Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU....................................................................................................1
B. NỘI DUNG.................................................................................................1
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN........................................................................................1
II. VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ “ ĐỊA - VĂN HÓA”......................2
1. Vùng văn hóa Tây Bắc............................................................................3
2. Vùng văn hóa Việt Bắc............................................................................4
3. Vùng văn hóa Bắc Bộ..............................................................................5
4. Vùng văn hóa Trung Bộ...........................................................................8
5. Vùng văn hóa Tây Nguyên....................................................................10
6. Vùng văn hóa Nam Bộ...........................................................................11
III. SO SÁNH VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
TỪ GÓC ĐỘ ĐỊA - VĂN HÓA.........................................................................16
1. Văn hóa Đông Nam Á từ góc độ địa - văn hóa.....................................16
2. Sự giống nhau giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á từ
góc độ địa - văn hóa........................................................................................20
3. Sự khác nhau giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á từ
góc độ địa - văn hóa........................................................................................21
C. KẾT LUẬN...............................................................................................24
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................25
PHỤ LỤC......................................................................................................26
0
của ông qua bản dịch tiếng Anh của Josée Pénot - Demetry, xuất bản ở New
York năm 2005 về vấn đề địa - văn hóa. Trong đó ông có nói địa - văn hóa là
một khái niệm mới. Đối với một số người, thuật ngữ này có vẻ như khó hiểu,
1
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
vì văn hóa (thuộc những giá trị tinh thần) và địa lý học (một ngành học thuộc
khoa học tự nhiên, gắn với không gian địa lý) khó có thể gắn kết với nhau.
Trong khuôn khổ của các ngành khoa học xã hội truyền thống, văn hóa
dường như “thuộc về” các nhà dân tộc học, nhân loại học và xã hội học.
Trong khi đó, tự nhiên và môi trường là lĩnh vực của các nhà địa lý học.
Thuật ngữ địa văn hóa là mới, nhưng ý niệm về nó lại không mới. Ở Pháp
vào thế kỷ XIX, Friedrich Ratzel đã đề cập đến địa lý nhân học, sau đó quan
niệm về địa văn hóa đến Pháp thông qua ảnh hưởng của nhân học Mỹ với
những đóng góp quan trọng về địa văn hóa của Carl Sauer - một học trò của
Ratzel. Với sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của văn hóa,các nhà địa lý học
nổi tiếng của Pháp ở Quebec đã có ảnh hưởng lớn đến sự phục hưng của
cách tiếp cận địa - văn hóa vào những năm 1980.
Còn để hiểu khái niệm đó theo cách hiểu đơn giản hơn thì địa - văn hóa là
một phương pháp dùng để định vị văn hóa theo vùng địa lý, đồng thời cũng
là phương pháp kiến giải các đặc điểm văn hóa dựa vào điều kiện địa lý và
hoàn cảnh tự nhiên. Hay hiểu theo cách khác thì muốn nghiên cứu một văn
hóa của một dân tộc, một cộng đồng thì ta phải biết một người, một cộng
đồng, một dân tộc sống trong một khu vực địa lý cụ thể.
II. VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ GÓC ĐỘ “ ĐỊA - VĂN HÓA”
Như ta có thể biết nền văn hóa luôn chịu sự chi phối đáng kể của hoàn
nước vào đồng với hệ thống tưới tiêu hợp lí; là nghệ thuật trang trí tinh tế
trên chiếc khăn piêu Thái, chiếc cạp váy Mường, bộ trang phục của người
H’Mông với những màu sắc sặc sỡ gam nóng, họa tiết bố cục và sắc màu
phong phú. Ai đã từng qua Tây Bắc đều không thể quên được hình ảnh
những cô gái Thái với những bộ váy áo thật rực rỡ đặc trưng cho Tây Bắc.
Con người vùng Tây Bắc luôn coi trọng những con suối, luôn sống chân
thật, giản dị và hòa thuận, kính trên nhường dưới, giúp đỡ vô tư, giữ gìn
thuần phong mĩ tục dù cho nền kinh tế thị trường có tác động mạnh mẽ. Họ
tín ngưỡng thờ cúng đa thần, lực lượng thiên nhiên, bộ phận cơ thể con
người và họ tin là có linh hồn, như người Thái đã tin rằng có 80 linh hồn: tai,
mắt, mũi, trán, lông mày, … Còn về văn hóa nghệ thuật thì nơi đây có những
tác phẩm truyền miệng vô cùng phong phú và những tác phẩm truyện thơ nổi
3
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
tiếng như : Tiễn dặn người yêu, Tiếng hát làm dâu, Vườn hoa núi cối,..Bên
cạnh đó còn nổi tiếng với điệu múa xòe tiêu biểu là điệu múa xòe hoa rất nổi
tiếng được nhiều người biết đến với 32 điệu xòe của Thái; múa khèn của
H’Mông; múa bông, múa sạp của Mường.
2. Vùng văn hóa Việt Bắc
Khu vực Việt Bắc nằm ở vị trí có vĩ độ cao nhất cả nước. Là khu vực bao
gồm hệ thống núi non hiểm trở bên tả ngạn sông Hồng. Địa hình Việt Bắc có
cấu trúc theo kiểu cánh cung tụ lại ở Tam Đảo, các cánh cung này mở ra ở
phía Bắc và đông Bắc, phần hướng lồi quay ra biển. Hiện nay, nói tới Việt
Bắc là nói tới địa bàn của sáu tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng
Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang. Cư dân chủ yếu là người Tày và Nùng. Ngoài
cận đại có chữ Nôm; giai đoạn hiện đại có chữ thêm chữ Latinh. Năm 1960,
Đảng và Nhà nước ta đã giúp người Tày - Nùng xây dựng hệ thống chữ viết
theo lối chữ Quốc ngữ. Văn học Việt Bắc khá đa dạng về thể loại, phong phú
về số lượng tác phẩm, như thành ngữ, tục ngữ, truyện cổ tích, nói ví,... Riêng
dân ca, là loại phong phú và khá riêng biệt được viết trên nền giấy vải khá
công phu. Đặc biệt, lời ca giao duyên : lượn coi và lượn lương, là những thể
loại tiêu biểu được các thế hệ trẻ Tày - Nùng ưa chuộng.
Lễ hội của cư dân Tày-Nùng rất phong phú. Ngày hội của toàn cộng đồng
là hội Lồng tồng (hội xuống đồng), diễn ra gồm hai phần : Lễ và hội. Nghi lễ
chính là rước thần đình và thần nông ra nơi mở hội ở ngoài đồng. Một bữa
ăn được tổ chức ngay tại đây. Phần hội căn bản là các trò chơi như đánh
quay, đánh yến,v.v…Nói đến sinh hoạt văn hóa của cư dân vùng này, không
thể không nói đến sinh hoạt hội chợ vì đó là nơi để trao đổi hàng hóa, nhưng
cũng là nơi để nam nữ thanh niên trao duyên, tỏ tình. Và có thể coi đây như
là một sinh hoạt văn hóa đặc thù của vùng Việt Bắc.
3. Vùng văn hóa Bắc Bộ
Bắc Bộ nằm ở vùng cực Bắc lãnh thổ Việt Nam, có phía Bắc giáp Trung
Quốc, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp biển Đông. Bao gồm đồi núi, đồng
bằng, bờ biển và thềm lục địa. Có bề mặt thấp dần, xuôi theo hướng Tây Bắc
- Đông Nam, được thể hiện thông qua hướng chảy của các dòng sông lớn.
Nó là tâm điểm của con đường giao lưu quốc tế theo hai trục chính : TâyĐông và Bắc-Nam. Vị trí này khiến cho nó trở thành vị trí tiền đồn để tiến
5
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
tới các vùng khác trong nước và Đông Nam Á, là mục tiêu xâm lược đầu tiên
của tất cả bọn xâm lược muốn bành trướng thế lực vào lãnh thổ Đông Nam
tín ngưỡng của cư dân nơi đây là thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ các ông tổ
nghề,…Các tín ngưỡng này tiềm ẩn trong tâm thức con người và tồn tại
trong lễ Hội như các lễ thức thờ Mẹ Lúa, thờ thần mặt trời, các trò diễn
7
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
mang tính chất phồn thực như múa gà phủ, múa các vật biểu trưng âm,
dương vật v.v... Chính vì vậy mà lễ hội ở Bắc Bộ có thể ví như một bảo tàng
văn hóa tổng hợp lưu giữ khá nhiều các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư
dân nông nghiệp. Bên cạnh đó, sự phát triển của giáo dục, thành nhân tố tác
động tạo ra một tầng lớp trí thức ở Bắc Bộ. Năm 1078, Văn Miếu đã xuất
hiện, năm 1076 đã có Quốc Tử Giám, v.v.. đã tạo ra cho xứ Bắc một đội ngũ
trí thức đông đảo, trong đó có nhiều danh nhân văn hóa tầm cỡ trong nước,
ngoài nước. Vì vậy mà mọi người luôn cho rằng Bắc Bộ là cái nôi hình thành
dân tộc Việt, cũng là nơi sinh ra các nền văn hóa lớn, phát triển nối tiếp.
4. Vùng văn hóa Trung Bộ
Miền Trung Việt Nam có phía Bắc giáp khu vực đồng bằng Sông Hồng
và Trung du miền núi vùng Bắc Bộ; phía Nam giáp các tỉnh Bình Phước,
Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu của vùng Nam Bộ; phía Đông giáp Biển
Đông; phía Tây giáp 2 nước Lào và Campuchia. Dải đất miền Trung được
bao bọc bởi những dãy núi chạy dọc bờ phía Tây và sườn bờ biển phía Đông,
vùng có chiều ngang theo hướng Đông - Tây hẹp nhất Việt Nam. Địa hình
miền Trung chia cắt theo chiều dọc Bắc Nam, bởi các đèo là những dãy núi
tách từ Trường Sơn đâm ngang ra biển. Suốt dải đất miền Trung Bộ, đường
bờ biển Việt Nam "ưỡn" cong, "lồi" ra phía sau Biển Đông. Sát bờ biển, từ
Quảng Bình trở vào Nam, Ngãi, Bình, Phú có các dải cồn cát chạy dọc dài
So với thiên nhiên Bắc Bộ và Nam Bộ, Trung Bộ là vùng đệm, mang tính
chất trung gian. Vì thế mà vùng văn hóa Trung Bộ còn ảnh hưởng bởi sự đa
dạng của thiên nhiên nơi đây. Yếu tố biển, sông, đầm, đồng bằng, núi non
đều ánh xạ vào trong các thành tố văn hóa, từ diện mạo đến các phương diện
khác. Có thể thấy ngay điều này từ diện mạo các loại hình văn hóa, với
Trung Bộ, làng làm nông nghiệp tồn tại đan xen với làng của ngư dân. Bên
cạnh lễ cúng đình của làng nông nghiệp là lễ cúng cá ông của làng nghề đánh
cá. Điều này là đương nhiên, bởi lẽ, đồng bằng Trung Bộ thường là đồng
bằng nhỏ hẹp, sát biển.
Trong văn hóa đời thường, bữa ăn của cư dân Việt Trung Bộ đã bắt đầu
có sự thay đổi, nghiêng về các hải sản, đồ biển. Nói cách khác, yếu tố biển
đã đậm đà hơn trong cơ cấu bữa ăn của cư dân ở đây. Mặt khác, người dân
Việt Trung Bộ, do tính chất khí hậu, nói rộng hơn là điều kiện tự nhiên chi
9
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
phối, nên sử dụng nhiều chất cay trong bữa ăn. Tóm lại, vùng văn hóa Trung
Bộ có những đặc điểm riêng của mình, khi đặt trong tương quan với các
vùng văn hóa khác.
5. Vùng văn hóa Tây Nguyên
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía
đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh
Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây
giáp với Lào và Campuchia. Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh là Kon Tum, Gia
Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Thực chất, Tây Nguyên không phải
là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề như cao
trúc độc đáo, đó là những Nhà rông “có một không hai” của đồng bào Ba Na,
Xơ Đăng, Gié-Triêng, là biểu tượng của núi rừng hoang sơ hùng vĩ, nơi tập
trung các hoạt động sinh hoạt cộng đồng, văn hóa, tín ngưỡng, được coi là
“con mắt sáng”, vì nhà này luôn quay hướng về phía mặt trời mọc. Cốt cách
người Tây Nguyên như cây rừng, như gió núi. Nó không chỉ biểu hiện qua
dáng nhà hay dáng các chàng trai vạm vỡ, các cô gái khỏe khoắn đầy sức
sống. Các nhà nghiên cứu không thể bỏ qua các bộ sử thi vô cùng hoành
tráng qua các luật tục (tập quán pháp) có từ bao đời trên mảnh đất này, v.v.
Các cộng đồng cư dân nơi đây chủ yếu sống bằng canh tác nông nghiệp
truyền thống. Họ đã phát triển nhiều loại hình nghề thủ công, sáng tạo ra
nhiều phong cách trang trí và các kiểu nhà ở truyền thống độc đáo của mình.
Tín ngưỡng chủ đạo của cư dân nơi đây xuất phát từ tục thờ cúng tổ tiên,
shaman giáo và thờ cúng vật linh. Gắn bó mật thiết với cuộc sống hằng ngày
của cư dân và chu kỳ các mùa trong năm, những tín ngưỡng này hình thành
nên một thế giới thần bí, nơi mà những chiếc cồng chiêng là chiếc cầu nối
thông linh giữa con người, thần linh và thế giới siêu nhiên. Chứa đựng bên
trong mỗi chiếc chiêng, chiếc cồng là một vị thần. "Cồng chiêng càng già thì
thần linh càng mạnh và càng thiêng". Hầu như nhà nào cũng có cồng chiêng,
thậm chí có gia đình có tới vài bộ. Điều này thể hiện sự giàu có và quyền thế,
đồng thời cũng là vật che chắn, bảo vệ cho gia đình.
6. Vùng văn hóa Nam Bộ
Địa hình trên toàn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng, phía Tây giáp Vịnh
Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc
11
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
măng cụt, vú sữa, chôm chôm,.v.v. Nam Bộ cũng là vùng trồng cây công
nghiệp lớn nhất cả nước như cao su, điều, đậu phộng, tiêu,.v.v..Ngoài ra còn
có mía và thuốc lá cũng được trồng rất nhiều ở vùng này, huyện Chợ Lách
(Bến Tre) còn là nơi trồng các loại hoa kiểng, bonsai nổi tiếng.
Sở hữu một vùng sông nước lắm thuỷ sinh và được biển bao quanh hai
phía, Nam Bộ cũng là một ngư trường giàu có nhất nước, là cơ sở đề phát
triển các nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản. Nhờ đó mà chế biến
thuỷ sản rất phát triển, Nước mắm Phú Quốc là một thương hiệu nổi tiếng cả
nước và quốc tế,.. Ngoài ra, do tôm cá dồi dào nên Nam Bộ cũng là nơi có
nhiều sân chim nhất trong cả nước. Mỗi sân chim là nơi trú ngụ của hàng
trăm ngàn chim thú hoang dại cùng với thảm thực vật phong phú của môi
trường đồng bằng và ven biển nhiệt đới gió mùa.
Các nghề thủ công truyền thống cũng khá phát triển. Nhiều làng nghề
truyền thống với các nghệ nhân điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và tranh sơn mài.
Từ xa xưa các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài và điêu khắc,.. đã tham gia
hội chợ quốc tế, đã xuất khẩu sang Pháp và nhiều nước trong khu vực.
Việc giao thương của vùng cũng mang đặc thù sông nước. Từ xưa, các
trung tâm giao thương lớn của vùng đều được hình thành ven bờ sông rạch,
thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa. Đặc biệt ở miền Tây còn có các chợ
nổi mà toàn bộ hoạt động đều diễn ra trên sông nước như Chợ nổi Long
Xuyên (An Giang) là nơi hàng trăm ghe xuồng tụ tập để buôn bán hàng hoá
nông sản như bánh canh ngọt, lạt, bánh tầm, bánh bò, hủ tiếu, chè đậu đỏ, cà
phê... ,chợ nổi Cái Bè (Tiền Giang), chợ nổi Phụng Hiệp (Hậu Giang)... Là
nơi "dân thương hồ" lui tới mưu sinh, chợ nổi đã trở thành một nét sinh hoạt
văn hoá rất đặc thù của miền Tây sông nước, và được ngành du lịch khai
trọng nghĩa, khinh tài, thích ăn chơi xả láng, v.v.
Lễ hội của người Việt Nam Bộ cũng rất đa dạng, bao gồm bốn loại: lễ hội
tín ngưỡng - tôn giáo, lễ hội nông nghiệp, lễ hội ngư nghiệp, lễ hội văn hoá lịch sử. Tất cả đều mang sắc thái Nam Bộ mặc dù nhiều lễ hội bắt nguồn từ
Trung Bộ.
Nam Bộ có một kho tàng văn học, văn nghệ dân gian phong phú. Đó là
các truyện dân gianphản ánh sự nghiệp khai phá đất đai, gắn liền với những
danh thắng, di tích và nhân vật lịch sử. Đó là kho tàng ca dao và dân ca với
14
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
các điệu hò, điệu lý, các bài hát huê tình, hát ru em, hát đồng dao, hát sắc
bùa, hát thài, hát rối, hát vọng cổ, hát tài tử, v.v Ngoài ra, Nam Bộ còn có
một số thể loại văn học dân gian đặc sắc khác là nói vè, nói tuồng, nói thơ.
Truyện thơ và hình thức diễn xướng nói thơ cũng là một hoạt động văn nghệ
dân gian phổ biến tại Nam Bộ, với các truyện thơ nổi tiếng như Lục Vân
Tiên, Phạm Công - Cúc Hoa,…Ca nhạc tài tử phát sinh từ Gia Định rồi lan
đến các tỉnh miền Tây, là một trong những cội nguồn của nghệ thuật cải
lương là loại hình sân khấu mới ra đời tại Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX.
Là vùng đất mới, nhưng Nam Bộ cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử - văn
hoá như Văn miếu Trấn Biên, đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở Đồng Nai; di tích
Rạch Gầm-Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, luỹ Pháo Đài, lăng Hoàng Gia, lăng
Trương Định,...Gần đây, một số địa phương ở Nam Bộ đã tiến hành phục
dựng, trùng tu các di tích này để tôn vinh những người có công đối với lịch
sử và văn hoá của vùng đất phương Nam.
Ẩm thực của người Việt Nam Bộ cũng theo truyền thống bảo đảm cân
bằng âm dương và theo quy luật ngũ hành tương sinh tương khắc của người
Việt ở Nam Bộ và văn hoá Nam Bộ nói chung.
III. SO SÁNH VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
TỪ GÓC ĐỘ ĐỊA - VĂN HÓA
1. Văn hóa Đông Nam Á từ góc độ địa - văn hóa
Khu vực Đông Nam Á từ xưa, trong các sách cổ của Ấn Độ đã được nói
đến với những cái tên như Suvarnabhumi (đất vàng) hay Suvarnadvipa (Đảo
vàng), người Trung Hoa thì gọi là Nam Dương, người Nhật Bản cũng dùng
từ Nan Yo để chỉ Đông Nam Á, còn người Hy Lạp, La mã từ giữa thế kỷ II
TCN cũng gọi là Chryse (đất vàng). Như vậy là từ xa xưa, thế giới đã biết
đến khu vực văn hóa Đông Nam Á. Sở dĩ như vậy là vì tầm quan trọng về
mặt vị trí địa lý của khu vực Đông Nam Á, vốn đã được chú ý đến từ rất lâu.
Đông Nam Á thường được gọi là “ngã tư đường”, “hành lang” hay “cầu nối”
giữa thế giới Đông Á với Tây Á và Địa Trung Hải. Ngoài 11 nước Đông
Nam Á hiện nay thì Đông Nam Á cổ đại được xác định phía Bắc gồm toàn
vùng Hoa Nam Trung Quốc (phía Nam sông Dương Tử), đảo Đài Loan, một
số lảnh thổ ở Đông Bắc Ấn Độ, quần đảo Andaman và Nicoba trong vịnh
Bengal, châu Đại Dương và cả đảo Madagasca ở Đông Nam châu Phi (tổ
16
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
tiên chính là người Mã Lai di cư sang). Đông Nam Á là chỗ giao nhau của
nhiều mảng địa chất có núi lửa và động đất hoạt động mạnh. Các quốc gia
của khu vực được chia ra làm hai nhóm chính: Myanma, Thái Lan,
Campuchia, Lào và Việt Nam nằm ở Đông Nam Á lục địa, còn gọi bán đảo
Trung Ấn, các nước còn lại tạo nên Quần đảo Mã Lai. Quần đảo này được
hình thành bởi nhiều cung đảo thuộc về vành đai núi lửa Thái Bình Dương.
giao lưu này, văn hóa Đông Nam Á đã đạt được những thành tựu mới mẻ
trong quá trình phát triển của mình. Sau đây là một số điểm tiêu biểu được
thể hiện:
Về ngôn ngữ - chữ viết: Sự đa dạng của ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ
các quốc gia Đông Nam Á hiện có tới hàng chục, thậm chí hàng trăm ngôn
ngữ khác nhau. Như ở Indonesia có đến 200 ngôn ngữ dân tộc khác nhau
cùng tồn tại; ở Philippin củng có tới 80 ngôn ngữ dân tộc khác nhau (1998).
Tương tự, các quốc gia Đông Nam Á khác cũng là các quốc gia đa ngôn ngữ.
Tuy nhiên, các ngôn ngữ Đông Nam Á đều chỉ thuộc về một trong số 4 ngữ
hệ sau đây: Nam Á, Nam Đảo, Thái, Hán - Tạng. Và xa hơn nữa, chúng đều
bắt nguồn từ một nguồn gốc chung là ngôn ngữ Đông Nam Á tiền sử. Đó là
một sự thống nhất cao độ. Về chữ viết, từ đầu công nguyên, khi cần ghi chép
các dân tộc Đông Nam Á đã vay mượn chữ Hán và chữ Pali – Sanskrit (ở
các nước khác) của Trung Hoa, Ấn Độ để xây dựng chữ viết riêng cho dân
tộc mình. Tuy nhiên, từ thế kỷ XIII , chữ viết Ả Rập đã ảnh hưởng mạnh mẻ
đến các quốc gia hải đảo như Malaysia, Indonesia. Từ thế kỷ XVI, với sự
can thiệp của các quốc gia phương tây, chữ viết của các quốc gia Đông Nam
Á được chuyển đổi theo hướng Latinh hóa (chữ viết Brunay, Malaysia,
Indonesia, Philippin và Việt Nam) được sử dụng ngày nay.
Về phong tục tập quán: Ở Đông Nam Á có đến hàng trăm dân tộc khác
nhau, vì thế phong tục, tập quán rất đa dạng, tạo nên một bức tranh đa sắc.
Mặc dù rất đa dạng, song những tập tục ấy vẫn có nét gần gũi, tương đồng
nhau, là mẩu số chung quy tụ, giao thoa trên nền tảng của cơ sở văn hóa bản
địa Đông Nam Á - một nền tảng văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. Đó là
cách ăn mặc với một bộ trang phục chung là Sàrông (váy), khố, vòng đeo tai,
vòng đeo cổ,… Đó là tục ăn uống với các thức ăn chính là cơm, rau, cá, thịt
và hoa quả; đó là tục ăn hỏi trước khi tổ chức đám cưới linh đình; tục chôn
18
của Đông Nam Á có rất nhiều yếu tố chung, làm nên cái “khung” Đông Nam
Á, song cũng có không ít những yếu tố đặc sắc, riêng biệt tiêu biểu cho mỗi
19
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
quốc gia, mỗi dân tộc. Nói cách khác văn hóa Đông Nam Á là nền văn hóa
thống nhất trong sự đa dạng.
2. Sự giống nhau giữa văn hóa Việt Nam và văn hóa Đông Nam Á từ góc
độ địa - văn hóa
Xét từ trong cội nguồn, không gian văn hóa Việt Nam vốn được định hình
trên nền của không gian văn hóa khu vực Đông Nam Á. Ta có thể hình dung
không gian văn hóa khu vực Đông Nam Á này như một hình tròn bao quát
toàn bộ Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo.
Do vị trí đặc biệt của mình, Việt Nam nằm giữa trung tâm của khu vực
Đông Nam Á, là nơi giao điểm của các luồng văn hóa và ảnh hưởng trực tiếp
khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều của khu vực này nên theo quy luật tự
nhiên Việt Nam là nơi hội tụ gần như đầy đủ mọi đặc trưng của khu vực
Đông Nam Á, vì vậy mà không phải vô cớ mà các nhà Đông Nam Á học lại
nói một cách hình ảnh rằng “ Việt Nam là một Đông Nam Á thu nhỏ giống
như một Đông Nam Á thu nhỏ”. Vì là một nước thu nhỏ của Đông Nam Á
cho nên nền văn hóa của Việt Nam cũng có một số nét đặc trưng giống với
nền văn hóa Đông Nam Á.
Như ta đã biết, ở giai đoạn văn hóa tiền sử của cư dân Đông Nam Á thì
thành tựu lớn nhất của họ là sự hình thành nghề nông nghiệp trồng lúa nước.
Các tác giả Lịch sử Việt Nam khẳng định: “ trên cơ sở kinh tế hái lượm phát
triển ở vùng rừng nhiệt đới , các bộ lạc Hòa Bình đã thực hiện một bước
Nhìn từ góc độ địa lý, ta có thể thấy Việt Nam nằm ở bờ Tây của Thái
Bình Dương, cực nam của đại lục Trung Hoa, cực bắc của vùng bán đảo và
quần đảo Đông Nam Á. Chính tính chất “ngã tư” này tạo cho nó sức sống và
động lực phát triển. Bốn dòng văn hóa lớn nhất Ấn - Hoa - Cận Đông - Tây
đi qua, đan chéo nhau ở ngã tư này. Có thể nói mọi nền văn minh đều đi qua
ngã tư Việt Nam này nhưng khác với các ngã tư biến thành phố thị thành
trung tâm lớn thì ngã tư Việt Nam vẫn chỉ là ngã tư để đi qua, để quá cảnh.
Việt Nam không theo Phật đậm như Campuchia, không Khổng đậm như Hàn
Quốc, không Kitô đậm như Philippines và không Hồi giáo đậm như
Indonesia. Từ đó có thể thấy được có nhiều nét văn hóa của Việt Nam khác
hoàn toàn với nền văn hóa Đông Nam Á, dưới đây là một số dẫn chứng về
sự khác nhau ấy:
21
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
+ Thứ nhất là về nét độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên so với các
nước Đông Nam Á : Sự độc đáo và khác biệt cơ bản giữa cồng chiêng Tây
Nguyên đối với cồng chiêng của các nước trong khu vực Đông Nam Á ngoài
sự gắn kết với không gian văn hóa, là sự phong phú trong cơ cấu của các dàn
chiêng (người Gia-rai tồn tại 5 dàn công chiêng khác nhau) và nhất là sự
khác biệt trong cách thức diễn tấu,nhạc công ở đây mỗi người chỉ đánh 1
cồng. Còn cồng chiêng của các nước Đông Nam Á lục địa : Lào, Campuchia,
Thái Lan, Myanma; các nước hải đảo như Indonesia, Philippines, Malaysia
với các đàn chiêng như Gamelan, Gong Kebyar,…ngoài 1 đến 2 chiếc cồng
lớn là đa phần cồng có núm nhỏ,...dàn cồng chiêng của họ được cấu tạo như
một cây đàn gõ ra giai điệu, nhạc công thì có thể 1 mình gõ cá dàn cồng. Và
chuộng…Các nhân vật chính trị không quyết liệt độc tài độc đoán như
Campuchia mà phần lớn vua Việt Nam được đánh giá là hiền lành, nhân đức.
Trong tôn giáo Việt Nam thì có sự hòa trộn khéo léo, ít tính cuồng tín như
Myanma, mà chỉ tin vừa phải, lỏng lẻo. Về xung đột tôn giáo thì không bao
giờ quyêt liệt, chất tâm linh thần bí không sâu như Ấn Độ, tính thực dungk
duy lợi, ý chí, mưu mô như Trung Hoa.
+ Thứ tư đó là về ngôn ngữ: Về nguồn gốc, tiếng Việt thuộc dòng MônKhmer của ngữ hệ Đông Nam Á, sau chuyển biến thành Việt-Mường (Việt
cổ) sau đó đến thời Bắc thuộc,ngôn ngữ chính thống là chữ Hán nhưng nó
không phải là chữ Hán của Đông Nam Á mà là chữ Hán đọc theo cách của
người Việt ( Hán-Việt) bằng nhiều cách tạo ra từ Việt thông dụng. Sau đó nó
được thay thế bởi tiếng Pháp trong thời kỳ Pháp thuộc. Cuối cùng vào thế kỷ
XVII, ra đời chữ Quốc ngữ và là tiếng Việt ngày nay.
+ Ngoài ra cộng đồng người Việt được tổ chức theo các đơn vị cơ bản là
làng. Các nhà nghiên cứu về làng xã Việt cũng đã thừa nhận rằng:“ Làng
kiểu Việt Nam, nhất là ở Bắc Bộ không thấy ở nơi nào khác trên thê giới.”
Làng phát triển nhất cũng không phải là tiền thân đô thị phong kiến hay tư
bản như ở các nước khác, nó chỉ là nơi hội tụ, cố kết các phong tục tập quán
và những thành tựu văn hóa dân gian.
Như vậy có thể nói Văn hóa dân tộc Việt Nam nảy sinh từ một môi
trường sống cụ thể như là ở xứ nóng, nhiều sông nước, nơi gặp gỡ của nhiều
nền văn minh lớn. Điều kiện tự nhiên như nhiệt, ẩm, gió nùa,…đã tác động
23
Bài tập lớn học kỳ
ĐCVHVN – Lớp N03
không nhỏ đến đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc, đến tính
cách và tâm lý con người Việt Nam.