
đất trước khi gieo ươm hoặc không xây dựng vườn ươm ở những nơi bị
nhiễm sâu bệnh nặng.
Một trong nhiều phương pháp đang được sử dụng nhiều hiện nay là
nhân giống từ hạt. Để cây con phát triển tốt trong giai đoạn vườn ườm nhân
tố rất quan trọng tới sinh trưởng của cây đó là hỗn hợp ruột bầu.
- Ruột bầu:
Là môi trường trực tiếpnuôi cây, thành phần ruột bầu gồm đất và
phân bón. Đất làm ruột bầu thường sử dụng loại đất có thành phần cơ giới
nhẹ hoặc trung bình,phân bón là phân hữu cơ đã ủ hoai (phân chuồng,phân
xanh) phân vi sinh và phân vi sinh và phân vô cơ. Tùy theo tính chất đất,
đặc tính chất đất, đặc tính sinh thái học của cây con mà tỉ lệ pha trộn hỗn
hợp ruột bầu cho phù hợp.
Theo Nguyễn Văn Sở (2003), thành phần hỗn hợp ruột bầu là một

đến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm.
2.2.Những nghiên cứu trên thế giới
Từ lâu phân bón lá đã được sử dụng trên thế giới.Hàng năm trên thế
giới tiêu thụ khoảng 130 triệu tấn phân bón.Phân bón được phát hiện sớm
từ giữa thế kỹ XVII(1676) lúc mà ông E.Mariotte (người pháp ) đã tìm thấy
lá cây có thể hấp thụ nước từ bên ngoài. Nhưng phải đến thế kỷ XIX vào
thập niên 70-80, các nhà khoa học nhiều nước trên thế giới mới công nhận
phân bón giúp cho cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp
cây chống chịu được với hạn hán, sâu bệnh. Phân bón sinh học trở thành
phân bón phổ biến và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp.
Trên thế giới nhiều nhà khoa học cũng công nhận phân bón giúp cho
cây sinh trưởng phát triển nhanh hơn, phân bón còn giúp cây chống chịu
được với hạn hán, sâu bệnh. Phân bón sinh học trở thành phân bón phổ
biến và không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp.


8

Năm 1974 polster, Fidler và lir cũng đã kết luận: Sinh trưởng của cây
thân gỗ phụ thuộc vào sự hút các nhân tố khoáng trong đất trong suốt quá
trình sinh trưởng. Nhu cầu dinh dưỡng của mỗi cây thân gỗ ở mỗi thời kỳ
khác nhau là khác nhau.
Theo Thomas (1985) chất lượng cây con có quan hệ logic với tình
trạng chất khoáng. Nito và photpho cung cấp nguyên liệu cho sự sinh
trưỡng và phát triển của cây con. Tình trạng dinh dưỡng của cây con còn
thể hiện rõ qua mầu sắc lá.
Ở Mỹ, Canada, Braxin… những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương
pháp bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25tấn/ha. Do đó tính ưu
việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây
dưỡng chất phát huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt

hữu cơ, các tác giả thường sử dụng phân chuồng hoai (phân trâu, phân bò
và phân heo) với liều lượng từ 0 – 25% so với trọng lượng bầu. Một số
nghiên cứu cũng hướng vào xem xét phản ứng của cây gỗ non với nước.
Tuy vậy, đây là một vấn đề khó, bởi vì hiện nay còn thiếu những điều kiện
nghiên cứu cần thiết (Nguyễn Xuân Quát, 1985)[9].
Từ những năm 2000 trở về đây nước ta đẩy mạnh các công trình
nghiên cứu về kĩ thuật lâm sinh nhằm mang lại hiệu quả vốn rừng cùng các
chính sách hợp lý của nhà nước.
Luận án tiến sĩ về đề tài phương pháp nhân giống cây thân gỗ nhiệt
đới mới tại Đại học Sunshine Coast (USC - Úc) của Cao Đình Hùng. Ông
goị đó là những hạt nhân tạo “kiểu mới” và chúng có rất nhiều ưu điểm so
với những hạt “kiểu cũ”: Cho chất lượng gỗ tốt, sức tăng trưởng nhanh,
chịu được sâu bệnh và khí hậu lạnh.
Các chuyên gia thuộc Viện Ứng dụng công nghệ vừa nhân giống
thành công hai loài lan hài quý: Hài hằng (đặc hữu VN) và Hài tam đảo
(đặc hữu Đông Dương) bằng phương pháp gieo hạt trong ống nghiệm.


10

Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Tây Bắc xây dựng hướng
dẫn kỹ thuật gieo ươm từ khâu thu hái hạt giống, bảo quản hạt giống, xử lý
hạt giống, kỹ thuật gieo ươm và chăm sóc cây con.
Một vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu là thành phần
hỗn hợp ruột bầu. Theo Nguyễn Văn Sở (2004)[10], sự phát triển của cây
con phụ thuộc không chỉ vào tính chất di truyền của cây, mà còn vào môi
trường sinh trưởng của nó (tính chất lý hóa tính của ruột bầu). Tuy nhiên
không phải tất cả các loài cây đều cần một loại hỗn hợp như nhau, mà
chúng thay đổi tùy thuộc vào đặc tính sinh thái học của mỗi loài cây. Theo
Nguyễn Thị Mừng (1997), thành phần ruột bầu được cấu tạo từ 79% đất +

giống, bảo quản hạt giống và hàng loạt các nghiên cứu về cách thức xử lý ở
mỗi loại hạt giống khác nhau. Nghiên cứu tỷ lệ nảy mầm của mỗi loại hạt,
công thức phân phù hợp …
Mỗi loài cây đều có đặc tính sinh thái khác nhau, nên trong sản xuất
trồng cây, cũng như gieo ươm cần đòi hỏi đất đai, hỗn hợp ruột bầu không
như nhau. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy hỗn hợp ruột bầu khi gieo ươm
của một số loài cây như sau:
Thành phần ruột bầu gieo ươm cây Quế: 80% đất tầng A +20% phân
chuồng hoai.
Thành phần ruột gieo ươm Thông: gồm 80% đất tầng A + 20% phân
chuồng hoai, những nơi gần rừng Thông nên lấy đất ở rừng Thông và thêm
1% supe lân.
Thành phần ruột bầu gieo ươm Hồi: 80% đất tầng A (đất thịt) + 20%
phân chuồng hoai.
Thành phần ruột bầu gieo ươm Trám Trắng: 90% đất tầng A + 9%
phân chuồng hoai và 1% supe lân (tính theo trọng lượng bầu).
Hỗn hợp ruột bầu để gieo ươm cây Bằng Lăng là: 94% đất + 5% phân
chuồng 1% supe lân
Hỗn hợp ruột bầu gieo ươm cây Mỡ là: 85% đất +10% phân chuồng +
4% đất hun + 1% supe lân


12

Hiện nay có một số nghiên cứu mới: Đề tài tốt nghiệp của Hoàng Văn
Lịch Khóa 39 Lâm nghiệp[8] “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu
đến sinh trưởng của cây Keo Úc (Acacia mangium) tại vườn ươm Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Đề tài tốt nghiệp của Sầm Văn Hoàng
khóa 41 Lâm Nghiệp[6] “Nghiên cứu ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu đến
sinh trưởng của cây Sưa(dalbergia tonkinensis)tại vườn ươm Trường Đại

Thế giới: Sa mộc dầu phân bố ở phí nam Trung Quốc.
Ở Việt Nam: Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata)là loài cây
có sự phân bố rất hẹp. Đến nay, các nhà khoa học đã ghi nhận được Sa mu
dầu chỉ phân bố ở một số tỉnh của nước ta như Nghệ An, Thanh Hóa, Sơn
La. Và trồng ở nhiều tỉnh phía bắc như. Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang…
Tại Hà Giang, khi cơn sốt gỗ và tinh dầu Sa mộc dầu rộ lên cách đây
hơn 10 năm, việc khai thác trái phép đã đẩy loài này đến nguy cơ tuyệt
chủng. Năm 2012, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên phối hợp với
Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Hà Giang nghiên cứu đánh
giá tình trạng phân bố và bảo tồn của Sa mộc dầu tại Hà Giang. Kết quả
nghiên cứu cho thấy hiện nay Hà Giang chỉ còn khoảng 80-90 cây Sa mộc
dầu trưởng thành. Các khu vực có phân bố Sa mộc dầu tại Hà Giang chủ
yếu ở xã vùng cao núi đất của 3 huyện Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Quản
Bạ gồm: Xã Lao Chải, Xín Chải, Cao Bồ, Thượng Sơn, Nậm Ty, Bản Péo,
Tả Sủ Choóng, Túng Sán, Nậm Dịch, Hồ Thầu và Nam Sơn. Cụ thể tại
thôn Hóa Chéo Phìn xã Tả Sử Chóong (Hoàng Su Phì) còn 3 cây, trong đó
một cây to cao khoảng 40m, đường kính 70cm; một cây nhỏ hơn khoảng 30
tuổi, đường kính 40cm trong vườn nhà và một cây rất to nằm gần đỉnh Gió
Chéo Phìn trong rừng già thuộc quản lý của xã
Đặc điểm sinh thái:
Sa mộc dầu ưa khí hậu ôn hòa, ít tháng rét quá và cũng không có
tháng quá nóng, thích hợp ở nhiệt độ trung bình năm từ 16-190C.
Lượng mưa từ 1400-1900mm/năm, độ ẩm không khí của các tháng
trong năm phải trên 75%,vùng có nhiều sương mù và ánh sáng tán xạ. Sa
mộc dầu ưa đất sâu ẩm, thoát nước, độ PH >5, nhiều mùn, nói chung đất


14

còn tính chất đất rừng,Ưa đất phát triển trên đá mẹ phiến thạch có tầng dày


15

Vườn ươm khoa lâm nghiệp thuộc trung tâm thực nghiệm của trường
Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.Nằm ở khu vực chân đồi,hầu hết đất ở
đây là đất Feralit phát triển trên sa thạch. Do vườn ươm mới chuyển về
đây nên đất lấy để hoạt động đóng bầu gieo cây là đất tầng A ở đồi tương
đối tốt.Theo kết quả phân tích mẫu đất của trường thì chúng ta có thể
nhận thấy:
- Độ pH của đất thấp chứng tỏ đất ở đây chua
- Đất nghèo mùn,hàm lượng N, P205 ở mức thấp. Chứng tỏ đất nghèo
Bảng 2.1: Kết quả phân tích mẫu đất
Chỉ tiêu
Mùn
1-10

1.776

10-30

0.670

30-60

0.711

N
0.02
4
0.05

0.211

0.060

3.06

12

0.44

3.9

0.131

0.107

0.107

3.04

3.05

3.7

(Nguồn:Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL Thái Nhuyên)
*Đặc điểm khí hậu thủy văn
Theo số liệu quan trắc của Trạm khí tượng thủy văn Thái Nguyên cho
thấy Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp vùng núi phía Bắc - Trường Đại
học Nông Lâm Thái Nguyên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
thời tiết chia làm 4 mùa; Xuân - Ha - Thu - Đông, song chủ yếu là 2 mùa



17

PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là cây con Sa mộc dầu
được gieo từ hạt trong giai đoạn vườn ươm.
Phạm vi nghiên cứu :Ảnh hưởng hỗn hợp ruột bầu của 5 công thức
có tỷ lệ phân Lân và phân chuồng (với tỷ lệ 10% phân chuồng, 1% Lân,
2% Lân, 3%Lân, 4% Lân), đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu giai
đoạn vườn ươm.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
3.2.1. Địa điểm
Thí nghiệm được tiến hành tại vườn ươm Trường Đại Học Nông
Lâm Thái Nguyên.
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ 20/11/ 2014 -18/5/2015
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Tỷ lệ cây sống ở các công thức thí nghiệm (%).
- Ảnh hưởng của công thức ruột bầu đến sinh trưởng về chiều cao
(Hvn) của cây Sa mộc dầu ở các công thức thí nghiệm.
- Ảnh hưởng của công thức ruột bầu đến sinh trưởng về đường kính
(D00) của cây Sa mộc dầu ở các công thức thí nghiệm.
- Đánh giá khả năng xuất vườn của cây Sa mộc dầu ở các công thức
thì nghiệm.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status