BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐẶNG THÁI BÌNH
KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THA HÓA VỀ ĐẠO ĐỨC
CỦA MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 92 29 001
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS.Trần Phúc Thăng
HÀ NỘI – 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Luận án này được GS.TS. Trần Phúc Thăng hướng dẫn. Các số liệu,
kết quả sử dụng trong luận án là trung thực. Các kết luận của luận án
chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Đặng Thái Bình
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án ............................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án ............................................................ 3
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án ............................................... 3
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án ...................................................................... 3
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án ..................................................................... 4
7. Kết cấu luận án ............................................................................................................ 4
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN ........................................... 5
1.1. Những công trình liên quan đến vấn đề lý luận về khắc phục tình trạng tha hóa và
tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay ......... 5
1.1.1. Lý luận về đạo đức ............................................................................................ 5
1.1.2. Lý luận về tha hóa ............................................................................................. 9
1.2. Những công trình liên quan đến thực trạng và nguyên nhân việc khắc phục
tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt
Nam hiện nay ................................................................................................................. 14
1.3. Những công trình liên quan đến quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả việc
khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức ở một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở
Việt Nam........................................................................................................................ 16
1.4. Những vấn đề đặt ra trong tổng quan tình hình nghiên cứu luận án ...................... 21
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG
THA HÓA VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,
QUẢN LÝ ..................................................................................................................... 22
1.1. Quan niệm tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý
ở Việt Nam hiện nay .................................................................................................... 22
1.1.1. Một số điểm đặc thù của đạo đức người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước
ta hiện nay ................................................................................................................. 22
1.1.2. Những biểu hiện tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo,
quản lý ở Việt Nam hiện nay ................................................................................... 33
với hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện. ................................................................... 99
Tiểu kết chương ............................................................................................................ 2
Chương 3: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ VIỆC KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG THA HÓA VỀ ĐẠO ĐỨC
CỦA MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY ................................................................................................................. 104
3.1. Quan điểm nhằm nâng cao hiệu quả việc khắc phục tình trạng tha hóa về
đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ............................................... 104
3.1.1. Việc khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh
đạo, quản lý ở nước ta hiện nay là một là cuộc chiến đầy gian nan và thử thách........ 104
3.1.2. Khắc phục tình trạng tha hóa đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo,
quản lý đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ các biện pháp, từ hình thức giáo dục phê
bình, tố giác đến xử lý hình sự ................................................................................ 106
3.1.3. Khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức ở cán bộ lãnh đạo. quản lý cần
sử dụng, huy động tổng hợp các lực lượng của toàn hệ thống chính trị dưới sự
lãnh đạo của Đảng ................................................................................................... 111
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc khắc phục tình trạng tha hóa về
đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay ............................................................................................................. 113
3.2.1. Nâng cao sức chiến đấu của Đảng, đổi mới công tác giáo dục đạo đức cho
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý............................................................................. 113
3.2.2. Kiện toàn hệ thống pháp luật, nâng cao vai trò quản lý của nhà nước ......... 122
3.2.3. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ, lãng phí trong toàn
xã hội xem đó là mục tiêu trọng yếu ở nước ta hiện nay ........................................ 134
3.2.4. Khắc phục hiện tượng lạm quyền, lộng quyền và tình trạng tha hóa về đạo
đức trong công tác cán bộ ....................................................................................... 135
3.2.5. Đẩy mạnh dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội, phát huy vai trò của
các tổ chức chính trị xã hội và quần chúng nhân dân ............................................. 139
biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” của cán bộ, Đảng viên trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý. Các Nghị
quyết trên đều đã đi vào cuộc sống và có tác dụng không nhỏ.
Tuy nhiên, việc khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức cán bộ vẫn còn tồn
tại những hạn chế nhất định. Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp
bách về xây dựng Đảng hiện nay” thẳng thắn đánh giá về công tác khắc phục tình
trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ chưa đạt yêu cầu như mong muốn.
“Bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu
kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài nhiều nhiệm kỳ chậm được
khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa
chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ...
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí
lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
2
đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ
nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị,
cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”[34, tr. 21-22]; việc khắc
phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa
đạt kết quả như mong đợi. “Tình trạng suy thoái về chính trị đạo đức, lối sống của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn
diễn biến phức tạp hơn” [37, tr. 44], thậm chí có mặt nghiêm trọng, có khuyết điểm,
yếu kém phải sửa chữa cấp bách nhưng vẫn chưa được khắc phục, có mặt còn gây
băn khoăn, lo lắng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý nếu
không được khắc phục sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy, có thể làm suy yếu Đảng, suy yếu
chính quyền, làm mất niềm tin của nhân dân, thậm chí có thể liên quan đến sự tồn
vong của đất nước.
biệt từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ trương đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về đạo
đức con người, đạo đức cán bộ, về xây dựng đạo đức đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Ngoài ra, luận án có tham khảo các kết quả của những công trình nghiên cứu đã
được công bố có liên quan đến nội dung của luận án.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp “duy vật biện chứng” và phương pháp duy
vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –Lênin.
Luận án cũng sử dụng một số phương pháp cụ thể, trong đó chủ yếu là
phương pháp lịch sử - lôgíc, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Góp phần làm rõ quan niệm tha hóa về đạo đức và khắc phục tình trạng tha
hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam.
- Góp phần làm rõ yêu cầu cấp thiết của việc khắc phục tình trạng tha hóa về
đạo đức ở một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý, đồng thời chỉ ra thực trạng,
nguyên nhân của thực trạng việc khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một
bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
4
- Luận giải một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
việc khắc phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản
lý ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận, luận án góp phần làm rõ những biểu hiện của tình trạng tha hóa
ích cá nhân và đạo đức xã hội trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”.
Tác giả đánh giá thành tựu của 15 năm đổi mới. Tuy nhiên bên cạnh những
thành công về mặt kinh tế là sự xuống cấp về đạo đức. Điều đó có liên quan đến mặt
trái của cơ chế thị trường. Theo tác giả, mặt trái của cơ chế thị trường tác động
tiêu cực tới các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có đạo đức.
Tác giả chỉ ra hai khuynh hướng với hai quan niệm khác nhau về đạo đức:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: nguyên nhân dẫn đến “sự xuống cấp về đạo đức
xã hội bắt nguồn từ việc khuyến khích lợi ích cá nhân của người lao động, rằng lợi
ích cá nhân và đạo đức xã hội là hai yếu tố hoàn toàn không dung hợp với nhau”
[40]. Phê phán quan niệm này, tác giả khẳng định: “Vì, sự sống còn của bản thân
mình, con người có nhu cầu chung phải liên kết với nhau. Bản thân những nhu cầu
chung này là cơ sở nảy sinh những lợi ích chung giữa họ. Song, ngoài những lợi ích
chung đó, mỗi con người lại có những lợi ích riêng nảy sinh trên cơ sở của các nhu
cầu được hình thành từ những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể” [40]. Điều này cho thấy
giữa lợi ích chung và lợi ích riêng có sự thống nhất với nhau, từ đó dẫn đến xem xét
đạo đức cũng dựa trên mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng.
Quan điểm thứ hai cho rằng: “cơ chế thị trường là môi trường thuận lợi để
phát huy vai trò chủ thể cá nhân, là cơ chế tốt cho nhân cách phát triển trong điều
kiện hiện nay”[40]. Điều này cũng chỉ đúng ở khía cạnh nhất định. Tuy nhiên,
chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận cạnh tranh, từ chỗ cạnh tranh đánh vào
lợi ích của con người mà lợi ích của con người cũng có hai mặt, lợi ích chính đáng
và lợi ích không chính đáng. Khi nào con người biết điều chỉnh hài hòa giữa lợi
6
ích cá nhân với lợi ích cộng đồng thì con người sẽ điều chỉnh được lợi ích chính
đáng. Khi điều chỉnh được lợi ích chính đáng thì “không những tạo ra những sản
phẩm thoả mãn các nhu cầu cá nhân của mình, góp phần làm giàu cho bản thân,
mà còn góp phần xoá đói, giảm nghèo, làm giàu cho xã hội” và “đến lượt nó, sự
về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; thiếu tinh thần trách nhiệm trước nhiệm vụ
được giao; không chịu học tập, lười rèn luyện, không dám đương đầu với khó khăn,
gian khổ; quan liêu, tham nhũng, lãng phí…”Chính họ là một lực cản của tiến bộ xã
hội; là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm giảm
7
hiệu lực quản lý của Nhà nước, làm vẩn đục đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ
Chí Minh, điều mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang dày công vun đắp”[13].
Những tệ nạn này đã gây bức xúc cho toàn xã hội.
Từ phân tích thực trạng, tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm rèn luyện
đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Theo tác giả, người cán bộ muốn tu
dưỡng được đạo đức cách mạng thì cần phải thực hiện những quan điểm sau:
Thứ nhất, mọi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh
về đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” sâu sắc hơn nữa .
Thứ hai, muốn việc giáo dục đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư” tốt hơn thì phải khôi phục và đẩy mạnh phong trào thi đua “Người tốt,
việc tốt”, thực hiện nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức trong cán bộ, đảng
viên.
Thứ ba, phương pháp giáo dục đạo đức cách mạng là phải kết hợp chặt chẽ
giữa “xây và chống”. “Xây dựng ý thức và thói quen hành vi đạo đức cho cán bộ,
đảng viên không đơn thuần chỉ là quá trình tuyên truyền, giáo dục về các giá trị,
chuẩn mực đạo đức cách mạng, mà còn là quá trình đấu tranh, khắc phục, loại bỏ
dần thói hư, tật xấu của con người” [13].
Từ những phân tích trên tác giả đi đến kết luận: mỗi cán bộ, đảng viên, cho
đến người dân, ai cũng phải có ý thức tự tu dưỡng đạo đức cách mạng. Việc tu
dưỡng đạo đức cách mạng là việc làm thường xuyên, suốt đời. Trên cơ sở bài viết,
tác giả luận án nhận thấy đây là bài viết có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn sâu
sắc, đặc biệt tác giả bài viết chỉ ra không nhất thiết khó khăn, gian khổ mà con
hội”[132]. Trên cơ cơ bài viết, tác giả luận án nhận thấy đây là bài viết rất sâu sắc,
đặc biệt việc phân tích giá trị đạo đức có tính lịch sử và sự phân biệt giá trị đạo đức ở
thiện ác, tốt xấu, lương tâm, trách nhiệm, đây cũng là cơ sở tác giả luận án kế thừa để
triển khai phần lý luận của mình.
Viết về lĩnh vực đạo đức, tác giả Mai Xuân Hợi (2014) có bài: “Giá trị đạo
đức và sự biểu hiện của nó trong đời sống xã hội” [55]. Trong bài viết, tác giả bàn
về đạo đức và giá trị của nó trong đời sống xã hội ở những phương diện sau:.
Thứ nhất, tác giả bàn về giá trị đạo đức: theo tác giả, giá trị đạo đức là cái mà
do nó đã làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể,
được mọi người thừa nhận. Từ khái niệm tác giả chỉ ra “lợi ích xã hội là tiêu chuẩn
khách quan của các giá trị đạo đức” [55]. Giá trị đạo đức được xác định bởi “lương
tâm đồng tình và dư luận biểu dương” [55].
Như vậy, để xác định hành vi có đạo đức phải dựa vào niềm tin cá nhân và dư
luận xã hội đồng tình. ủng hộ. Để chứng minh cho vấn đề này tác giả trích câu của
Ăngghen: "trong một xã hội mà mọi động cơ đẩy tới trộm cắp đều bị loại trừ, do
đó dần dần hầu như chỉ có những người mắc bệnh tinh thần mới phạm tội trộm
cắp, thì một nhà truyền bá đạo đức nào muốn trịnh trọng tuyên bố cái chân lý
vĩnh cửu: không được trộm cắp, sẽ bị người ta chê cười"[55]
Thứ hai, bàn về tính chất của đạo đức: theo tác giả đạo đức vừa có tính chất riêng
vừa có tính chất chung, tùy vào mối quan hệ để xác định tính chất của đạo đức.
Thứ ba, bàn về chức năng của đạo đức.Tác giả chỉ ra ba chức năng bao gồm:
chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục, chức năng nhận thức, ba chức
năng này có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau tạo thành chỉnh thể
của đạo đức của xã hội nhất định.
Từ ba phương diện tiếp cận tác giả đi đến kết luận: “giá trị đạo đức được hình
thành ở mỗi cá nhân luôn phụ thuộc vào việc các cá nhân ấy được giáo dục và tiếp
nhận những tư tưởng và các chuẩn mực đạo đức đúng đắn của xã hội”[55]. Như
vậy, vấn đề giáo dục và sự tiếp nhận vấn đề giáo dục là một trong những cơ sở
quan trọng hình thành giá trị đạo đức. Tiếp thu quan điểm nói trên tác giả luận án
lý ở Việt Nam hiện nay. Đây cũng là mảnh đất mà tác giả luận án tiếp tục khai thác.
1.1.2. Lý luận về tha hóa
Phạm trù “tha hóa” được hình thành từ rất sớm trong lịch sử triết học cận đại.
Tuy nhiên, phạm trù “tha hóa” được trình bày một cách hệ thống bắt đầu từ triết học
Đức cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, tha hóa đã trở thành một phạm trù nổi bật
nhất, trung tâm nhất và được các nhà triết học nổi tiếng như Hêghen và Phoiơbắc,
sau này là Mác sử dụng. Có một số công trình đã nghiên cứu về vấn đề này:
Tác giả Vũ Quang Tạo (2008) có bài viết: “C. Mác và sự nghiệp giải phóng
con người trong thời đại ngày nay” [131].
Tác giả đi sâu vào phân tích quan điểm của Mác về lao động bị tha hóa trong
“Bản thảo kinh tế- triết học 1844” đồng thời chỉ ra những biến đổi của chủ nghĩa tư
bản hiện nay, tác giả khẳng định, sự biến đổi đó vẫn không xóa bỏ được tình trạng
10
tha hóa như Mác đã từng đề cập trong “Bản thảo kinh tế- triết học 1844”. Theo tác
giả sự biến đổi của chủ nghĩa tư bản diễn ra do mâu thuẫn gay gắt giữa nhà tư bản
và người công nhân, trong quá trình mâu thuẫn ấy, chủ nghĩa tư bản bắt buộc phải
tìm cách giải quyết, cách thức giải quyết ấy diễn ra như sau:
Thứ nhất, những thay đổi và điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản vẫn không làm
thay đổi bản chất của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Sự thay đổi đó,
chẳng qua chỉ là những biện pháp xả van an toàn, tháo ngòi nổ của những mâu
thuẫn giữa tư bản và lao động làm thuê, giữa giai cấp tư sản và toàn thể nhân dân
lao động vốn đang tồn tại trong xã hội tư bản hiện đại. Theo tác giả chủ nghĩa tư
bản xoa dịu đấu tranh của người công nhân “bằng cách bán những cổ phần nhỏ nhoi
cho người công nhân, làm cho họ lầm tưởng như được dự phần ăn chia lợi nhuận,
tham gia vào tổ chức, quản lý doanh nghiệp tư bản, nhưng trong thực tế, các biện
pháp này không giúp những người công nhân và đa số cổ đông bé nhỏ có đủ tiếng
nói quyết định trong các công ty tư bản, càng không đủ sức thay đổi sở hữu tư bản
sống đích thực thay vì một”[131] “đời sống bị tha hóa”.
Hai là, “xóa bỏ chế độ tư hữu là hình thức chính trị giải phóng công nhân”
[131]. Vì vậy, “giải phóng công nhân, không chỉ là sự giải phóng của họ, mà còn
bao hàm sự giải phóng toàn thể loài người”[131].
Ba là, theo tác giả, “chủ nghĩa cộng sản tuyệt nhiên không muốn xóa bỏ sự
chiếm hữu cá nhân của người công nhân đối với những sản phẩm lao động của anh
ta, vì sự chiếm hữu ấy không đẻ ra một khoản dư nào có thể đem lại một quyền lực
chi phối lao động của người khác, cũng không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm
hữu những sản phẩm xã hội”[131].
Bốn là, “xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu với tính cách là sự khẳng định
sinh hoạt của con người, là sự xóa bỏ một cách tích cực mọi tha hóa, con người từ
tôn giáo, gia đình, nhà nước quay trở về tồn tại con người, tồn tại xã hội của mình”
[131]. “Xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu”, xây dựng thành công chủ nghĩa
cộng sản, hoàn thành sự nghiệp giải phóng con người, khắc phục tình trạng tha hóa
lao động phải cần thủ tiêu một cách tích cực tình trạng “lao động bị tha hóa”. Từ
bài viết, tác giả luận án nhận thấy vấn đề tha hóa trong xã hội có nguồn gốc tự lợi
ích, mâu thuẫn lợi ích làm nảy sinh sự tha hóa trong xã hội tư bản. Khi triển khai
vấn đề lý luận của luận án, tác giả luận án cũng chỉ ra nguồn gốc của tình trạng tha
hóa đạo đức ở một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều nguồn gốc khác nhau
những nguồn gốc trực tiếp nhất làm nảy sinh sự tha hóa của đạo đức của một bộ
phận cán bộ lãnh đạo, quản lý là lợi ích.
Đi sâu bàn về lý luận tha hóa, tác giả Ngô Đình Xây (2010) với bài viết: “G.
V. Ph. Heghen về "tha hóa" qua sự đánh giá của C. Mác” [155]. Đây là bài viết
mang tính lý luận, khái quát cao. Tác giả bài viết đã phân tích sâu sắc quan điểm
của Hêghen về tha hóa, đồng thời chỉ ra những nhận xét của Mác về tha hóa
mà Hêghen đã trình bày trong các tác phẩm của mình.
Theo tác giả, phạm trù “tha hóa” trong triết học Hêghen “đã trở thành phạm trù
triết học theo nghĩa đầy đủ, rõ ràng và điển hình nhất của nó ở triết học cổ điển Đức.
Hêghen đã xây dựng một lý luận khá hoàn chỉnh”[155] về “tha hoá” và nâng “tha
hóa” lên thành phạm trù trung tâm, xuyên suốt trong hệ thống triết học của
tha hoá của bản chất con người. Tác giả đã trích dẫn quan điểm của Mác rằng: “Đối
với Hêghen bản chất người đồng nghĩa với tự ý thức. Cho nên đối với con người,
mọi sự tha hoá của bản chất con người chẳng qua là sự tha hoá của tự ý thức” [155].
Cũng ở vấn đề này Hêghen đã bàn đến lao động và sự tha hoá lao động của con
người. Nhận xét về cách phân tích của Hêghen, Mác đã chỉ ra “thực tế tha hoá hiện
thực của sản phẩm lao động khỏi người lao động được nhà triết học thể hiện dưới
hình thức thần bí, bao gồm các trạng thái ý thức bị trói buộc của chủ thể mà cá tính
phải chịu những hậu quả tai hại do tác động qua lại với môi trường xã hội” [155].
Thứ sáu, Hêghen bàn đến việc “giải” tha hoá. Theo Hêghen, muốn “giải” tha
hoá thì con người phải trở về với nguồn gốc ban đầu của nó - ý niệm tuyệt đối.
Từ những phân tích trên, tác giả đi đến kết luận: “Tha hoá là một hiện thực có
thật, một hiện trạng thực tế trong xã hội và có cơ sở kinh tế của nó. Và, cũng từ đây,
C.Mác đã đi đến kết luận về một nội dung quan trọng nhất trong lý luận về tha hóa
của mình, đó là việc tìm ra lực lượng và biện pháp vật chất để “giải” tha hóa trong
hiện thực”[155]. Xuất phát từ bài viết, tác giả luận án nhận thấy đây là bài viết có
giá trị lý luận sâu sắc, tác giả luận án đã kế thừa một số quan điểm, đặc biệt quan
điểm “tha hoá hiện thực của sản phẩm lao động khỏi người lao động” để làm phần
cơ sở lý luận của mình.
Phân tích quan điểm của C.Mác về tha hóa có luận án tiến sĩ triết học của
13
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2010) với đề tài: “Quan niệm của Các Mác về tha hóa
và ý nghĩa của quan niệm đó đối với phát triển con người Việt Nam”[59]. Luận án đã
đi sâu vào phân tích quan điểm tha hóa của C.Mác trong Bản thảo kinh tế - triết học
1844. Trên cơ sở đó, luận án đã lý giải về khái niệm tha hóa, nguồn gốc, nguyên nhân
của tình trạng lao động bị tha hóa. Từ những phân tích trên, luận án đã chỉ rõ tính chất
tiêu cực của tình trạng tha hóa trong lao động của người công nhân trong xã hội tư bản
chủ nghĩa, cả tình trạng tha hóa của bản chất con người trong xã hội ấy. Tác giả luận án
dụng. Từ đó cho thấy, khái niệm tha hóa được vận dụng rất linh hoạt ở tất cả các lĩnh
vực trong đời sống xã hội. Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của các nhà khoa học. Tác giả
14
luận án vận dụng khái niệm tha hóa vào vấn đề đạo đức, với mục đích nhằm khắc phục
tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam,
khi mà tình trạng này đang trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội.
1.2. Những công trình liên quan đến thực trạng và nguyên nhân việc khắc
phục tình trạng tha hóa về đạo đức của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản
lý ở Việt Nam hiện nay
Tác giả Nguyễn Tiến Nghĩa /2013) có bài viết: “Tham nhũng-nguyên nhân và
biện pháp phòng ngừa”. Tác giả bài viết đã phân tích sâu sắc khái niệm tham
nhũng, đồng thời tác giả cũng chỉ ra thực trạng và một số nguyên nhân. Theo tác
giả, tham nhũng do một số nguyên nhân sau:
Một là, cơ chế, chính sách và pháp luật còn nhiều kẽ hở, lương công chức còn
thấp. Theo tác giả ở đâu “hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, các quy trình ra quyết định
và hoạch định chính sách còn thiếu minh bạch, thủ tục hành chính còn rườm rà, lương
công chức còn thấp,…thì ở đó tình trạng tham nhũng có xu hướng gia tăng”[100].
Hai là, tác giả chỉ ra những hạn chế như: chưa phát huy được tính tích cực của
người dân trong đấu tranh chống tham nhũng. Việc đấu tranh chống tham nhũng
chưa được phát động thường xuyên.
Ba là, vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật, như công an, viện kiểm sát, tòa
án chưa được phát huy đầy đủ.
Từ những phân tích trên tác giả đưa ra một số biện pháp ngăn ngừa trong đó có
giải pháp giáo dục đạo đức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý; xét xử công khai, nghiêm
minh những cán bộ tha hóa về đạo đức, thành lập tòa án đặc biệt để xét xử cán bộ
lãnh đạo cấp cao; phát huy vai trò tích cực của nhân dân trong đấu tranh chống tham
nhũng. Bài viết đã để lại ấn tượng sâu sắc cho tác giả luận án. Qua bài viết, tác giả
đã dẫn đến tha hóa đạo đức của chính họ. Tác giả bài viết nhấn mạnh: “Quyền lực
luôn có mặt trái là nó làm tha hóa những người nắm giữ và sử dụng quyền lực nếu
như họ không đủ độ chín về nhân cách”[54]. Rõ ràng, sự không chín về nhân cách
là sự thiếu đạo đức, mà thiếu đạo đức chính là tình trạng tha hóa về đạo đức, những
cán bộ tha hóa về đạo đức mà giao quyền cho họ thì thật nguy hiểm. Bởi vì, “Quyền
lực càng lớn thì nguy cơ tha hóa càng nhiều. Người giữ chức vụ càng cao trong bộ
máy quyền lực thì đối mặt với nguy cơ càng lớn về sự tha hóa”[54].
Từ những phân tích trên tác giả chỉ ra “Khi quyền lực được gắn với chữ
“tham”, lòng tham, thì đó là động cơ, nguyên nhân và biểu hiện của tha hóa quyền
lực.” Lòng tham và tính vị kỷ đã làm cho quyền lực có sức hấp dẫn kỳ lạ tạo nên
những động cơ xấu, dẫn đến những hành vi không thể tưởng tượng nổi”[54]. Từ
cách phân tích của tác giả cho thấy, nguồn gốc của tha hóa quyền lực là có điểm
xuất phát từ vấn đề tha hóa về đạo đức. Một khi lòng tham của con người trỗi dậy
thì sẽ là con đường dẫn đến tha hóa về đạo đức một cách nhanh nhất và khi ấy làm
cho quyền lực bị tha hóa.
Tác giả nêu rõ, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý đã dùng quyền lực mà
nhân dân giao cho để tham nhũng của dân, mưu cầu lợi ích thỏa mãn dục vọng của
bản thân.
Từ phân tích tình trạng tha hóa quyền lực tác giả chỉ ra thực trạng của tha hóa
quyền lực. Theo tác giả, “Mấy chục năm sau khi thống nhất đất nước, Đảng ta đã có
nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng Đảng. Nội dung các văn bản ấy nhìn chung
đều đúng, không sai”[54]. Tuy nhiên: “việc tổ chức thực hiện cũng tích cực, thậm
chí có lúc vất vả nữa, nhưng tình hình tham nhũng, “lợi ích nhóm”, mua quan bán
chức, gọi chung là thoái hóa, không dừng lại mà còn tăng lên, lan rộng hơn, gây
nhức nhối hơn, làm cho lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước tiếp tục
giảm sút, đến mức nghiêm trọng và báo động”[54].
Từ những phân tích trên tác giả đi đến kết luận: Nhất thiết phải kiểm soát
quyền lực, phải xây dựng một “cái lồng” nhốt quyền lực không để cho nó tự tung,
nghĩa cá nhân; Đạo đức cách mạng; Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ
nghĩa cá nhân; Cần, kiệm, liêm, chính…
Từ quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý đề tài đi đến làm rõ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phòng
chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tệ nạn khác qua các kỳ đại hội VI,
VII, VIII, IX. Đặc biệt đề tài làm rõ những khái niệm cơ bản như: tham nhũng, hối
lộ, quan liêu, lãng phí.
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức cách mạng, đề tài đã phân tích rất
sâu sắc thực trạng của tệ quan liêu, lãng phí ở nước ta hiện nay.
Từ phân tích thực trạng đề tài đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục
17
tệ quan liêu, lãng phí ở nước ta hiện nay.
Tài liệu nghiên cứu nghị quyết hội nghị lần thứ tư ban chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI
Tài liệu đánh giá thực trạng và nguyên nhân sự suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay.
Về tư tưởng, chính trị: Một bộ phận cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với
làm, không thực hiện đúng đường lối, quan điểm, quy định của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, nhận thức lệch lạc; xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng. trong xã hội tệ
quan liêu, lãnh đạm, xa dân, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc của nhân dân.
Tình trạng một bộ phận cán bộ lười học tập lý luận chính trị, không chịu tham
gia các phong trào cách mạng; thấy đúng không bảo vệ, không chịu đấu tranh phê
bình và tự phê bình; không thường xuyên học tập trau dồi đạo đức cách mạng.
Một bộ phận cán bộ sa vào chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị kỷ, vụ lợi, buông
thả, hưởng thụ. Trong công tác chính trị, thiếu lý tưởng cách mạng, có biểu hiện “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa”; trong công việc thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu ý chí