đánh giá qui định pháp luật về văn phòng đại diện của công ty nước ngoài tại VN và thực tiễn thành lập, hoạt động của văn phòng đại diện của công ty nước ngoài ở việt nam - Pdf 21

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ cuối những năm 80, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ xu thế tất yếu của nền
kinh tế mở cửa, thu hút đầu tư không chỉ trong nước mà vươn xa hơn ở nước ngoài. Hàng loạt
các chính sách mở cửa nền kinh tế, ưu đãi đầu tư đối với các nhà đầu tư ở ngoài đã ra đời. Và
dần dần, nền kinh tế nước nhà đã có những sự chuyển biến rõ rệt nhờ vào các dự án ODA,
BOT, BT , ngày càng nhiều các thương nhân nước ngoài tìm đến và quyết định đầu tư, hoạt
động kinh doanh tại Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau: thành lập các loại công ty có
vốn góp nước ngoài, hoặc 100% vốn nước ngoài, Bên cạnh đó, một số không ít các đối tác
của Việt Nam không đặt trụ sở trực tiếp hoạt động tại Việt Nam, nhưng họ thành lập các Văn
phòng đại diện tại Việt Nam, thay mặt đại diện cho Công ty của họ hoạt động tại Việt Nam
theo luật định.
Trong thời gian vừa qua, xu hướng hội nhập mở cửa, đã dẫn đến hiện tượng ngày càng
nhiều các công ty nước ngoài lựa chọn hình thức thành lập Văn phòng đại diện tại Việt Nam
để thuận tiện và dễ dàng hơn trong hoạt động của mình. Và một trong những vấn đề được khá
nhiều người quan tâm đó là vấn đề liên quan đến thủ tục thành lập và quá trình hoạt động của
các Văn phòng đại diện được diễn ra như thế nào tại Việt Nam. Trong thời gian vừa qua, đây
cũng là vấn đề có khá nhiều điểm bất cập.
Trước tình hình đó, nhóm tác giả muốn đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá các quy
định pháp luật về Văn phòng đại diện tại Việt nam, tiếp đó nêu ra một số hạn chế bất cập trong
quá trình thành lập, hoạt động trên thực tiễn của các Văn phòng đại diện tại Việt Nam, hướng
đến hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về trình tự thủ tục thành lập và hoạt động của
Văn phòng đại diện của Công ty nước ngoài tại Việt Nam. Đó là lý do nhóm tác giả quyết định
chọn đề tài: “Đánh giá qui định pháp luật về văn phòng đại diện của công ty nước ngoài tại
VN và thực tiễn thành lập, hoạt động của Văn phòng đại diện của Công ty nước ngoài ở Việt
Nam”.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài: Tìm ra những vấn đề còn vướng mắc, bất cập trong việc
quy định, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật liên quan đến thành lập và hoạt động của
Văn phòng đại diện tại của công ty nước ngoài tại Việt Nam. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng

ty, thành lập chi nhánh, thành lập Văn phòng đại diện Trong đề tài này, nhóm tác giả sẽ tập
trung tìm hiểu phân tích rõ hơn các quy định pháp luật liên quan đến Văn phòng đại diện của
các thương nhân nước ngoài là Công ty nước ngoài.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005, thương nhân bao gồm tổ
chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Và thương nhân nước ngoài được hiểu là thương
nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được
pháp luật nước ngoài công nhận
1
.
Từ hai quy định nêu trên, ta có khái niệm về Công ty nước ngoài là công ty được thành
lập, đăng ký kinh doanh hợp pháp hoặc được pháp luật nước sở tại công nhận.
Khi mở rộng hoạt động hợp tác đầu tư kinh doanh tại các quốc gia khác, tùy vào quy
định pháp luật cụ thể của từng quốc gia mà họ hướng đến cùng với điều kiện, mong muốn của
thương nhân đó, họ sẽ lựa chọn hình thức hoạt động là công ty, chi nhánh hay Văn phòng đại
diện tại quốc gia đó. Ngày nay, việc các công ty nước ngoài lựa chọn hình thức hoạt động là
Văn phòng đại diện ngày càng phổ biến, rộng rãi hơn.
Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của
thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị
trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép
2
.
Hiểu được nhu cầu thiết yếu của các nhà đầu tư, các đối tác nước ngoài, tại Việt Nam,
các nhà làm luật cũng đã quy định khá chi tiết về các vấn đề liên quan đến văn phòng đại diện
của công ty nước ngoài. Bao gồm các quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập Văn
phòng đại diện, gia hạn, chấm dứt hoạt động, quyền và nghĩa vụ, phạm vi hoạt động của Văn
1
Khoản 1, Điều 16 Luật thương mại 2005
2
Khoản 6, Điều 3 Luật thương mại 2005

c) Có bằng chứng cho thấy việc thành lập Văn phòng đại diện gây phương hại đến
quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần
phong mỹ tục Việt Nam và sức khoẻ của nhân dân, làm huỷ hoại tài nguyên, phá huỷ môi
trường.
3
Điều 4 Nghị định 72/2006/NĐ-CP
5
d) Nộp hồ sơ không hợp lệ và không bổ sung đủ hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan có
thẩm quyền cấp giấy phép.
Sở dĩ pháp luật phải quy định các trường hợp này, nhằm mục đích bảo vệ các lợi ích
lớn hơn như an ninh – quốc phòng, sức khỏe nhân dân, môi trường ; bảo vệ an ninh trật tự
nền kinh tế trong nước (không được kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh)
Khi quy định về thời hạn 2 năm kể từ ngày bị thu hồi Giấy phép thành lập Văn phòng
đại diện thì thương nhân nước ngoài không được cấp giấy phép mới, mục đích của các nhà
làm luật là xây dựng một cơ chế quản lý đối với các thương nhân nước ngoài, hạn chế các
trường hợp thành lập nhưng không hoạt động và cũng là một hình thức chế tài dành cho họ khi
không tuân thủ các quy định pháp luật, hoạt động sai chức năng Chiếu theo quy định tại
khoản 2 Điều 28 Nghị định 72/2006/NĐ-CP, chúng ta dễ dàng nhận thấy điều đó. Văn phòng
đại diện bị thu hồi giấy phép thành lập trong các trường hợp:
a) Không chính thức đi vào hoạt động trong thời gian 06 tháng, kể từ ngày được cấp
Giấy phép thành lập;
b) Ngừng hoạt động 06 tháng liên tục mà không thông báo với cơ quan cấp Giấy phép
thành lập;
c) Không báo cáo định kỳ về hoạt động của Văn phòng đại diện trong 02 năm liên
tiếp;
d) Không gửi báo cáo theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 06
tháng, kể từ ngày có yêu cầu bằng văn bản;
đ) Hoạt động không đúng chức năng của Văn phòng đại diện theo quy định của pháp
luật.
2.1.2. Thủ tục thành lập Văn phòng đại diện

sơ, cơ quan cấp Giấy phép phải thông báo bằng văn bản để thương nhân nước ngoài bổ sung,
hoàn chỉnh hồ sơ. Hết thời hạn 15 ngày (không bao gồm thời gian thương nhân nước ngoài
sửa đổi, bổ sung hồ sơ) mà không cấp Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện thì Sở Công
thương phải thông báo băng văn bản cho thương nhân nước ngoài về lý do không cấp giấy
phép.
Lưu ý, Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt
Nam có thời hạn là 05 năm nhưng không vượt quá thời hạn còn lại của Giấy đăng ký kinh
doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài.
Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép, Văn phòng đại diện phải
đăng báo viết hoặc báo điện tử được phép phát hành tại Việt Nam trong 03 số liên tiếp, phải
chính thức hoạt động và thông báo cho Sở Công thương về việc mở cửa hoạt động tại trụ sở đã
đăng ký
6
.
4
Điều 3 Nghị định 72/2006/NĐ-CP
5
Điều 7 Nghị định 72/2006/NĐ-CP
6
Điều 7 Nghị định 72/2006/NĐ-CP
7
Nhìn chung, quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện, thủ tục thành lập
Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam khá rõ ràng, minh bạch và đầy
đủ.
Việc quy định thương nhân nước ngoài chỉ được thành lập Văn phòng đại diện khi đã
hoạt động không dưới 01 năm kể từ ngày được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh hợp pháp ở
nước của thương nhân cũng như việc quy định trong hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập phải có
Điều lệ và báo cáo tài chính nhằm mục đích đảm bảo thương nhân nước ngoài thực sự muốn
đầu tư vào Việt Nam để hoạt động kinh doanh chân chính, họ có tiềm năng, tiềm lực và mong
muốn mở rộng thị trường, đến gần hơn với khách hàng mục tiêu. Thiết nghĩ đây là một quy

thương cấp lại Giấy phép với thời hạn không quá thời hạn còn lại của Giấy phép thành lập
Văn phòng đại diện đã được cấp.
(b) Các trường hợp còn lại:
Không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ cơ quan đã cấp Giấy phép có
trách nhiệm cấp lại Giấy phép với thời hạn không quá thời hạn còn lại của Giấy phép
thành lập Văn phòng đại diện đã được cấp.
2.2.2. Gia hạn Giấy phép thành lập
• Điều kiện gia hạn Giấy phép thành lập
Thương nhân nước ngoài được gia hạn giấy phép thành lập Văn phòng đại diện khi có
đủ các điều kiện sau đây:
a) Có nhu cầu tiếp tục hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức Văn phòng đại diện;
b) Thương nhân nước ngoài đang hoạt động theo pháp luật của nước nơi thương nhân
đó thành lập hoặc đăng ký kinh doanh;
c) Không có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt
động của Văn phòng đại diện.
• Hồ sơ đề nghị gia hạn: Khoản 2 Điều 14 Nghị định 72/2006/NĐ-CP
• Thời hạn: ít nhất 30 ngày, trước khi Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện hết hạn,
thương nhân nước ngoài phải làm thủ tục gia hạn.
Đây được đánh giá là một trong các quy định thông thoáng của Pháp luật Việt Nam.
Nếu Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài hoạt động hiệu quả và vẫn đáp ứng được
các điều kiện quy định thì tùy theo quyết định của mình (mong muốn được tiếp tục hoạt động
dưới hình thức Văn phòng đại diện), thương nhân được phép yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
Việt Nam gia hạn giấy phép thành lập. Thời hạn làm thủ tục gia hạn thực hiện như thời hạn
cấp mới Giấy phép thành lập.
9
2.3. Quyền và nghĩa vụ của Văn phòng đại diện của công ty nước ngoài
Về quyền và nghĩa vụ của Văn phòng đại diện, được quy định cụ thể tại Điều 17, Điều
18 Luật thương mại 2005 và Điều 20 Nghị định 72/2006/NĐ-CP. Theo đó Văn phòng đại diện
của công ty nước ngoài tại Việt Nam có các quyền như sau
7

10
Nhìn chung, các quy định về quyền và nghĩa vụ của Văn phòng đại diện được pháp
luật quy định khá rõ ràng và dễ hiểu, nêu rõ văn phòng đại diện được quyền làm gì và các
nghĩa vụ phải thực hiện.
Trước tiên, xét các quy định về quyền, ta thấy, đây là những quyền hướng đến cho
những mục tiêu thiết yếu nhất cho quá trình hoạt động của Văn phòng đại diện tại Việt Nam,
chẳng hạn, điều quan trọng đầu tiên là nơi đặt trụ sở của Văn phòng, tuyển dụng lao động làm
việc tại Văn phòng, mở tài khoản Ngân hàng để phục vụ tốt hơn cho các giao dịch kinh doanh
thương mại, quyền được khác con dấu riêng phụ vụ cho quá trình hoạt động ký kết theo thẩm
quyền của Văn phòng đại diện Ngoài ra, tại khoản 3, Điều 20 Nghị định 72/2006/NĐ-CP,
còn cho phép người đứng đầu Văn phòng đại diện được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung
hợp đồng đã giao kết khi có văn bản ủy quyền hợp pháp, với điều kiện mỗi lần giao kết hợp
đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết sẽ là một văn bản ủy quyền riêng lẻ. Với quy định
này, đã tạo nên sự linh hoạt hơn cho hoạt động của Công ty ở nước ngoài, khi họ không thể
trực tiếp tham gia ký kết, sửa đổi, bổ sung hợp đồng tại Việt Nam, chỉ cần họ gửi Văn bản ủy
quyền hợp lệ sang Việt Nam, thì việc ký kết, sửa đổi bổ sung hợp đồng đã ký kết sẽ được diễn
ra nhanh chóng, kịp thời, hướng đế bảo vệ tối đa quyền lợi của các bên.
Thứ hai, về các quy định về nghĩa vụ, một văn phòng đại diện không được phép thực
hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam, không được phép giao kết hợp đồng (ngoại trừ
các hợp đồng được quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 17 LTM), và, như đã trình bày ở trên,
Trưởng văn phòng đại diện chỉ được phép giao kết, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết của
thương nhân nước ngoài khi có giấy ủy quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài. Như
vậy, với quy định này ta có thể hiểu, mặc nhiên Văn phòng đại diện không có quyền trực tiếp
thực hiện ký kết các loại hợp đồng hay tham gia các hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam,
chỉ được thực hiện quyền này một cách gián tiếp thông qua sự ủy quyền hợp pháp từ thương
nhân ở nước ngoài đối với từng giao dịch cụ thể. Quy định này đã giới hạn phần nào quyền
của Văn phòng đại diện, quy định như vậy khá hợp lý, bởi lẽ, công ty ở nước ngoài, họ không
trực tiếp quản lý được Văn phòng đại diện, quy định này của pháp luật phần nào giúp họ kiểm
soát tốt hơn Văn phòng đại diện của họ tại nước đối tác. Đồng thời, nước đối tác cũng sẽ yên
tâm hơn khi giao kết các hợp đồng, đảm bảo rằng các giao dịch của họ với Văn phòng đại diện

Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với
thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ để thực hiện trưng
bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân mà mình đại diện
12

Luật đã không quy định rõ các hoạt động xúc tiến thương mại nào mà luật cho phép
mà chỉ có thể hiểu gián tiếp thông qua các quy định như vừa nêu. Theo nhóm tác giả, quy định
như vậy là chưa hợp lý, nên hướng đến quy định tập trung các hoạt động Văn phòng đại diện
được phép thực hiện, nêu cụ thể đó là những hoạt động nào sẽ tạo sự thuận lợi hơn cho hoạt
động các Văn phòng đại diện, thu hút sự quan tâm hơn của các đối tác từ nước ngoài.
Liên quan đến nghĩa vụ về việc không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại
Việt Nam và các hoạt động xúc tiến thương mại được phép thực hiện sẽ được nhóm tác giả
trình bày chi tiết, và cụ thể ở phần phạm vi hoạt động của Văn phòng đại diện tại mục 2.3 của
đề tài.
10
Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005.
11
Khoản 2 Điều 103 Luật thương mại 2005.
12
Khoản 2 Điều 118 Luật thương mại 2005
12
Về phạm vi đại diện, theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Nghị định 72/2006/NĐ-CP,
“Văn phòng đại diện không được thực hiện chức năng làm đại diện cho thương nhân khác,
không được cho thuê lại trụ sở Văn phòng đại diện”. Một văn phòng đại diện tại Việt Nam chỉ
được thực hiện chức năng đại diện cho một thương nhân ở nước ngoài, nhằm đảm bảo chức
năng chuyên môn, là đại diện hình ảnh cho thương nhân nước ngoài đó tại Việt Nam, không bị
nhầm lẫn với một thương nhân nào khác, tập trung hoạt động xây dựng hình ảnh, xúc tiến hoạt
động thương mại theo luật định cho duy nhất thương nhân mình đại diện. Ngoài ra, Luật
không cho phép Văn phòng đại diện cho thuê lại trụ sở Văn phòng đại diện, quy định này
được nêu ra gây cho người đọc sự khó hiểu, một vấn đề liên quan đến các quy định về giao

• Thực hiện chức năng văn phòng liên lạc;
• Xúc tiến xây dựng các dự án hợp tác của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam;
• Nghiên cứu thị trường để thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá, cung ứng và tiêu dùng
dịch vụ thương mại của thương nhân mà mình đại diện;
• Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các hợp đồng đã ký kết với các đối tác Việt Nam
hoặc liên quan đến thị trường Việt Nam của thương nhân nước ngoài mà mình đại diện;
• Các hoạt động khác mà pháp luật Việt Nam cho phép.
Có thể thấy, chức năng tìm hiểu thị trường và thực hiện các hoạt động xúc tiến thương
mại giúp các công ty nước ngoài tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội kinh doanh của văn phòng đại diện
gần như không được triển khai qua những nội dung hoạt động của Văn phòng đại diện được
pháp luật cho phép.
Nghị định 72/2006/NĐ-CP quy định Văn phòng đại diện thực hiện chức năng xúc tiến
xây dựng các dự án hợp tác của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam; và theo dõi, đôn đốc
việc thực hiện các hợp đồng đã ký kết với các đối tác của thương nhân nước ngoài mà mình
đại diện. Cho đến thời điểm này, chưa có văn bản nào hướng dẫn Văn phòng đại diện được
phép thực hiện những hoạt động gì để “xúc tiến xây dựng” và “đôn đốc việc thực hiện”. Liệu
Văn phòng đại diện có được phép tiến hành đàm phán các hợp đồng hợp tác của công ty nước
ngoài để “xúc tiến xây dựng”, hay tham gia vào quá trình thực hiện hợp đồng mà công ty đó
đã ký kết để “theo dõi, đôn đốc việc thực hiện” hay không. Như đã phân tích về phần quyền
của Văn phòng đại diện, chỉ với chức năng tìm hiểu thị trường và thực hiện các hoạt động xúc
tiến thương mại như luật quy định thì Văn phòng đại diện không thể chủ động thực hiện các
công việc này. Rõ ràng, các quy định này rất chung chung và khó có thể triển khai trên thực tế.
Sau khi liệt kê một số nội dung hoạt động của Văn phòng đại diện, Nghị định
72/2006/NĐ-CP còn quy định thêm các hoạt động khác mà pháp luật Việt Nam cho phép.
Thương nhân nước ngoài chờ đợi các hướng dẫn cụ thể hơn nữa, để biết rõ các hoạt động xúc
tiến thương mại mà luật Việt Nam cho phép là gì, thì sau đó Nghị định lại một lần nữa quy
định về các hoạt động khác, và không ai có thể biết các hoạt động khác này là hoạt động gì.
Ngoài những hoạt động Văn phòng đại diện được phép thực hiện nêu tại Nghị định
72/2006/NĐ-CP, Luật thương mại 2005 còn giới hạn phạm vi hoạt động của văn phòng đại
diện của thương nhân nước ngoài bằng một loạt các quy định cấm:

Theo định nghĩa của Luật thương mại 2005 thì xúc tiến thương mại là hoạt động thúc
đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại,
quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương
15
Điều 18 Luật thương mại 2005
16
Khoản 2 Điều 91 Luật thương mại 2005
17
Khoản 2 Điều 103 Luật thương mại 2005
18
Khoản 2 Điều 118 Luật thương mại 2005
19
Khoản 2 Điều 131 Luật thương mại 2005
15
mại
20
. Thế nhưng, mục đích xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm, dịch vụ, tìm kiếm cơ
hội kinh doanh của thương nhân nước ngoài khi mở văn phòng đại diện khó có thể đạt được
khi mà chức năng xúc tiến thương mại của văn phòng đại diện bị giới hạn bởi một loạt điều
cấm nêu trên và gần như văn phòng đại diện hoàn toàn không được trực tiếp thực hiện, tham
gia bất kì hoạt động nào trong số các hoạt động xúc tiến thương mại mà Luật thương mại 2005
nêu ra.
Nếu Công ty nước ngoài muốn được giới thiệu hàng hóa, dịch vụ của mình bằng việc
quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa dịch vụ, hội chợ, triển lãm thương mại
thì phải thông qua một bên thứ ba kinh doanh các dịch vụ trên, và phải ủy quyền cho văn
phòng đại diện tiến hành việc ký kết hợp đồng thuê dịch vụ.
Các quy định này cho thấy pháp luật cho phép hàng hóa, dịch vụ của thương nhân
nước ngoài được quảng cáo, trưng bày, giới thiệu, tổ chức và tham gia hội chợ triển lãm tại
Việt Nam, vậy tại sao không để cho chính Văn phòng đại diện với chức năng chủ yếu là thực
hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, nắm rõ về hàng hóa, dịch vụ của thương nhân trực

d. Hết thời gian hoạt động theo Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh mà
không được cơ quan cấp Giấy phép chấp thuận gia hạn;
e. Bị thu hồi Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh theo quy định tại khoản
2 Điều 28 của Nghị định này.
Đối với các trường hợp a, c việc chấm dứt mang tính chủ động từ phía các thương
nhân nước ngoài, đang trong thời hạn hoạt động, nhưng không muốn tiếp tục đặt Văn phòng
đại diện tại Việt Nam, hoặc khi thời hạn được đặt Văn phòng đại diện đã hết và họ xét thấy
không cần thiết tiếp tục đặt Văn phòng đại diện ở Việt Nam thì không gia hạn thời hạn hoạt
động của Văn phòng đại diện nữa.
Đối với trường hợp b, một khi công ty ở nước ngoài chấm dứt hoạt động thì hiển nhiên
sự tồn tại Văn phòng đại diện – một đơn vị phụ thuộc không còn giá trị về mặt pháp lý nữa, có
nghĩa nó cũng sẽ chấm dứt hoạt động theo.
Đối với hai trường hợp còn lại, việc chấm dứt hoạt động của Văn phòng đại diện lại
mang tính thụ động, chịu sự tác động từ phía cơ quan có thẩm quyền, vì họ xin gia hạn thời
hạn hoạt động nhưng không được cơ quan chức năng chấp thuận, hoặc bị thu hồi Giấy phép
thành lập Văn phòng đại diện vì bị rơi vào một trong số các trường hợp nêu tại khoản 2, Điều
28 Nghị định 72/2006/NĐ-CP đã được nêu tại mục 2.1.1 của đề tài này.
Nhìn tổng thể các tiêu chí để chấm dứt hoạt động, ta thấy chủ yếu các nhà làm luật tập
trung vào các yếu tố đánh giá hoạt động thực tế của Văn phòng đại diện, về các hoạt động thực
tế, có diễn ra thường xuyên liên tục không, có hoạt động như chức năng đã đnagư ký không,
có nộp báo cáo định kỳ theo quy định Pháp luật không Có thể nói đây cũng chính là những
tiêu chí để đánh giá, xem xét về cách thức hoạt động của Văn phòng, xem xét liệu Văn phòng
đại diện đó có thể tiếp tục hoạt động hay không. Với quy định này, giúp các cơ quan chức
năng hạn chế các Văn phòng đại diện bù nhìn, gây mất trật tự trong công tác quản lý chung đối
với các Văn phòng đại diện.
3. Thực tiễn thành lập và hoạt động của Văn phòng đại diện của công ty nước ngoài
tại Việt Nam
17
3.1 Thực tiễn thành lập Văn phòng đại diện của Công ty nước ngoài
Để phát triển kinh doanh ở những thị trường tiềm năng, các thương nhân thường mở

thống nhất trên toàn quốc. Những địa phương có chính sách thông thoáng sẽ thu hút được
nhiều thương nhân đến thành lập Văn phòng đại diện ở đây, gây mất cân đối, bất ổn trong nền
kinh tế. Hoặc, có trường hợp thương nhân nước ngoài khi nhận được thông báo của Sở Công
22

http://www.baocongthuong.com.vn/p0c272s192n15258/hoat-dong-vpdd-nuoc-ngoai-can-hoan-thien-ve-khuon-
kho-phap-ly.htm
18
thương về việc không cấp Giấy phép đăng ký thành lập cho họ và các lý do thì họ cũng không
thể hiểu được dựa vào đâu và vì sao lại có kết quả như vậy.
Trong bối cảnh hội nhập và việc gia nhập Tổ chức kinh tế Thế giới WTO, tính “minh
bạch” của hệ thống pháp luật đối với mỗi quốc gia thành viên là yếu tố được đặt lên hàng đầu.
Việt Nam cũng không ngoại lệ, chúng ta đang tiến hành cải cách hàng loạt các văn bản pháp
luật để hướng đến sự rõ ràng, thông thoáng, dễ hiểu, dễ áp dụng của các quy định. Vì vậy, sự
không rõ ràng trong vấn đề thẩm định hồ sơ đăng ký thành lập Văn phòng đại diện là một “bài
toán” đặt ra cho các nhà làm luật.
Tham khảo một quy định tương tự của Luật Singapore, điều kiện thành lập Văn phòng
đại diện của thương nhân nước ngoài tại Singapore là: phải có doanh thu tại nước ngoài lớn
hơn 250.000 USD; thương nhân nước ngoài có số năm thành lập tối thiểu phải 03 năm; (03)
nhân viên làm việc tại Văn phòng đại diện không quá 5 người
23
. Đây là một quy định rất cụ thể
và lượng hóa được các điều kiện. Nhờ đó, việc cấp phép cho thương nhân nước ngoài thành
lập Văn phòng đại diện sẽ dễ dàng hơn, tính ràng buộc cao hơn. Các tiêu chí để được thành lập
Văn phòng đại diện nhiều, dẫn đến các chủ thể muốn đăng ký thành lập Văn phòng cũng sẽ có
sự cân nhắc nhất định.
Sự thông thoáng trong điều kiện, thủ tục thành lập Văn phòng đại diện theo Nghị định
72, một phần tạo thuận lợi để thương nhân nước ngoài dễ dàng đăng ký thành lập Văn phòng
đại diện tại Việt Nam; mặc khác, cũng dễ dẫn đến những vấn đề tiêu cực khi việc thành lập
được diễn ra ồ ạt. Không ít các phần tử đã lợi dụng thành lập các Văn phòng đại diện trá hình,

thông qua việc nộp thuế thu nhập cá nhân (năm 2010, TP.Hồ Chí Minh nộp 851,9 tỷ đồng)
25
.
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn một số thực trạng đáng lo ngại đối với hoạt động của
Văn phòng đại diện Công ty nước ngoài ở Việt Nam hiện nay:
- Tình trạng lợi dụng hình thức Văn phòng đại diện để trực tiếp kinh doanh thu lợi trái
pháp luật, và cả một số biến tướng khác đang có dấu hiệu gia tăng, làm ảnh hưởng xấu đến
uy tín các Văn phòng đại diện hoạt động nghiêm túc theo quy định của pháp luật.
Trước khi tiến hành kinh doanh hay đầu tư tại Việt Nam, thương nhân nước ngoài
thường lập Văn phòng đại diện để tiến hành nghiên cứu thị trường và chuẩn bị các bước cần
thiết khác. Để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu thị trường, các quy
định của Nhà nước về quản lý Văn phòng đại diện ngày càng thoáng. Cũng chính vì vậy mà
ngày càng có nhiều trường hợp lợi dụng sự thông thoáng này để trục lợi.
Ví dụ, đã có thời gian, Sở Công thương nhận được một thông báo của Cục Quản lý
xuất nhập cảnh - Bộ Công an về trường hợp 2 người Đài Loan đang bị Interpol truy nã vì tội
lừa đảo nhưng lại sang Việt Nam làm trưởng Văn phòng đại diện
26
. Trường hợp một người bị
truy nã là Tu Shu Hui, Trưởng văn phòng đại diện Công ty Excellence Internation thì đã hoạt
động trong khoản thời gian khá dài tại Tòa nhà hành chính Công ty liên doanh tại Tp.Hồ Chí
Minh mà không bị các cơ quan chức năng phát hiện
27
.
24
http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/www.thesaigontimes.vn/That-chat-quan-ly-hoat-dong-cua-van-phong-
dai-dien/7258554.epi
25
http://www.baocongthuong.com.vn/p0c272s192n15258/hoat-dong-vpdd-nuoc-ngoai-can-hoan-thien-ve-khuon-
kho-phap-ly.htm
26

thành lập Văn phòng đại diện “vô tội vạ” như hiện nay. Tuy nhiên, không ít ý kiến cho rằng đề
xuất có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của các Văn phòng đại diện đang hoạt
động nghiêm túc, phải gánh chịu hậu quả đối với những vấn đề không phải mình gây ra, trong
khi lẽ ra đây là những hoạt động đáng khích lệ vì hoạt động này góp phần thu hút đầu tư từ
nước ngoài, đẩy mạnh hợp tác trên phạm vi quốc tế, tăng ngoại tệ cho quốc gia. Do vậy, vấn
27
http://www1.laodong.com.vn/pls/bld/folder$.view_item_detail%28102587%29
28
http://nld.com . vn/2011103010489616p0c1002/nhieu-van-phong-dai-dien-vi-pham-luat.htm
29
http://tuoitre.vn/kinh-te/387257/nhieu-van-phong-dai-dien-nuoc-ngoai-hoat-dong-sai-luat.html
30
http://tuoitre.vn/kinh-te/387257/nhieu-van-phong-dai-dien-nuoc-ngoai-hoat-dong-sai-luat.html
21
đề đáng tăng cường nhất là công tác quản lý từ các cơ quan có thẩm quyền, bên cạnh việc
củng cố chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, pháp luật cần có những quy định tăng
cường kiểm tra, giám sát cũng như tăng mức phạt vi phạm với chế tài đủ sức răn đe đối với
loại văn phòng ảo này.
- Một số văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài hoạt động sai mục đích;
không nộp báo cáo hoạt động thường kỳ; không đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho
người lao động…
Đây là một thực trạng khá phổ biến hiện nay, chưa kể đến các Văn phòng đại diện ảo,
trá hình, ngay bản thân các Văn phòng đại diện được thành lập ban đầu đúng với tiêu chí, chức
năng vốn có của nó, tuy nhiên trong quá trình hoạt động, xảy ra không ít những sai phạm liên
quan đến: hoạt độn sai mục đích, không nộp báo cáo hoạt động thường kỳ, đây là sai phạm
quan trọng, vì việc nộp báo cáo thường kỳ là cơ sở để cơ quan quản lý đánh giá quá trình hoạt
động thực tế của Văn phòng đại diện, làm cơ sở cho việc xem xét trong thủ tục gia hạn hoặc
chấm dứt hoạt động của Văn phòng đại diện. Hoặc đã có những Văn phòng đại diện đã sử
dụng lao động những lại không tiến hành kê khai, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho
người lao động, thậm chí xảy ra cả những tình trạng khai man thuế, nhiều người nước ngoài

quản lý hữu hiệu hơn đối với các Văn phòng đại diện. Các cơ chế chính sách phải vừa đảm
bảo tính chặt chẽ vừa không làm phiền hà thủ tục hành chính để Văn phòng đại diện Công ty
nước ngoài hoạt động tốt hơn. Vì mặc dù không vì mục đích sinh lợi nhưng chính Văn phòng
đại diện Công ty nước ngoài là cầu nối giữa các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước ta. Đó
là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy, phát triển nền kinh tế.
23
KẾT LUẬN
Với chủ trương mở cửa, giao lưu kinh tế với tất cả các quốc gia trên thế giới trên cơ sở
hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, Việt Nam đã thu hút, không ít các nhà đầu tư nước ngoài tìm
đến với Việt Nam, và hoạt động thành lập Văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài để
tìm kiếm thăm dò thị trường, thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại theo luật định ngày
càng trở nên phổ biến hơn. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định khá cụ thể liên quan đến
Văn phòng đại diện ở Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số bất cập nhất định.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả lần lượt nêu, phân tích, đánh giá
một số quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến Văn phòng đại diện của thương nhân
nước ngoài là công ty nước ngoài, về điều kiện, thủ tục thành lập, quyền, nghĩa vụ, chấm dứt
hoạt động Văn phòng đại diện của công ty nước ngoài tại Việt Nam Ngoài ra nhóm tác giả
còn liên hệ được với thực tiễn về quá trình thành lập và hoạt động của Văn phòng đại diện của
công ty nước ngoài, đồng thời chỉ ra một số bất cập vẫn đang tồn tại trên thực tế hiện nay.
Khắc phục những bất cập còn tồn tại nhằm giúp Văn phòng đại diện thân nước ngoài hoạt
động có hiệu quả hơn, qua đó góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam
và các nước trên thế giới.
Vẫn còn quá nhiều vấn đề bất cập liên quan đến thực tiễn thành lập, hoạt động của Văn
phòng đại diện của công ty nước ngoài, tuy nhiên, chúng ta có quyền hy vọng về một tương lai
với nhiều chuyển biến tích cực hơn trong công tác quy định pháp luật và hoạt động quản lý đối
với Văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài, góp phần đẩy mạnh, phát triển nền kinh tế
nước nhà.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status