A. LỜI MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trong đà đẩy mạnh và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền,
kiến tạo phát triển và tập trung nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, nghĩa là các cơ quan Nhà nước phải liên kết, phối hợp với nhau và hoạt
động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Từ những ngày đầu đất nước Việt
Nam được khai sinh, Chủ tịch nước đã đề cao sự công bằng, liêm khiết, trong
sạch của công tác xử án. Để những quyết định đưa ra được đúng đắn, hợp tình
hợp lý và hợp pháp, không những người làm công tác xét xử phải có trình độ
chuyên môn mà còn phải có đạo đức trong sáng. Theo những nguyên tắc đó,
trong nhiều năm qua, hoạt động xét xử, giải quyết các vụ án hành chính của Tòa
án đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
dân, tăng cường an ninh và pháp chế của xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đã có
nhiều quy định được đặt ra và cải thiện để đảm bảo cho Tòa án hành chính hoạt
động có hiệu lực, khách quan, bảo vệ quyền lợi cho công dân. Tuy nhiên, trong
một số lĩnh vực, số lượng vụ việc được giải quyết còn hạn chế do nhiều lý do,
trong đó có thể kể đến do vai trò của Tòa án trong lĩnh vực này còn chưa cao
hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Hệ thống Tòa án ở nhà nước ta
được thành lập theo cấp hành chính, do đó sự độc lập của Tòa án với các cơ
quan, tổ chức khác không cao, dẫn đến khả năng giải quyết các vụ án hành chính
còn nhiều hạn chế. Theo đó, việc hoàn thiện mô hình và thẩm quyền xét xử vụ
án hành chính cần được xem là một vấn đề bức thiết trong công cuộc cải cách
hành chính, tư pháp ở Việt Nam.
1
B. NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CỦA
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân là khả năng
của Tòa án theo quy định của pháp luật Tố tụng hành chính, thực hiện việc xem
nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ
quan, tổ chức đó
Cơ quan hành chính nhà nước ở đây được hiểu là các cơ quan có chức
năng quản lý hành chính và các cơ quan, tổ chức khác nhưng chỉ gồm các cơ
quan: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch
nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan nhà nước ở địa phương.
- Thứ ba, quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ
quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban
hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý
hành chính
Việc ban hành quyết định hành chính nội bộ của cơ quan hành chính, đơn
vị sự nghiệp, tổ chức khác bàn hành để giải quyết công việc nội bộ (trừ các
quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức) của người đứng đầu cơ
quan tổ chức và lợi ích của riêng họ thì không phải là đối tượng khởi kiện vụ án
hành chính.
- Thứ tư, quyết định hành chính không thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong
các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ
quy định và các quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ
chức
Để đảm bảo bí mật nhà nước trong lĩnh vực phòng, an ninh, ngoại giao,
các quyết định hành chính liên quan đến bí mật nhà nước trong những lĩnh vực
này sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chính phủ sẽ quy định
danh mục các quyết định hành chính này.
3
Nhằm điều hành hoạt động trong các cơ quan nhà nước, các chủ thể quản
lý nhà nước ban hành các quyết định mang tính chất nội bộ. Các quyết định
hành chính này có đặc điểm là đối tượng bị áp dụng và chủ thể ra quyết định có
Ví dụ: Hành vi tháo dỡ công trình xây dựng trái phép vượt quá đối tượng vi
phạm.
+
Hành vi hành chính thể hiện dưới dạng không hành động: Hành vi không thực
hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: Công ty TNHH A đã kiện Cục hải quan thành phố Hồ Chí Minh về hành
vi không cấp tờ khai nhập khẩu làm công ty không bán được xe, gây thiệt hại
cho công ty.
- Thứ ba, hành vi hành chính là hành vi nhằm thực hiện hoặc không thực
hiện nhiệm vụ, công vụ được giao
Như vậy, phạm vi để xác định hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện
hành chính với các hành vi khác của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm
quyền trong cơ quan nhà nước đó là hành vi trong phạm vi nhiệm vụ, công vụ
được giao.
2. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ
Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc là quyết định bằng văn bản của người
đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với
công chức thuộc quyền quản lý của mình3.
Quyết định kỷ luật buộc thôi việc thực chất là quyết định hành chính
mang tính chất nội bộ của cơ quan, tổ chức áp dụng đối với công chức thuộc
quyền quản lý của cơ quan, tổ chức mình. Tuy nhiên do tính chất đặc biệt của
quyết định này: là hình thức kỷ luật cao nhất cao đối với công chức và ảnh
hưởng đến quyền có việc làm – quyền được Hiến pháp bảo vệ - của công dân
nên quyết định này là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Để có
thể là đối tượng khởi kiện hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc có
những đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, về hình thức của quyết định: phải bằng văn bản.
3 Khoản 5 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính 2015.
hành chính đối với cán bộ, công chức trong quá trình thi hành công vụ: cảnh
cáo, khiển trách, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức và buộc thôi việc. Chỉ khi
4 Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008.
6
quyết định kỷ luật với hình thức buộc thôi việc mới là đối tượng khiếu kiện hành
chính. Đối với các hình thức kỷ luật khác như cảnh cáo, khiển trách, hạ bậc
lương, giáng chức, cách chức thì công chức chỉ có quyền khiếu nại mà không
được quyền khởi kiện ra Toà án.
3. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh
Theo Luật Cạnh tranh 2004 thì vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu
vi phạm quy định của Luật Cạnh tranh, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều
tra, xử lý theo quy định của pháp luật; được chia thành hai loại việc: một là
những việc về hành vi hạn chế cạnh tranh, hai là loại việc về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh.
Thẩm quyền giải quyết loại việc cạnh tranh thứ nhất là của Hội đồng cạnh
tranh; thẩm quyền giải quyết loại việc thứ hai là của Cục quản lý cạnh tranh, nếu
là Hội đồng cạnh tranh thì sẽ thành lập ra Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh để
xử lý; nếu là Cục quản lý cạnh tranh thì do Thủ trưởng cơ quan trực tiếp xử lý và
kết quả xử lý vi phạm sẽ là quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh.
Tuy nhiên, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý cạnh
tranh hay của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh đều không phải là đối
tượng khởi kiện vụ án hành chính. Chỉ khi những quyết định này bị khiếu nại thì
quyết định giải quyết khiếu nại đó mới là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Như vậy, chủ thể bị xử lý bởi quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh phải thực hiện
việc khiếu nại trước khi thực hiện quyền khởi kiện. Sau khi có quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà không đồng ý với
đồng nhân dân hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, sau khi khiếu nại
và được giải quyết nhưng không đồng ý có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm
quyền.
Do tính chất đặc thù của khiếu kiện này thủ tục giải quyết được quy định
riêng trong Chương XII của Luật Tố tụng hành chính 2015.
8
III. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ
VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Từ khi thành lập đến nay, hoạt động xét xử hành chính của Tòa án nhân
dân đã từng bước được đẩy mạnh và đạt được kết quả nhất định. Tuy nhiên, tỷ lệ
xét xử các vụ án hành chính so với tổng số vụ việc khiếu nại còn thấp.
Ngoài ra, việc chậm mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án trong lĩnh
vực khiếu kiện hành chính dẫn đến việc nhiều Tòa án phải từ chối thụ lý.
Việc quy định theo phương pháp liệt kê các khiếu kiện thuộc thẩm quyền
của Tòa án đã hạn chế quyền khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân, cơ quan,
tổ chức đối với một số loại việc. Phương pháp này không những ảnh hưởng đến
tính ổn định của pháp luật mà còn không đáp ứng được sự phát triển của điều
kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu thực tiễn, ngoài ra trong một số trường hợp dẫn
đến việc tranh luận không đáng có hoặc bỏ sót loại việc lẽ ra cần được giải quyết
tại Tòa án.
IV. ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP CẢI THIỆN
Quy định các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án theo phương pháp loại trừ. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân,
cơ quan, tổ chức trong việc xác định quyền khởi kiện các vụ án hành chính, đảm
bảo sự công bằng cho người dân và đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và
hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
Tuy các quy định của pháp luật hành chính hiện hành đã phù hợp với các
đồng thời cũng phải đảm bảo tính minh bạch, công khai, công bằng và thuận lợi
nhất cho người tham gia tố tụng. Một trong những bước quan trọng của tiến
trình cải cách tư pháp là làm cho vai trò của Tòa án ngày càng độc lập hơn đối
với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Đạt được điều đó, tính đồng bộ,
thống nhất của hệ thống pháp luật mới phát triển tối ưu, tạo đà cho đất nước phát
triển bền vững trên nền xã hội yên ổn.
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng hành chính.
2. Luật Tố tụng hành chính 2015.
3. Luật Cán bộ, công chức 2008.
4. Luật Cạnh tranh 2004.
11
MỤC LỤC
12