MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Có 7 giai đoạn trong hoạt động tố tụng của một vụ án hình sự thì trong đó xét xử
sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất bằng việc đưa vụ án đó ra phiên tòa sơ thẩm.
Các giai đoạn của quá trình tố tụng đề phải gắn với các quy định về thẩm quyền,
trình tự thủ tục… xét xử sơ thẩm cũng phải tuân thủ các vấn đề trên. Trong Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định mở rộng thẩm quyền cho tòa án cấp huyện
đồng thời Quốc hội cũng có Nghị quyết quy định lộ trình hoàn thiện quy định đó
trên thực tế. Thêm vào đó, Pháp lệnh Tổ chức tòa án quân sự năm 2002 cũng quy
định phân biệt một cách cơ bản thẩm quyền của Tòa án quân sự và Tòa án nhân
dân. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về lĩnh vực này
vẫn gặp những vướng mắc và bất cập nhất định. Trên cơ sở đó, chúng ta thấy
rằng muốn xây dựng thẩm quyền của tòa án trước hết phải xây dựng thẩm quyền
xét xử sơ thẩm của tòa án. Chính vì thế, em chọn đề bài như sau: “ Quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về thẩn quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sựso sánh với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”
1
NỘI DUNG
I.
Những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý về xét xử sơ thẩm và thẩm
quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1. Xét xử sơ thẩm
Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao
thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo Luật tổ chức Toà án nhân
dân và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thì Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam là các Toà án cấp
huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu.
Theo pháp luật tố tụng Việt Nam hiện hành, thì xét xử sơ thẩm được xác định
“Thẩm quyền” theo từ điển Việt Nam là quyền xem xét để kết luận và định đoạt
một vấn đề theo pháp luật. Thẩm quyền của tòa án Việt Nam cũng được
coi là quyền xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Khi
xét xử Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam.
Trong tố tụng hình sự, thẩm quyền xét xử của tòa án còn ra bản án, các quyết định
như đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án…thẩm quyền của tòa án bao gồm
thẩm quyền về hình thức và nội dung.
Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án
hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành
chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ,
khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố
tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không
có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về
quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân.
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan,
tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh
chấp hành Điều 2, Luật tổ chức tòa án nhân dân 2014.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm được quy định tại Chương XVI của BLTTHS 2003
và Chương XXI, Mục I của BLTTHS 2015. Theo đó thẩm quyền xét xử
sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép tòa án được xét xử sơ
thẩm các vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội,nơi thực hiện phạm tội theo quy
định của pháp luật.
1 />
3
Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa tòa án
cáp huyện hay Tòa án quân sự khu vực thì phải căn cứ vào hồ sơ, tôi danh, điều
khoản.
4
Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là quân
nhân tại ngũ, công nhân, nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian
tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ
phối thuộc chiến đấu với quân đội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ
quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý và những người tuy không thuộc
các đối tượng trên nhưng hành vi phạm tội của họ có liên quan đến bí mật quân sự
hoặc gây thiệt hại cho quân đội.
Bị cáo phạm nhiều tội và các tội đó đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
nhân dân huyện, Tòa án quân sự khu vực thì các tòa án này xét xử tất cả các tội đó
và tổng hợp hình phạt theo quy định của điều 50 BLHS 1999. Bị cáo đang chấp
hành bản án mà lại xét xử một tội danh khác trước khi có bản án này hoặc phạm tội
mới thuộc thẩm quyền của tòa án này thì tòa án xét xử và tổng hợp hình phạt theo
điều 51 BLHS 1999 và hình phạt có thể là chung than hoặc tử hình.
Toà án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về
những tội phạm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự mà bị cáo khi phạm tội
hoặc khi bị khởi tố có quân hàm từ Trung tá trở xuống hoặc là người có chức vụ từ
Trung đoàn trưởng hoặc tương đương trở xuống; giải quyết những việc khác theo
quy định của pháp luật – khoản 2 Điều 29 Pháp lệnh tổ chức tòa án quân sự.
Có thể thấy rằng thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân
cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực có sự mở rộng rất lớn về thẩm quyền do nhưng
lý do sau:
Thứ nhất:Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thẩm phán ở hầu hết các tòa án cấp
huyện ngày càng được nâng cao có khả năng xét xử những vụ án có mức cao nhất
khung hình phạt tù từ 15 năm trở xuống. Số lượng biên chế của tòa án cấp huyện
và cơ sở hạ tầng được nâng cao.
2. Trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.
Có thể thấy đây là một điều luật khác hoàn toàn so với BLTTHS 2003. Tại điều
này quy định về việc nếu bị cáo phạm nhiều tội mà có cả thẩm quyền của tòa án
nhân dân và tòa án quân sự thì tách vụ án, mà nếu không tách thì tòa án quân sự
xét xử toàn bộ. Và điều luật này cũng cần căn cứ vào vụ án để xác định rõ thẩm
quyền của tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực. Qua điều luật này
có thể thấy thẩm quyền của tòa án quân sự khu vực còn được mở rộng thêm.
2. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án cấp tỉnh, tòa án quân sự cấp
quân khu.
Theo Điều 170 khoản 2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân
khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ
án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.
6
Cùng với đó ở khoản 1 điều này còn quy định về vấn đề tòa án nhân dân cấp
huyện và tòa án quân sự khu vực không được xét xử sơ thẩm.
BLTTHS 2003 đang dùng phương pháp loại trừ khi quy định về thẩm quyền xét
xử của tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu. Tòa án nhân dân
cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm về những tội phạm sau:
Thứ nhất: Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn
cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm
năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Thứ hai: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại chương XI BLHS
1999: bao gồm Tội phản bội tổ quốc, Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân
dân,Tội gián điệp, Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ, Tội bạo loạn, Tội hoạt động
phỉ, Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, Tội phá hoại cơ sở vật chất
kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tội phá hoại việc thực
hiện các hoạt động chính sách kinh tế xã hội, Tội phá hoại chính sách đoàn kết, Tội
quan, cấp, ngành; hoặc bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, công an, cán bộ cấp
huyện, người nước ngoài, người trong chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong các
bản làng dân tộc.
Thứ sáu: Theo Điều 173. Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền
của các Tòa án khác cấp “Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc
thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên, thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án”.
Bị cáo phạm nhiều tội nhưng trong đó có cả tội thuộc thẩm quyền cảu tòa án nhân
dân cấp huyện và tòa án nhân cấp tỉnh thì cấp tỉnh sẽ xét xử sơ thẩm toàn bộ vụ án.
Bị cáo phạm nhiêu tội có tội thuộc thẩm quyền của tòa án quân sự khu vực và thảm
quyền thuộc tòa án quân sự cấp quân khu thì cấp quân khu sẽ xét xử toàn bộ vụ án.
Tuy nhiên trong điều này quy định vẫn chưa có sự cụ thể về việc nếu như cấp trên
khác địa phương, cấp dưới khác địa phương, hay giữa cấp dưới là tòa án nhân dân
và cấp trên là tòa án quân sự quân khu và ngược lại thì sẽ thực hiện thẩm quyền
như thế nào thì chưa quy định rõ.
Khi so sánh về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa
án quân sự cấp quân khu theo BLTTHS 2015:
Giống nhau: Dùng phương pháp loại trừ, tội nào không thuộc thẩm quyền của
Tòa án nhân dân huyện , tòa án quân sự khu vực thì thuộc thẩm quyền của cấp trên.
Đồng thời , Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; Các tội phá hoại hoà bình, chống
loài người và tội phạm chiến tranh; Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126,
227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371,
399 và 400 của Bộ luật hình sự 2015 là hoàn toàn giống so với các quy định tại
BLTTHS 2003.
Khác nhau: Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài
8
hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài thuộc thẩm quyền xét xử của
cấp tỉnh và cấp quân khu BLTTHS 2015 đã mở rộng thêm thẩm quyền. Các vấn đề
tụng. Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ dễ dàng tìm kiếm thu thập chứng cứ, triệu
tập người làm chứng hoặc người có liên quan đến vụ án. Mặt khác việc xử lý vụ án
9
tại nơi phạm tội được thực hiện cũng đảm bảo tốt hơn sự có mặt của những người
tham gia tố tụng trong quá trình điều tra truy tố xét xử.
Tội phạm được thực hiện tại một địa danh cụ thể thuộc phạm vi địa giới hành
chính theo quy định của pháp luật. Đối với vụ án xét xử tại tòa án nhân dân thì nơi
thực hiện tội phạm là xã, phường, thị trấn,quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh. Xét xử tại tòa án quân sự thì tội phạm xảy ra tại địa bàn quân khu, khu vực
quân sự .
Đối với những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự thì ngoài quy tắc
chung trên, việc xác định thẩm quyền còn phải căn cứ vào Thông tư liên tịch số
01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18 tháng 04 năm
2005 hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Theo hướng dẫn của
thông tư thì các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự khu vực
thuộc quân khu được xét xử theo quy định của điều 171 BLTTHS về thẩm quyền
xét xử theo lãnh thổ. Còn các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân
chủng hải quân và tòa án quân sự khu vực quân chủng hải quân thì không áp dụng
nguyên tắc lãnh thổ. Các tòa án này có thẩm quyền xét xử các vụ án xảy ra trong
các đơn vị quân chủng, các vụ án mà bị cáo là người do quân chủng quản lý hoặc
người khác phạm tội liên quan đến bí mật quân sự, gây thiệt hại cho các đơn vị
thuộc quân chủng hải quân.
Trường hợp phạm tội được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau mà không xác đinh
rõ được nơi thực hiện tội phạm tại đâu thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là tòa án
nơi kết thúc việc điều tra: Bị cáo phạm tội nhiều lần, mỗi lần tại một địa bàn nhất
định; bị cáo phạm nhiều tội, mỗi tội thực hiện ở một địa bàn nhất đinh. Nếu các vụ
án trên không được nhập thành một vụ án thì có nhiều tòa án có thẩm quyền xét
xử.
thì có sự giống nhau: Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi
tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác
nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền
xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.Nơi nào xảy ra tội phạm thì Tòa án ở địa
phương đó xét xử.
Điều 270. Thẩm quyền xét xử tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc
ngoài lãnh hải của Việt Nam
Tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam
thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về
đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.
Khác nhau: Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân
dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử. Nếu không xác
định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh
11
án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng xét xử. Như vậy BLTTHS 2015 đã mở rộng thêm quyền xét xử đối
với tào án nhân dân TP Đà Nẵng trong trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài
mà không xác định được nơi cư trú cuối cùng. Việc mở rộng thêm nay có ý nghĩa
rất lớn về mặt kinh tế , chính trị mà còn về mặt địa giới hành chính quốc gia.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án
quân sự trung ương. BLTTHS 2015 bỏ từ “ trở lên” như vậy nhấn mạnh rằng chỉ có
tòa quân sự cấp quân khu có thẩm quyền theo quyết định của Chánh án tòa án quân
sự TW. Còn đối với BLTTHS 2003 còn có cả tòa án quân sự cấp quân khu và cấp
cao hơn.
xét xử.
Trường hợp tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án là tòa án cùng cấp thì tòa án đang
thụ lý hồ sơ chỉ được chuyển vụ án khi chưa xét xử, do Chánh án tòa án quyết
định. Nêu trong quá trình xét xử mà thấy không thuộc thẩm quyền thì tiếp tục xét
xử.
Trong thời hạn 2 ngày thì, kể từ ngày quyết định chuyển vụ án , tòa án phải thông
báo cho viện kiểm sát cùng cấp, bị cáo, những người liên quan biết.
Điều 175. Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử
1. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử do Chánh án Tòa án cấp trên
trực tiếp quyết định.
2. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp
huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, do Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi kết thúc việc điều tra quyết định.
3. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Toà án nhân dân và Tòa
án quân sự do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
Khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền mình thì Toà án chuyển vụ án cho Toà
án có thẩm quyền xét xử. Việc chuyển vụ án cho Toà án ngoài phạm vi tỉnh; thành
phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính tương đương hoặc ngoài phạm vi
quân khu do Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án quân sự cấp quân khu quyết định.
Chỉ được chuyển vụ án cho Toà án khác khi vụ án chưa được xét xử. Trường hợp
này, việc chuyển vụ án do Chánh án Toà án quyết định.
Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án quân sự hoặc Toà án cấp trên thì vụ án
đã được đưa ra xét xử vẫn phải chuyển cho Toà án có thẩm quyền. Trong trường
hợp này, việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định. Việc chuyển vụ án phải
được thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử do Chánh án Toà án cấp trên
trực tiếp quyết định; việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Toà
án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau,
do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi kết thúc việc điều tra quyết định; việc
13
Khi xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì Viện
kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do; nếu Tòa
án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì việc giải quyết
tranh chấp thẩm quyền xét xử thực hiện theo Điều 275 của Bộ luật này. Viện kiểm
sát phải thực hiện theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền.
Thứ hai: việc giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền xét xử theo BLTTHS
2015 đánh giá vai trò của Chánh án tòa án nhân dân tỉnh, Chánh án tòa án nhân dân
14
tối cao và Chánh án tòa án quân sự quân khu, Chánh án tòa án quân sự TW là
ngang nhau.
KẾT LUẬN
Thông qua việc bình luận về thẩm quyền và so sánh với BLTTHS 2015 cho thấy
BLTTHS 2015 đã khắc phục rất nhiều vấn đề vướng mắc, hạn chế của BLTTHS
2003. Thể hiện trình độ lập pháp của nước ta đnag ngày càng cải thiện và nâng cao
không chỉ trong lĩnh vực luật tố tụng hình sự mà nhiều ngành luật khác.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam,
NXB công an nhân dân., 2014.
2. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
3. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
4. Gs. Nguyễn Ngọc Anh, TS Trần Quang Tiệp,TS Trần Vi Dân, TS Nguyễn
Mai Bộ…, BÌnh luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, NXB
chính trị quốc gia.
5. Pháp lệnh tổ chức toà án quân sự 2002.
6. Bộ luật hình sự 1999( sửa đổi, bổ sung năm 2009).
7. Bộ luật hình sự năm 2015.
8. Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày