1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của con người, nếu chúng ta biết
khai thác và sử dụng, bảo vệ một cách hợp lý. Rừng không chỉ cung cấp
những vật dụng thực phẩm lâm đặc sản như: thuốc men, gỗ củi, tre, nứa…mà
rừng còn là lá phổi xanh của nhân loại, điều hòa khí quyển, hấp thu chất độc
hại như: CO
2
, SO
2
và làm cân bằng môi trường sinh thái đem lại cuộc sống
trong lành cho con người và mọi sinh vật.
Trong những năm qua của thế kỷ 20, do nhiều nguyên nhân rừng nước
ta vẫn trong tình trạng suy giảm về chất lượng, diện tích rừng ngày càng bị
thu hẹp. Theo số liệu điều tra của viện điều tra quy hoạch rừng, Năm
1945diện tích rừng tự nhiên của nước ta là 14triệu ha tương đương với độ che
phủ là 43% đến năm 1990 diện tích rừng tự nhiên nước ta chỉ còn 9,175triệu
ha, tương đương với độ che phủ là 27,2% Nguyên nhân chủ yếu là do chiến
tranh, đốt nương làm rẫy, khai thác rừng bừa bãi.Từ khi chính phủ có chỉ thị
268/TTg (1996) cấm khai thác rừng tự nhiên nên tốc độ rừng phục hồi đã trở
nên khả quan hơn. Đến Năm 2003 tổng diện tích rừng của cả nước ta là
12triệu ha, với độ che phủ là 36,1%. Trong đó rừng tự nhiên chiếm 10triệu ha
và rừng trồng là 2triệu ha. Từ đó nó cũng dần dần cung cấp cho con người rất
nhiều sản phẩm, duy trì sự phát triển của động thực vật có giá trị kinh tế cao
đồng thời rừng còn là một trong những thế mạnh của khu vực miền núi trung
du. Rừng giữ vai trò to lớn đối với an ninh quốc phòng, có giá trị kinh tế quốc
dân. Rừng còn cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, là nguyên liệu
đồ da dụng, nó còn cung cấp những cây thuốc hiếm làm tăng tuổi thọ cho
nhân loại.
cây Bằng Lăng (Lagertroemia spciosa pers ) tại vườn ươm Trường Đại Học
Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Kết quả của đề tài giúp cho công tác gieo ươm, tạo ra cây con đủ số
lượng chất lượng cung cấp giống cho công tác trồng cây phong cảnh, đẹp
trong công viên đô thị hiện nay.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của cây Bằng Lăng về H
vn
,D
oo,
Lá ở
giai đoạn vườn ươm dưới tác động của công thức ruột bầu.
2
3
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu
-Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất biết áp dụng lý
thuyết vào thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân để áp dụng vào phát
triển sản xuất.
+ Các kết quả nghiên cứu là cơ sở nghiên cứu khoa học cho các nghiên
cứu tiếp theo và xây dựng quy trình kỹ thuật gieo ươm cây Bằng Lăng.
+ Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập nghiên cứu một
cách khoa học.
+ Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc làm tự lập khi ra thực tế.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
+ Kết quả nghiên cứu vận dụng vào sản xuất để tạo hỗn hợp ruột bầu
khi gieo ươm Bằng Lăng.
+ Thành công của đề tài sẽ có ý nghĩa quan trọng trong thực tế sản xuất,
qua đây ta tìm được công thức phân bón thích hợp cũng như tỷ lệ phân cho
và không khí cho cây có được đầy đủ hay không quyết định.
Chất dinh dưỡng, nước và không khí trong đất có đầy đủ cho cây hay
không chủ yếu là do: Thành phần cơ giới, độ ẩm, độ pH… của đất quyết định.
+ Thành phần cơ giới của đất: Đất vườn ươm nên chọn thành phần cơ
giới cát pha có kết cấu tơi xốp, thoáng khí, khả năng thấm nước và giữ nước
tốt, loại đất này thuận lợi cho hạt nảy mầm, sinh trưởng của cây con, dễ làm
đất và chăm sóc cây con hơn… Tuy nhiên chọn đất xây dựng vườn ươm cũng
cần căn cứ vào đặc tính sinh học loài cây, ví dụ: Gieo ươm cây Mỡ ưa đất thịt
trung bình, đất tơi xốp, thoáng khí và ẩm. Gieo ươm cây Thông ưa đất cát
pha, thoát nước tốt.
4
5
Không nên chọn đất sét chặt bí hoặc đất cát tơi rời, không thích hợp với
nhiều loài cây
+ Độ phì của đất: Đất có độ phì tốt là đất có hàm lượng cao các chất
dinh dưỡng khoáng chủ yếu cho cây như: N,P,K,Mg,Ca và các chất vi lượng
khác… Đồng thời tỷ lệ các chất phải cân đối và thích hợp. Gieo ươm trên đất
tốt cây con sinh trưởng càng nhanh, khỏe mập, các bộ phận rễ, thân, cành, lá
phát triển cân đối. Mặt khác cây con đem trồng rừng có tỷ lệ sống và sức đề
kháng cao với hoàn cảnh khắc nghiệt nơi trồng, giảm được công chăm sóc và
phòng trừ sâu bệnh hại… Vì vậy chọn đất vườn ươm cần có độ phì cao.
+ Độ ẩm của đất: Có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển cân
đối giữa các bộ phận dưới mặt đất và trên mặt đất của cây con. Đất quá khô
hoặc quá ẩm đều không tốt. Mực nước ngầm trong đất cao hay thấp có liên
quan đến độ ẩm của đất, mực nước ngầm thích hợp cho loại đất cát pha ở độ
sâu là 1,5 - 2m; Đất sét là trên 2,5m.
Chọn đất vườn ươm không nên chỉ dựa vào độ ẩm của đất, mực nước
ngầm cao hay thấp mà còn tùy thuộc vào đặc tính sinh vật học của từng loài
cây ươm. Ví dụ: Gieo ươm cây Phi lao nên chọn đất thường xuyên ẩm, song
gieo ươm cây Thông cần phải chọn đất nơi cao ráo, thoát nước.
giới nhẹ hoặc trung bình, phân bón là phân hữu cơ đã ủ hoai mục (phân
chuồng, phân xanh), phân vi sinh và phân vô cơ. Tùy theo tính chất đất, đặc tính
sinh thái học của cây con mà tỷ lệ pha trộn hỗn hợp ruột bầu cho phù hợp [5].
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới
Từ lâu phân bón lá đã được sử dụng trên thế giới. Hàng năm trên thế
giới tiêu thụ khoảng 130 triệu tấn phân bón. Phân bón được phát hiện sớm từ
giữa thế kỷ XVII (1676) lúc mà ông E. Mariotte (người Pháp) đã tìm thấy lá
cây có thể hấp thụ nước từ bên ngoài. Nhưng phải đến thế kỷ XIX vào thập kỷ
niên 70-80, các nhà khoa học nhiều nước trên thế giới mới công nhận phân
bón lá có hiệu quả cao hơn, nhanh hơn, kinh tế hơn và tránh được nạn chai
cứng đất và ô nhiễm môi trường bằng cách dùng Igionop phóng xạ trộn vào
phân bón phun qua lá. Sau nhiều lần làm thí nghiệm ở nhiều nơi, phân bón lá
được đánh giá có hiệu lực, tác dụng và hiệu quả kinh tế nhất. Năm 1916 ông
M. ÔJonhson (Mỹ) phun chất sunfat lên cây dứa có lá vàng làm cho cây này
có lá màu xanh trong vài tuần lễ.
Phân bón còn giúp cây chống chịu được với hạn hán, sâu bệnh. Việc
dùng phân bón lá còn có ưu điểm không làm chai cứng đất do phân bón lá sử
6
7
dụng chế phẩm sinh học được chú trọng đầu tư. Phân bón sinh học trở thành
phân bón phổ biến và không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp.
Ở Mỹ, Canada, Braxin,…những cánh đồng rau nhờ áp dụng phương
pháp bón phân đã tăng năng xuất từ 6,5 tấn/ha lên 25 tấn/ha. Do đó tính ưu
việt của chế phẩm sinh học có khả năng nhanh chóng cung cấp cho cây dưỡng
chất phát huy hiệu lực phân đa lượng giữ cân bằng sinh thái và đạt hiệu quả
cao. Nên trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển việc nghiên cứu, sử dụng
các chế phẩm sinh học rất được chú trọng đầu tư. Phân bón sinh học trở thành
loại phân phổ biến và không thể thiếu được trong sản xuất, nông lâm nghiệp
hiện đại [6].
Việc bón phân có tác dụng tích cực đó là:
nhiều loại cây trồng như: NPK Lâm Thao, đạm Hà Bắc… khi chúng ta sử
dụng phân bón vào sản xuất nông nghiệp đã thu được nhiều kết quả khả quan.
Cây cối tiếp nhận được 95% phân bón và được đánh giá là 1 tấn phân
bón lá có hiệu suất bằng 20 tấn phân bón vào đất. Do trên mỗi lá có hàng triệu
khí khổng có khả năng hấp thụ ánh sáng, không khí, nước và chất khoáng.
Phân được xâm nhập trực tiếp, di chuyển nhanh chóng trong cây nên đáp ứng
được yêu cầu cần thiết nhu cầu dinh dưỡng của cây trong thời gian ngắn, giúp
cây sinh trưởng tốt cho năng suất và chất lượng cao [8].
Mỗi loài cây đều có đặc tính sinh thái khác nhau, nên trong sản xuất
trồng cây, cũng như gieo ươm cần đòi hỏi đất đai, hỗn hợp ruột bầu không
như nhau. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy hỗn hợp ruột bầu khi gieo ươm
của một số loài cây như sau:
Thành phần ruột bầu gieo ươm cây Quế: 80% đất tầng A +20% phân
chuồng hoai.
Thành phần ruột gieo ươm Thông: gồm 80% đất tầng A + 20% phân
chuồng hoai, những nơi gần rừng Thông nên lấy đất ở rừng Thông và thêm
1% supe lân.
Thành phần ruột bầu gieo ươm Hồi: 80% đất tầng A (đất thịt) + 20%
phân chuồng hoai.
Thành phần ruột bầu gieo ươm Trám Trắng: 90% đất tầng A + 9% phân
chuồng hoai và 1% supe lân (tính theo trọng lượng bầu).
Hỗn hợp ruột bầu để gieo ươm cây Bằng Lăng là: 94% đất + 5% phân
chuồng 1% supe lân
Hỗn hợp ruột bầu gieo ươm cây Mỡ là: 85% đất +10% phân chuồng +
4% đất hun + 1% supe lân [8]
8
9
2.4. Tổng quan khu vực nghiên cứu
*Vị trí địa lý
- Thí nghiệm đề tài được tiến hành tại vườn ươm trường Đại Học Nông
O
5
K
2
O N P
2
O
5
K
2
O PH
1 -10 1.766 0.024 0.241 0.035 3.64 4.56 0.90 3.5
10 – 30 0.670 0.058 0.211 0.060 3.06 0.12 0.12 3.9
30 – 60 0.711 0.034 0.131 0.107 0.107 3.04 3.04 3.7
(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL Thái Nguyên)
9
10
* Đặc điểm khí hậu thủy văn
Do vườn ươm nằm trong khu vực của thành phố Thái Nguyên nên nó
mang đầy đủ tính chất chung của khí hậu thành phố. Qua tham khảo số liệu
của đài khí tượng thủy văn Gia Bảy Thành Phố Thái Nguyên ta có thể thấy
diễn biến thời tiết của khí hậu trong vùng trong thời gian nghiên cứu như sau:
Bảng 2.2: Một số yếu tố khí hậu từ tháng 1 đến tháng 5
năm 2011 tại Tỉnh Thái Nguyên
Tháng
Nhiệt độ trung
bình (°C)
Ẩm độ không khí
Không khí (%)
Lượng mưa
nhạt pha xanh lục mềm, lúc già có đường kính từ 1,5 đến 2cm, quả chín vào tháng
12 đến tháng 3 năm sau, quả khô trên cây tự nứt để hạt tung ra ngoài.
Là cây sinh trưởng nhanh, đặc biệt là ở tuổi 2 sang tuổi 3 cây phát triển
nhanh trung bình phù hợp với cây ưa sáng, ưa khí hậu ẩm, đất mùn thoát nước
tốt. cần được bảo vệ trước gió lớn vì có thể làm ảnh hưởng đến cây và làm nát
hoa [13].
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Thu hái hạt giống; Phương pháp kích
thích hạt cây Bằng lăng nẩy mầm bằng nước có nhiệt độ (35-40
0
C). Ảnh
hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu (phân vi sinh, NPK).
11
12
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Thực hiện kỹ thuật gieo ươm cây Bằng Lăng từ hạt.
- Ảnh hưởng của công thức ruột bầu đến sinh trưởng về chiều cao (H
vn
)
của cây Bằng Lăng ở các công thức thí nghiệm.
- Ảnh hưởng của công thức ruột bầu đến sinh trưởng về đường kính
(D
oo
) của cây Bằng Lăng ở các công thức thí nghiệm.
- Ảnh hưởng của công thức ruột bầu đến sinh trưởng về Lá của cây
Bằng Lăng ở các công thức thí nghiệm.
- Ảnh hưởng của công thức ruột bầu đến tỷ lệ cây xuất vườn.
3.3. Địa điểm và thời gian tiến hành
3.3.1. Địa điểm
Vườn ươm Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.
3.3.2. Thời gian nghiên cứu
Công thức I: Không có phân ( công thức đối chứng)
Công thức II: Tỷ lệ 98% đất + 2% NPK
Công thức III: Tỷ lệ 88% đất+2% NPK + 10% phân vi sinh
Công thức IV: Tỷ lệ 78% đất +2% NPK + 20% phân vi sinh
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm
Số lần nhắc lại Công thức thí nghiệm
1 CT1 CT2 CT3 CT4
2 CT2 CT3 CT1 CT4
3 CT3 CT1 CT2 CT4
Sau khi tra hạt vào bầu, hàng ngày tưới nước cho ẩm và sau khi cây
mọc thì bắt đầu tiến hành làm cỏ phá váng.
Bước 3: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu
Cứ 1 tháng theo dõi sinh trưởng 1 lần kết quả theo dõi được ghi vào
mẫu bảng theo dõi sinh trưởng
Thời gian theo dõi sinh trưởng được tiến hành vào cuối đợt thí nghiệm.
Trong mỗi ô tiêu chuẩn theo dõi 30 cây được đánh số từ 1 đến 30
Cách đo: Đo theo phương pháp đường chéo góc, lấy 5 điểm đại diện
cho mỗi OTC, 4 điểm ở 4 góc và điểm ở giữa mỗi điểm lấy 5 cây.
Đo cao: Sử dụng thước đo chiều cao và độ chính xác là ± 0,1cm. Đặt
thước sát miệng đến hết ngọn cây
Đo đường kính cổ rễ (D
oo
): dùng thước dây đo chu vi rồi tính D
00
Lá đếm số lá theo phương pháp đường chéo góc, lấy 5 điểm đại diện
cho mỗi OTC, 4 điểm ở 4 góc và điểm ở giữa mỗi điểm lấy 5 cây.
13
14
• Chỉ số đo được ghi vào mẫu bảng sau:
và tính theo công thức sau:
P% =
ni
N
x 100%
Trong đó:
ni: Là số cây xếp cùng 1 hàng (cây tốt, trung bình, xấu).
N: Là tổng số cây điều tra
Sau đó tổng hợp vào mấu bảng 3.4, tính toán các kết quả theo công
thức và sử dụng phương pháp phân tích phương sai một nhân tố (PTPSMNT)
để kiểm tra (Ngô Kim Khôi, 1967) [7].
Bảng 3.3: Tổng quan quá trính sinh trưởng của cây Bằng Lăng trong
vườn ươm dưới ảnh hưởng của các công thức ruột bầu
Lần
đo
CTTN
0
H
vn
(cm)
D
00
(mm)
Chất lượng cây
Ghi
chú
Tốt Trung bình Xấu
1
2
1
1
1
)(
∑
=
−
−
n
i
n
XXifi
2
1
1
1
( )
n
n
i
fi Xi X
−
=
+ −
∑
(3-2)
Trong đó:
- S : là sai tiêu chuẩn
- fi : là tần số lặp lại của các chỉ số quan sát
là trị số bình quân gia quyền
Kết quả được tính từ các ô tiêu chuẩn (ÔTC), sau đó tính bình quân cho
cả công thức ở mỗi lần đo. Kết quả tính các giá trị số ghi vào bảng 3.4
Bảng 3.4: Tổng hợp kêt quả
H
vn
và đặc trưng mẫu
Lần nhắc lại CTTN
H
vn
(cm)
S
S
0
0
1
2
3
Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả
D
00
và các đặc trưng mẫu
Lần đo CTTN
D
00
(mm)
S
S
0
0
Từ số liệu trên tôi tiến hành phân tích, kiểm tra và đặt giả thiết
H
0
: I = II = III = IV. Để tiến hành kiểm tra giả thiết áp dụng công thức
• Tính tổng bình phương ly sai của toàn thí nghiệm:
V
T
=
∑
=
a
i 1
2
1
)(
∑
=
−
b
j
Xxij
=
∑
=
a
i 1
−
∑
=
b
E
V
=
V
T
-
A
V
(3-6)
• Tính phương sai theo công thức
1
2
−
=
a
V
A
A
S
(3-7)
16
17
Tính phương sai đo ngẫu nhiên
2
( 1)
E
E
V
a b
S
tính
F
<
05
F
giả thiết
0
H
được chấp nhận các tỷ lệ hỗn hợp ruột
bầu ảnh hưởng đồng điều lên kết quả thí nghiệm
05
F
là giá trị hàm phân bố
Trường hợp
tính
F
>
05
F
nghĩa là các công thức hỗn hợp ruột bầu ảnh
hưởng không đồng điều đến kết quả thí nghiệm. Trong đó chắc chẵn có một
công thức thí nghiệm có tác động trội hơn so với các công thức còn lại. Để
tìm công thức có ảnh hưởng trội hơn ta có thể dựa vào việc so sánh 2 chỉ số
trung bình lớn thứ nhất
1max
X
và
2max
X
theo chỉ tiêu student với giả thuyết
n a
=
−
là sai tiêu chuẩn ngẫu nhiên
n
i
và n
j
là dung lượng ứng với mỗi công thức thí nghiệm có số trung
17
18
bình lớn thứ nhất và thứ hai.
Nếu
tính
F
<
05
F
tra bảng với k = n – a bậc tự do thì giả thuyết
0
H
được
chấp nhận, sai dị giữa hai số trung bình lớn thứ nhất và thứ hai (
1max
X
và
2max
X
)làm công thức có ảnh hưởng lớn nhất.
Nếu
- Vỏ bầu bằng Polyetylen kích thích 7 x 11cm có đáy đục lỗ hai bên.
- Thành phần hỗn hợp ruột bầu:
+ Công thức I: Không có phân (công thức đối chứng).
+ Công thức II: Tỷ lệ 98% đất + 2% NPK.
+ Công thức III: Tỷ lệ 88% đất + 2% NPK + 10% phân vi sinh.
+ Công thức IV: Tỷ lệ 78% đất + 2% NPK + 20% phân vi sinh.
Đất ruột bầu được đập nhỏ, sàng loại bỏ rễ cây, sỏi đá, tạp vật rồi trộn
đều với phân vi sinh và phân NPK theo các công thức trên.
- Tạo luống đặt bầu:
Luống rộng 1m, dài 10m, rãnh luống rộng 0,6m mặt luống được rẫy
sạch cỏ dại, san phẳng, nền đặt bầu là nền đất cố định (chặt).
- Đóng và xếp bầu:
Trộn đều hỗn hợp ruột bầu theo tỷ lệ từng công thức, hỗn hợp ruột bầu
đủ ẩm. Cho đất vào 1/3 bầu lèn chặt để tạo đáy bầu, tiếp tục cho đất vào đầy
bầu, dỗ cho đất xuống đều. Bầu được xếp sát nhau trên luống.
Vun đất xung quanh bầu cao 2/3 thân bầu xung quanh luống để để giữ
bầu không bị nghiêng ngả, giữ ẩm cho luống cây.
* Xử lý kích thích hạt
Ngâm hạt đã loại bỏ tạp vật, hạt lép trong nước ấm 45ºC và để nguội
dần 8 tiếng, sau đó vớt ra, để ráo nước, ủ trong túi vải. Hàng ngày rửa chua
bằng nước sạch đến khi nứt nanh thì đem gieo.
Gieo hạt ra luống đất:
Sau khi gieo hạt xong tôi đã dùng cây tế guột (đã được phun benlate để
phòng nấm) che phủ cho luống gieo hạt, với mục đích giữ ẩm và tránh bề mặt
luống gieo hạt bị đóng váng.
Sau 5-7 ngày cây mầm nhú lên khỏi mặt đất tôi dỡ vật che phủ, trong
quá trình này luôn tưới nước đủ ẩm và giữ ẩm thường xuyên cho luống cây.
19
20
Cấy cây vào bầu:
vn
(cm)
I 3.16
II 3.65
III 6.61
IV 4.8
20
21
Hình 4.1: Biểu đồ biểu diễn quá trình sinh trưởng chiều cao H
vn
của cây
Bằng Lăng ở các công thức thí nghiệm
Để khẳng định các công thức hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rõ rệt đến
sinh trưởng của cây Bằng Lăng hay không tôi dùng phương pháp PTPSMNT
để kiểm tra với giả thuyết H
0
: I = II = III =IV. Tôi tiến hành phân tích phương
sai một nhân tố cho chiều cao ở lần đo cuối được trình bày ở bảng sau:
Mẫu bảng 4.2: Sắp xếp các chỉ số quan sát
vn
H
trong phân tích
phương sai một nhân tố
Lần nhắc lại
CTTN
vn
H
(cm) ở các lần nhắc lại Tổng theo
công thức
(Si)
Within Groups 0.910133 8 0.113767
Total 22.00847 11
Tính tổng bình phương ly sai của toàn thí nghiệm
V
T
=
∑
=
a
i 1
2
1
)(
∑
=
−
b
j
Xxij
=
∑
=
a
i 1
−
∑
=
b
j
ij
+ 5.33
2
) -
34
68.54
2
×
= 21.1
• Tính bình phương ly sai theo công thức
A
V
=
ba
S
Si
b
n
i
.
1
2
1
2
−
∑
=
=
3
1
(9.49
=
a
V
A
A
S
=
14
01.22
−
= 7.34
Tính phương sai đo ngẫu nhiên
)1(
2
−
=
ba
V
E
E
S
=
)13(4
91.0
−
= 0.11
Tính trị số (
F
T
) thực nghiệm
aK
baK
Tra bảng ta được
05,0
F
= 4,07
Ta thấy
T
F
= 66.73 >
05,0
F
= 4,07 các công thức hỗn hợp ruột bầu có
ảnh hưởng rõ rệt đến chiều cao của cây Bằng Lăng trong giai đoạn vườn ươm.
Để tìm ra công thức hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng trội nhất ta so sánh
2 trị số trung bình lớn thứ nhất
1max
X
và lớn thứ
2max
X
của tiêu chuẩn student
(T) với giả thuyết
0
H
đặt ra là:
0
H
:
i
tra bảng với k = n-a bậc tự do thì giả thuyết
0
H
được chấp nhận, sai dị giữa 2 trị số trung bình lớn thứ nhất và lớn thứ hai là
không rõ, vì thế có thể chọn công thức thí nghiệm có trị số trung bình lớn nhất
1max
X
hoặc
2max
X
làm công thức có ảnh hưởng lớn nhất.
• Ta kiểm tra như sau:
tính
T
=
ji
nn
S
XX
11
''
2max1max
+
−
23
24
Trong đó:
1max
X
=6.61
H
bị bác bỏ, công thức
thí nghiệm III có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng về chiều cao
vn
H
của cây
Bằng Lăng trong giai đoạn vườn ươm.
4.3. Kết quả nghiên cứu về sinh trưởng của đường kính cổ rễ
D
00
ở lần
đo cuối
Kết quả nghiên cứu sinh trưởng về đường kính bình quân của cây Bằng Lăng
trong giai đoạn vườn ươm ở các công thức thí nghiệm.
Bảng 4.3: Kết quả theo dõi quá trình sinh trưởng
D
00
ở lần đo cuối
CTTN
D
00
(mm)
I 1,81
II 1,84
III 2,2
IV 5,57
Qua bảng 4.4 Cho thấy:
- Đường kính
D
00
của các
công thức thí nghiệm và được xếp theo thứ tự như sau: I < II < IV < III.
Hình 4.2: Biểu đồ biểu diễn quá trình sinh trưởng chiều cao H
vn
của cây
Bằng Lăng ở các công thức thí nghiệm
Để khẳng định các công thức hỗn hợp ruột bầu có ảnh hưởng rõ rệt
đến sinh trưởng về đường kính tôi dùng phương pháp PTPSMNT để kiểm
tra giả thuyết H
0
: I = II = III =IV
Mẫu bảng 4.4: Sắp xếp các chỉ số quan sát D
00
trong phân tích
phương sai một nhân tố
Lần nhắc lại
CTTN
Doo ở các lần nhắc lại Tổng theo
công thức
(Si)
TB theo
công thức (
Xi
)
1 2 3
I 1.70 1.89 1.84 5.43 1.81
II 1.87 1.70 1.96 5.53 1.84
III 2.05 2.31 2.24 6.6 2.2
IV 1.96 1.82 1.79 5.57 1.86
∑ 23.13
∑
=
a
i 1
−
∑
=
b
j
ij
x
1
2
ba
s
.
2
=(1.70
2
+ 1.89
2
+ 1.84
2
+1.87
2
+1.70
2
+ 1.96
2