BÀI TIỂU LUẬN
BỘ MÔN: TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH
ĐỀ TÀI: THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
Tiểu luận Tố tụng hành chính
- 2 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân
1.1.1 Định nghĩa thẩm quyền……………………………………………… 4
1.1.2 Định nghĩa thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân
dân……………………………………………………………………………… 5
1.1.3 Sự phát triển của thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của tòa
án nhân dân…………………………………………………………………… 5
1.2. Thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính theo pháp luật hiện hành.
1.2.1. Thẩm quyền theo loại việc bị khiếu kiện…………………………8
1.2.2. Thẩm quyền theo các cấp Tòa án và theo lãnh thổ…………… 10
1.2.3. Giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa Tòa án với Tòa án và
giữa Tòa án với cơ quan giải quyết khiếu nại……………………………….12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THẨM QUYỀN VÀ MỘT SỐ Ý
KIẾN
2.1 Thực trạng về thẩm quyền xét xử xác vụ án hành chính
2.1.1 Thực trạng quy định của pháp luật về thẩm quyền………………13
2.1.2 Thực tiển áp dụng pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành
chính…………………………………………………………………………… 37
2.2 Một số kiến nghị về thẩm quyền xét xử vụ án hành chính.
2.2.1 Kiến nghị về sử đổi quy định của pháp luật………………………52
2.2.2 Kiến nghị về áp dụng pháp luật…………………………………….54
- 3 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
1.1.2 Định nghĩa thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án
nhân dân.
Thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án nhân dân là quyền và
nghĩa vụ của Tòa án nhân dân trong việc thụ lý và giải quyết các vụ án
hành chính
1.1.3 Sự phát triển của thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính
của tòa án nhân dân
- Sau 12 năm đi vào hoạt động và giải quyết các vụ án hành
chính, Tòa án các cấp góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước. Nếu
như trước đây, trong quá trình quản lý, điều hành Nhà nước, cơ quan hành
chính chỉ căn cứ vào Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
một cách chung chung để ban hành các quyết định hành chính, thì nay đã
căn cứ cụ thể vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để ban
hành quyết định hành chính theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà
pháp luật đã quy định. Việc thành lập Tòa Hành chính đã góp phần thúc
đẩy quá trình cải cách nền hành chính Nhà nước, buộc các cơ quan Nhà
nước phải tự nâng cao năng lực quản lý và ý thức trách nhiệm; làm cho
các cơ quan quản lý hành chính phải thận trọng, cân nhắc hơn khi ban
hành một quyết định hành chính hay có hành vi hành chính.
- Sau 12 năm hoạt động, Tòa Hành chính các cấp đã khẳng định
được vị trí của mình trong đời sống xã hội và là công cụ không thể thiếu
được trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa. Kết quả giải quyết các vụ án hành chính của Tòa án các
cấp đã khẳng định vai trò to lớn của quá trình giải quyết khiếu kiện hành
chính bằng con đường tư pháp.
Thông qua hoạt động của Tòa Hành chính các cấp, về phía người
dân đã quan tâm và tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới nói chung và đổi mới
pháp luật nói riêng, xem đây là một bước phát triển của cải cách tư pháp
phục vụ công cuộc đổi mới của đất nước. Sau khi Pháp lệnh thủ tục giải
thẩm, sơ thẩm lại vụ án. Vì vậy, có bộ phận công dân còn nghi ngại trước
khi chọn con đường khởi kiện tại Tòa án
a ) Về thẩm quyền theo loại việc bị khiếu kiện:
Hiện nay theo Luật TTHC, Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với tất
cả các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong mọi lĩnh vực quản
lý nhà nước, loại trừ quyết định hành chính, hành vi hành chính trong các
lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ
quy định và quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ
của cơ quan, tổ chức
- 6 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã thể chế hoá những khiếu kiện
thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án tại Điều 28, đó là:
- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết
định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước
trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do
Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành
chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
- Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách
cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
-Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ
từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
- Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ
việc cạnh tranh.
Theo Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đây,
loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án chỉ được quy định tại
Điều 11 gồm 22 khoản. Nay Luật Tố tụng hành chính 2010 quy định về
thẩm quyền của Toà án theo phương pháp loại trừ như quy định trên thì
phạm vi thẩm quyền được mở rộng, do vậy có rất nhiều loại việc thuộc
thẩm quyền giải quyết của Toà án.
buộc thôi việc đối với công chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức từ
cấp huyện trở xuống ban hành thì kiện tại Tòa án trên cùng phạm vi địa
giới hành chính với cơ quan, tổ chức của người có thẩm quyền ra quyết
định. Đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người đứng đầu cơ
quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương thì kiện tại Tòa an nơi mà
người khởi kiện làm việc.
1.2. Thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính theo pháp luật hiện
hành.
1.2.1. Thẩm quyền theo loại việc bị khiếu kiện.
Thẩm quyền theo loại việc bị khiếu kiện xác định các loại việc thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng hành
chính.
Theo quy định của Điều 28 Luật TTHC quy định về những khiếu kiện
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, cụ thể:
a. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các
quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật
nhà nước trong cac lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao
thao danh mục đó Chính phủ quy định và các quyết định hành
- 8 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ
chức.
Như vậy, khác với quy định của Pháp lệnh TTGCVAHC trước đây khi quy
định về thẩm quyền theo loại việc đó chính là sự giới hạn 22 lĩnh vực được
quyền khiếu nại theo thủ tục tố tụng hành chính. Hiện nay theo Luật TTHC,
Tòa án có thẩm quyền giải quyết đối với tất cả các quyết định hành chính,
hành vi hành chính trong mọi lĩnh vực quản lý nhà nước, loại trừ quyết định
hành chính, hành vi hành chính trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh,
ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành
chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
- Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng cạnh tranh đối với
quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh khi xử lý vụ việc
cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh;
- Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Công thương đối
với quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi xử lý
vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành
mạnh.
1.2.2. Thẩm quyền theo các cấp Tòa án và theo lãnh thổ.
Cơ sở pháp lý: Điều 29 và Điều 39 Luật TTHC, thẩm quyền theo các cấp
Tòa án và theo lãnh thổ được hiểu như sau:
+ Đối với thẩm quyền theo các cấp Tòa án: Tòa án nhân dân cấp huyện
có thẩm quyền giải quyết những khiếu kiện của cá nhân, tổ chức mà người
bị kiện trong vụ án là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong
cơ quan nhà nước cấp huyện trở xuống, đồng thời giải quyết khiếu kiện về
danh sách cử tri bầu cử Đại biểu Quốc hội và danh sách bầu cử Đại biểu
Hội đồng nhân dân. Đối với những khiếu kiện mà người bị khiếu kiện là cơ
quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước cấp
tỉnh và cấp trung ương ( gồm các quyết định hành chính, hành vi hành
chính, hành vi hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phóng Quốc hội, Kiểm toán nhà nước,
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định
hành chính, hành vi hành chính của ngưới có thẩm quyền trong cơ quan
đó; các quyết định hành, hành vi hành chính của cơ quan thuộc một trong
các cơ quan nhà nước vừa nêu trên và quyết định hành chính, hành vi
- 10 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
hành chính của ngưới có thẩm quyền trong các cơ quan đó) thì thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
+ Đối với thẩm quyền theo lãnh thổ: Nếu người bị kiện thuộc cơ quan nhà
hước cấp địa phương (bao gồm cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã…) thì kiện
đối với quyết định buộc thôi việc đối với công chức do người đúng đầu cơ
quan, tổ chức từ cấp huyện trở xuống ban hành thì kiện tại Tòa án trên
cùng phạm vi địa giới hành chính với cơ quan, tổ chức của người có thẩm
quyền ra quyết định. Đối với quyết định kỷ luật buộc thôi việc của người
dứng dầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương thì kiện tại Tòa
án nơi mà người khởi kiện làm việc.
Trường hợp cần thiết Tòa án cấp tỉnh có thể lấy lên để giải quyết khiếu
kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện quy định tại điểm
g khoản 1 Điều 30 Luật TTHC.
- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Uỷ ban
nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện liên quan
đến nhiều đối tượng, phức tạp.
- Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện mà các Thẩm phán của Tòa
án cấp huyện đó đều thuộc trường hợp hải từ chối tiến hành tố tụng
hoặc bị thay đổi.
- Vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác
tư pháp cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài hoặc cớ quan có thẩm quyền ở
nước ngoài.
1.2.3. Giải quyết tranh chấp thẩm quyền giữa Tòa án với Tòa án
và giữa Tòa án với cơ quan giải quyết khiếu nại .
a. Tranh chấp giữa Tòa án nhân dân với nhau (khoản 2
Điểu 32 Luật TTHC).
- Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Tòa án
cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chánh
án Tòa án cấp tỉnh giải quyết.
- Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính giữa các Tòa án
cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau
hoặc giữa các Tòa án cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao giải
- 13 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
Thực tiễn cho thấy, việc quy định theo phương pháp liệt kê các khiếu
kiện thuộc thẩm quyền của Toà án như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính đã hạn chế quyền khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân,
cơ quan, tổ chức đối với một số loại việc, đặc biệt là các quyết định hành
chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. Việc quy định theo
phương pháp liệt kê trong một số trường hợp dẫn đến việc tranh luận
không đáng có hoặc bỏ sót loại việc lẽ ra cần được giải quyết tại Toà án.
Chính vì vậy, quy định các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải
quyết của Toà án theo phương pháp loại trừ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc xác định quyền khởi kiện các vụ án
hành chính, đảm bảo sự công bằng cho người dân và đáp ứng được yêu
cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Về mặt
kỹ thuật lập pháp, việc quy định theo phương pháp loại trong trường hợp
này là rất hợp lý và bảo đảm tính ổn định của điều luật.
Quy định trên đã loại trừ khỏi đối tượng khởi kiện vụ án hành chính
các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà
nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do
Chính phủ quy định và các quyết định hành chính, hành vi hành chính
mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức. Quyết định hành chính, hành vi
hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức là các quyết định và
hành vi hành chính liên quan đến quan hệ nội bộ như phân công trách
nhiệm giữa thủ trưởng và nhân viên, phân công trách nhiệm giữa các cơ
quan, quyết định phân công công tác trong nội bộ cơ quan
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính thì
những quyết định hành chính, hành vi hành chính này không thuộc thẩm
quyền giải quyết của Toà hành chính. Tương tự như vậy, do đặc thù và
tính nhạy cảm của lĩnh vực quốc phòng, an ninh nên các quyết định và
hành vi hành chính mang tính chất bí mật nhà nước sẽ do Chính phủ quy
các cơ quan, tổ chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong
hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một
số đối tượng cụ thể (khoản 1 Điều 3); hành vi hành chính là hành vi của cơ
quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm
quyền trong cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm
vụ, công vụ theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 3). Như vậy Luật Tố
tụng hành chính đã khắc phục được những thiếu sót của Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án hành chính năm 1996. Cùng với việc quy định các
khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo phương pháp loại
trừ, việc giải thích này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ
chức trong việc xác định quyền khởi kiện vụ án hành chính của mình, đảm
bảo sự công bằng và đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế
- 15 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
b. Nhược điểm
Khi nói đến vấn đề thẩm quyền xét xử hành chính của tòa án (từ đây
xin nói tắt là thẩm quyền), có thể xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau:
góc độ mục đích, nội dung, tính chất Ở đây, chúng tôi xem xét thẩm
quyền này dưới góc độ nội dung và tập trung bàn về: thẩm quyền đối với
việc thụ lý việc kiện hành chính (tạm gọi là thẩm quyền thụ lý) và thẩm
quyền đưa ra phán quyết về Quyết định hành chính và Hành vi hành chính
bị kiện (gọi tắt là thẩm quyền phán quyết) của tòa án.
Về thẩm quyền thụ lý:
Về lý thuyết, để được coi là có một vụ án hành chính, phải có việc
kiện hành chính và việc thụ lý của tòa án. Trong giới hạn bài viết này,
chúng tôi không hướng việc nghiên cứu vào các quy trình và kỹ năng tố
tụng của hành vi thụ lý, mà chủ yếu phân tích một số vấn đề liên quan đến
thẩm quyền của tòa án trong việc thụ lý một vụ án hành chính. Bởi vì việc
tòa thụ lý hay từ chối đơn kiện hành chính của một người sẽ có những ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền công dân của họ.
không áp dụng độc lập mà phải áp dụng kèm theo hình thức phạt chính và
ban hành trong cùng quyết định với hình thức phạt chính. Cũng có trường
hợp xây dựng trái phép, nhưng vì hết thời hiệu xử phạt, nên không ra
quyết định xử phạt mà cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể ra quyết định áp
dụng biện pháp khắc phục hậu quả3. Khi đó, biện pháp tháo dỡ công trình
xây dựng trái phép có thể áp dụng độc lập bằng một quyết định hành
chính. Nếu muốn kiện, người khởi kiện có thể kiện theo Điều 11 khoản 2.
Vậy đối với công trình, nhà ở, vật kiến trúc kiên cố được xây dựng
không trái phép nhưng vẫn bị tháo dỡ vì những lý do từ phía công quyền
đưa ra thì đương sự có quyền khởi kiện không? Ví dụ, có căn nhà, ban
đầu được nhà nước công nhận là tồn tại hợp pháp, việc sang nhượng căn
nhà được cơ quan có thẩm quyền thừa nhận. Nhưng rồi, chính cơ quan đó
lại buộc người mua phải tháo dỡ căn nhà vì lý do liên quan đến quyền sử
dụng mảnh đất trên đó căn nhà tọa lạc (nhưng cơ quan có thẩm quyền
chưa ban hành quyết định thu hồi đất). Trường hợp đó tòa án có thụ lý
không hay viện lý do việc kiện không thuộc trường hợp “công trình xây
dựng trái phép” để rồi trả lại đơn
Nghị quyết 03 có đụng chạm đến vấn đề này nhưng tiếc là chỉ mới
hướng dẫn về tính chất kỹ thuật của đối tượng bị tháo dỡ - tức là cách xác
định thế nào là “công trình, nhà ở, vật kiến trúc kiên cố”, chứ không giải
thích về tính chất pháp lý của chúng: Đó là loại công trình xây dựng trái
phép hay là cả những công trình không xây trái phép nhưng cơ quan nhà
nước vẫn quyết định tháo dỡ? Chúng tôi cho rằng điều này cần được quy
định cụ thể hơn.
Tương tự Điều 11 khoản 2, việc xác định thẩm quyền của tòa án để
thụ lý đơn kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với cán bộ, công chức
theo Điều 11 khoản 4, tòa án cũng “bối rối” trong xử lý. Về phân loại cán
- 17 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
bộ, công chức Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi 2003 và 4 Nghị định
tối cao) tương đối cụ thể. Và tưởng chừng quy định cụ thể như vậy thì đã
có thể áp dụng dễ dàng! Nhưng, vấn đề lại cách hiểu về thuật ngữ không
thống nhất.
- 18 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
Tại điểm a khoản 1 quy định thẩm quyền của tòa án cấp huyện đối
với:
a) Những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính
của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng lãnh
thổ và của cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước đó;
Và điểm a, điểm b khoản 2 quy định thẩm quyền của tòa án cấp tỉnh
đối với:
a) Những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính
của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn
phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và quyết định hành
chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng các cơ quan đó mà
người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở trên
cùng lãnh thổ;
b) Những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính
của cơ quan chức năng thuộc một trong các cơ quan nhà nước
quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và quyết định hành chính,
hành vi hành chính của cán bộ, công chức của các cơ quan
chức năng đó mà người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc
hoặc trụ sở trên cùng lãnh thổ.
Các quy định này có sử dụng thuật ngữ “trên cùng lãnh thổ”. Có ý
kiến cho rằng “cùng lãnh thổ” tức là tòa án thụ lý đơn kiện đóng trụ sở
cùng địa bàn với nơi cư trú của những người khởi kiện. Nếu hiểu như vậy
thì sẽ có vấn đề là: tại thời điểm nhận quyết định hành chính, người khởi
kiện cư trú ở tỉnh A, sau đó một thời gian họ chuyển đến cư trú ở tỉnh B.
ban hành Quyết định có trụ sở ở đâu thì tòa án nơi đó thụ lý, không phụ
thuộc người khởi kiện! Dường như PL đặt vấn đề này là xuất phát từ cách
hiểu khái niệm”trên cùng lãnh thổ” tức là tòa có thẩm quyền thụ lý là tòa án
nơi mà người khởi kiện cùng cư trú hoặc cùng đóng trụ sở. Cho nên, nếu
những người khởi kiện không cùng nơi cư trú thì mới phát sinh cái gọi là
“khó xác định thẩm quyền thuộc tòa án tỉnh nào” chứ!
Tuy nhiên, nếu chấp nhận cách hiểu đó thì tòa án cấp Tỉnh sẽ lúng
túng trong trường hợp đương sự ở những địa bàn khác nhau cùng kiện
một quyết định hành chính khi mà Tòa tối cao đã không còn quyền theo
Điều 12 khoản 3 nữa!
Vấn đề này cũng là một trở ngại cho tòa án khi đứng trước câu hỏi: Vụ việc
có thuộc thẩm quyền của tòa hay không?
- Việc giải quyết “xung đột” thẩm quyền thụ lý khiếu kiện hành chính
mà Pháp lệnh hiện đang quy định còn có điểm chưa thật sự hợp lý. Theo
Điều 13 Pháp lệnh, nếu vụ việc liên quan đến nhiều người mà một số
người khởi kiện tại tòa án, một số khác khiếu nại lên cơ quan hành chính
cấp trên thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân. Điều này được
Nghị quyết 03 mục 12 hướng dẫn cụ thể hơn, nhưng chung quy việc quyết
- 20 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
định trao quyền giải quyết cho tòa án hoặc cơ quan cấp trên cũng không
có sự lý giải rõ ràng.
Về vấn đề này, có ý kiến cho rằng việc xác định thẩm quyền đương
nhiên cho tòa án như vậy là không hợp lý vì không phù hợp với nguyên tắc
quyền tự định đoạt của các đương sự trong việc khiếu nại cũng như khiếu
kiện hành chính. Nếu như, phần lớn những người liên quan trong vụ việc
đó cùng quyết định kiện tại tòa án thì việc giao cho tòa án giải quyết khiếu
kiện đó là hoàn toàn hợp lý. Nhưng ngược lại, nếu vẫn trao quyền xét xử
đó cho tòa án khi mà phần lớn người có liên quan đã quyết định khiếu nại
hành chính chứ không kiện ra tòa xem ra lại là bất hợp lý, không tôn trọng
cách mở rộng thẩm quyền cho tòa án một cách vội vã, không tính toán! Dĩ
nhiên là không thể làm theo kiểu “thị trường”- hấp dẫn khách hàng bằng
cách tăng số lượng sản phẩm cho phong phú, bắt mắt mà quên đi vấn đề
chất lượng. Vì thế, chúng ta cần phải xem xét lại thật kỹ lưỡng những quy
định liên quan đến thẩm quyền xét xử hành chính của tòa án trong các văn
bản tố tụng hành chính hiện hành và các văn bản khác liên quan đến lĩnh
vực này. Cần sửa đổi và bổ sung sao cho những loại việc hiện đang quy
định cho tòa án (số loại việc dù còn rất hạn chế) phải được mọi người có
thể hiểu một cách thống nhất. Có vậy, tòa án mới thụ lý và xét xử đúng
pháp luật và công dân mới tự tin mà nộp đơn kiện ra tòa!
Về thẩm quyền phán quyết của tòa án:
Ở Pháp, khi xét xử vụ án hành chính, Tòa hành chính có quyền kết luận,
quyết định với một trong các hình thức sau: Bác bỏ đơn khiếu kiện của
đương sự; Hủy quyết định của cơ quan cơ quan hành chính đã gây thiệt
hại cho công dân; Buộc cơ quan hành chính đã ra quyết định hành chính
sai trái phải bồi thường. Hội đồng nhà nước Pháp (le Conseil d’Etat) không
chỉ có quyền kiểm tra tính hợp pháp của quyết định hành chính cá biệt mà
còn được trao quyền kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản quy phạm,
có quyền hủy bỏ văn bản quy phạm (bị kiện độc lập hoặc văn bản được áp
dụng để ban hành văn bản cá biệt).
Luật tố tụng hành chính Trung Quốc, trái lại, không quy định thẩm quyền
xét xử của tòa án đối với văn bản quy phạm mà việc xử lý những văn bản
quy phạm sai trái được giải quyết bằng con đường hành chính.
Qua ví dụ từ luật của một số nước, cho thấy luật tố tụng hành chính Việt
Nam có nhiệm vụ phải xác định rõ thẩm quyền ra phán quyết của tòa án
với vụ án hành chính, tức là tòa án phải tuyên bố một cách cụ thể những
vấn đề liên quan đến quyết định hành chính và hành vi hành chính bị kiện.
Đáng tiếc là, trong PL không có quy định cụ thể nào về vấn đề này.
Chương III của PL quy định về phiên tòa sơ thẩm nhưng tuyệt không có
một quy định nào nói đến việc tòa sẽ phán quyết thế nào về quyết định
Nghĩa là sau khi xem xét, thấy quyết định đó là trái pháp luật thì
tuyên bố: quyết định trái pháp luật! Còn việc xử lý quyết định đó phải thuộc
trách nhiệm của hành chính (đương nhiên đặt dưới quyền giám sát của tòa
án - vì có bản án của tòa án). Theo chúng tôi, tòa án không có quyền sửa
quyết định hành chính (cho dù chính chủ thể ban hành cũng thừa nhận sai
lầm trong quyết định đó). Đơn giản vì sửa quyết định hành chính là hoạt
động quản lý hành chính thuộc chức năng hành pháp không thuộc chức
năng xét xử của tòa án! (ngay cả việc hủy quyết định cũng đã là can thiệp
vào công việc của hành chính, song có lẽ vì tính rõ ràng là trái pháp luật
- 23 -
Tiểu luận Tố tụng hành chính
của nó và để phục hồi nhanh quyền của người khởi kiện mà trao quyền
cho tòa án tuyên hủy).
Ngoài ra, cũng cần quy định cụ thể quyền của Tòa án đối với quyết
định hành chính bị kiện được xác định là trái pháp luật, nhưng do áp dụng
một văn bản đang có hiệu lực mà văn bản ấy trái với văn bản của cấp trên
về cùng một vấn đề. Mặc dù chúng ta đã có nguyên tắc xác định hiệu lực
của văn bản, văn bản của cấp trên có hiệu lực pháp lý cao hơn. Nếu người
áp dụng biết văn bản của cấp trên và văn bản được chọn để áp dụng mâu
thuẫn nhau mà vẫn áp dụng văn bản của cấp dưới thì quyết định phải bị
hủy. Nếu không biết là có văn bản của cấp trên quy định khác về vấn đề
mình giải quyết thì việc ban hành quyết định rõ ràng là trái pháp luật, thể
hiện sự tác trách của người ban hành quyết định, cũng phải hủy quyết
định10. Cần quy định cụ thể trong PL quyền của tòa án tuyên hủy quyết
định hành chính trong trường hợp đó.
Trên đây chỉ là một vài ví dụ về những điểm hạn chế của Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết vụ án hành chính (PLTTGQVAHC) liên quan đến thẩm
quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân. Mục đích của chúng tôi là,
chỉ cần xét dưới góc độ lý thuyết, chưa nói đến kỹ năng nghiệp vụ của tòa
án, cũng đủ thấy rằng đã đến lúc phải xem xét lại toàn diện và kịp thời sửa
điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu của thực tiễn. Thực tế, thời gian qua
cho thấy rất nhiều đơn khởi kiện của người dân trong lĩnh vực này, nhất là
những khiếu kiện hành chính về đất đai đã bị Toà án từ chối thụ lý vì chưa
có thẩm quyền xét xử.
Luật Tố tụng hành chính 2010 đã khắc phục hạn chế của các
Pháp lệnh trước đây bằng việc quy định mang tính loại trừ - một phương
pháp rất mở và bao quát, bao gồm tất cả các quyết định hành chính, hành
vi hành chính, chỉ trừ các quyết định hành chính, hành vi hành chí thuộc
phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại
giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định, hành vi
hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức.
Tuy nhiên, phạm vi loại trừ ở đây cũng nên cần tiếp tục được xem
xét bởi lẽ chúng ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà trong một Nhà nước pháp quyền đòi hỏi
pháp luật phải là thượng tôn, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm cả
các cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền trong cơ quan
nhà nước đều làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Do đó, các cơ quan
tòa án ngoài việc cần được đảm bảo độc lập với các cơ quan hành
chính, thì còn phải có thẩm quyền quyết định tính đúng sai của tất cả các
quyết định hành chính, hành vi hành chính và mục tiêu của Luật Tố tụng
hành chính là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, cơ quan,
tổ chức tại các cơ quan tòa án.
Sở dĩ như vậy là bởi vì, dù là quyết định, hành vi mang tính chất nội
bộ nhưng cũng là quyết định, hành vi hành chính, trong trường hợp quyết
định hành chính đó, hành vi hành chính đó trái pháp luật và xâm phạm đến
- 25 -