MỤC LỤC
Nội dung
1. Mở đầu.
1.2. Lý do chọn đề tài.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1. Cơ sở lý luận.
2.2. Thực trạng vấn đề.
2.3. Các giải pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề:
2.3.1. Bài toán về hỗn hợp hai kim loại tác dụng với dung dịch chứa
một muối.
2.3.2. Bài toán về một kim loại tác dụng với dung dịch chứa nhiều
muối (thường là 2 muối).
2.3.3. Bài toán về một kim loại tác dụng với dung dịch chứa một
muối.
2.3.4. Hiệu quả việc triển khai đề tài.
3. Kết luận, Kiến nghị.
3.1. Kết luận.
3.2. Kiến nghị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
1
1
1
2
2
2
Một trong những cách đem lại hiệu quả dạy-học là hình thành cho học
sinh kĩ năng xử lý các dạng bài tập một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Để làm
được điều này, học sinh cần nắm vững kiến thức hoá học, biết khai thác, vận
dụng để giải quyết vấn đề gặp phải, đặc biệt biết vận dụng để giải toán nhanh
trong các kỳ thi là một nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng. Trong quá trình
giảng dạy môn hoá học ở bậc THCS, bên cạnh việc khắc sâu kiến thức giáo
viên còn phải giúp học sinh có thể tự nghiên cứu, tự học tập và áp dụng cho
những trường hợp khác. Đối với giáo viên trong quá trình giảng dạy trên lớp
cũng như khi ôn thi cho học sinh, cần phải tìm hiểu các dạng bài tập, tìm ra
phuơng pháp giải nhanh giúp học sinh dễ tiếp thu và vận dụng trong qua trình
giải toán hoá học một cách đơn giản và hiệu quả nhất.
Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy đa số học sinh thực sự lúng túng
khi giải bài tập hóa học nói chung và các bài tập liên quan đến kim loại tác dụng
với dung dịch muối nói riêng. Vì vậy tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm
hướng dẫn học sinh giải các bài toán về kim loại tác dụng với dung dịch muối”
Đề tài này giúp học sinh có được một số kĩ năng xử lí các bài toán có liên quan
đến kim loại một cách khoa học nhất, tránh phải biện luận nhiều trường hợp làm
mất thời gian và tính toán phức tạp. Đồng thời giúp học sinh có khả năng tư duy
độc lập để vận dụng trong những các trường hợp khác.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Giúp học sinh hệ thống lại được các dạng bài toán kim loại tác dụng với
muối và xây dựng được phương pháp giải cho từng dạng. Trong đề tài này tôi
xin chia ra ba dạng bài toán kim loại tác dụng với dung dịch muối như sau:
- Một kim loại tác dụng với dung dịch chứa một muối.
1
- Một kim loại tác dụng với dung dịch chứa nhiều muối.
- Hỗn hợp kim loại tác dụng với dung dịch chứa một muối (đã thực hiện
trong năm học 2014 - 2015).
Kim loại mạnh
Kim loại yếu
- Thứ tự phản ứng: Kim loại mạnh hơn sẽ phản ứng trước; muối của kim
loại yếu hơn sẽ phản ứng trước.
- Xác định kim loại trong hỗn hợp chất rắn sau phản ứng: Hỗn hợp kim
loại sau phản ứng chắc chắn phải có kim loại yếu nhất trong số các kim loại
trong đề bài (cả kim loại đã tạo muối)
- Xác định muối trong dung dịch sau phản ứng: Dung dịch sau phản ứng
chắc chắn phải có muối của kim loại mạnh nhất.
2.2. Thực trạng của vấn đề:
Qua nhiều năm giảng dạy tôi nhận thấy: Khi giải dạng bài tập này học
sinh thường chia rất nhiều trường hợp để giải. Việc này vừa tốn thời gian vừa dễ
sai xót. Ví dụ: Đối với bài tập: “Cho 2,144 g hỗn hợp A gồm Fe và Cu tác dụng
với 0,2 lít dung dịch AgNO3, Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được
dung dịch B và 7,168 gam chất rắn C. Cho B tác dụng với dung dịch NaOH dư,
lọc kết tủa, nung trong không khí đến khối lượng không đổi thu được 2,56 gam
chất rắn”. Tính phần trăm khối lượng của mỗi kim loại trong A. Khi làm bài này,
học sinh thường chia thành 5 trường hợp như sau:
- Fe dư, Cu chưa phản ứng; AgNO3 hết => C gồm Ag, Cu và Fe dư.
- Cu đã phản ứng nhưng còn dư Fe và AgNO3 hết => C gồm Ag và Cu dư.
- AgNO3 dư, Fe và Cu hết => C chỉ có Ag
- Fe và AgNO3 phản ứng vừa đủ => C gồm Ag và Cu
- Cu và AgNO3 phản ứng vừa đủ => C chỉ có Ag.
Nếu làm theo 5 trường hợp như vậy thì bài toán sã rất dài và việc tính toán
cũng rất phức tạp. Chính vì vậy tôi xin đưa ra một số phương pháp để giải quyết
các bài tập thuộc dạng này như sau:
3
Fe + 2AgNO3 Fe(NO3)2 + 2Ag
Cu + 2AgNO3 Cu(NO3)2 + 2Ag
AgNO3 + Fe(NO3)2 Fe(NO3)3 + Ag
Theo bài ra ta thấy moxit > mkim loại
Giả sử AgNO3 dư => Fe và Cu phản ứng hết. Gọi a, b lần lượt là số mol
của Fe và Cu trong hỗn hợp ban đầu (a>0; b>0). Ta có: 56a + 64b = 2,144 (1)
PTHH: Fe + 2AgNO3 Fe(NO3)2 + 2Ag
a
2a
Cu + 2AgNO3 Cu(NO3)2 + 2Ag
b
2b
Trong C chỉ có Ag với số mol là 2a + 2b => mAg= 108.2(a+b) = 7,168 (2)
Từ (1) và (2) ta có:
4
Giải hệ phương trình trên ta được a= -0,0025 không thỏa mãn. Vậy điều
giả sử là sai, có nghĩa là AgNO 3 phản ứng hết. Sắt chắc chắn đã tham gia phản
ứng, đồng có hoặc không.
Gọi x, y lần lượt là số mol của Fe và Cu phản ứng (x>0; y≥0, y>0 thì Cu
tham gia phản ứng, y=0 thì đồng không tham gia). Ta có:
mkim loại dư=2,144-(56x+64y)
mC=108x2(x+y)+[2,144-(56x+64y)]=7,168
=> 20x+19y =0,628 (3)
Dung dịch B gồm: x mol Fe(NO3)2; y mol Cu(NO3)2
Fe(NO3)2 Fe(OH)2 Fe2O3
x
0,5x
Cu(NO3)2 Cu(OH)2 CuO
loãng, lọc kết tủa mới tạo thành. Nung kết tủa đó trong không khí ở nhiệt độ cao
đến khối lượng không đổi thu được 0,7 gam chất rắn D. Biết các phản ứng xảy
ra hoàn toàn. [3]
1. Tính thành phần phần trăm về khối lượng của các kim loại trong hỗn
hợp ban đầu?
2. Tính nồng độ mol của dung dịch CuCl2? [3]
HƯỚNG DẪN GIẢI
Cu
5
Các phản ứng có thể xảy ra theo thứ tự sau:
Mg + CuCl2 MgCl2 + Cu
Fe + CuCl2 FeCl2 + Cu
Ta thấy: Các chất trong D phải chứa 2 thành phần là kim loại và oxi mà
mD0); y là số mol Cu phản ứng (y≥0). y>0 thì Cu
có tham gia phản ứng; y=0 thì Cu không tham gia phản ứng.
Chất rắn C gồm: (x+y) mol Cu và kim loại dư
Ta có: mC= 64(x+y) + [1,58-(24x+56y)]=1,92 => 5x+y=0,0425 (1)
Dung dịch B gồm x mol MgCl2 và y mol FeCl2
Ta có: MgCl2 Mg(OH)2 MgO
x
x
x
FeCl2 Fe(OH)2 Fe2O3
y
y
0,5y
HƯỚNG DẪN GIẢI
Các phản ứng có thể xảy ra theo thứ tự sau:
Mg + 2AgNO3 Mg(NO3)2 + 2Ag
Fe + 2AgNO3 Fe(NO3)2 + 2Ag
Theo bài rat a thấy moxit>mhỗn hợp kim loại
Giả sử AgNO3 dư, Mg và Fe phản ứng hết.
Gọi x là số mol Mg tham gia phản ứng (x>0)
Gọi y là số mol Fe tham gia phản ứng (y
Chất rắn C chỉ có 2(x+y) mol Ag
=> mCu= 2.108(x+y) => 216x + 1216y = 48,72 (1)
Mặt khác ta có: 24x + 56y = 12,88 (2)
2
6
Từ (1) và (2) ta có hệ phương trình:
Giải hệ phương trình trên ta được: x = -0,004; y= 0,23 không thỏa mãn. Vậy
điều giả sử là sai => AgNO3 phản ứng hết, Mg chắc chắn tham gia phản ứng, Fe
có thể phản ứng hoặc không.
Gọi a là số mol Mg phản ứng (a>0)
Gọi b là số mol Fe phản ứng (b≥0)
Chất rắn C gồm (a +b) mol Cu và kim loại dư nếu có.
Theo bài ra ta có: mkim loại dư = 12,88 – (24a + 56b)
mC = 108.2 (a + b) + [12,88 – (24a + 56b)]=48,72 =>192a + 160b = 35,84 (3)
Trong dung dịch D gồm a mol MgCl2 và b mol FeCl2
Ta có: MgCl2 Mg(OH)2 MgO
a
a
a
HƯỚNG DẪN GIẢI
2, 7
= 0,1
Số mol của Al là: 27
5, 6
= 0,1
Số mol của Fe là: 56
Số mol AgNO3 là: 0,55 x 1 =0,55
Vì Al HĐHH mạnh hơn Fe nên Al phản ứng trước:
Al + 3AgNO3 Al(NO3)3 + 3Ag (1)
1
3
3
0,1
0,3
0,3
Số mol AgNO3 còn lại sau khi phản ứng với Al là 0,55 – 0,3 = 0,25
Fe + 2AgNO3 Fe(NO3)2 + 2Ag (2)
1
2
2
7
0,1
0,2
0,2
Số mol AgNO3 còn lại sau khi tham gia 2 phản ứng trên là 0,05, khi đó xảy ra
phản ứng sau:
nFe =
Số mol AgNO3 là:
Vì Fe HĐHH mạnh hơn Cu nên phản ứng (1) xảy ra trước.
Fe + 2AgNO3 Fe(NO3)2 + 2Ag
0,15
2x0,15
0,15
Vây số mol AgNO3 sau phản ứng (1) là: 0,7 – 0,3 =0,4
Cu + 2AgNO3 Cu(NO3)2 +2Ag
0,1 2x0,1
Vậy số mol AgNO3 sau phản ứng (2) là: 0,4 – 0,2 =0,2
Vì AgNO3 vẫn còn nên xảy ra phản ứng (3)
AgNO3 + Fe(NO3)2 Fe(NO3)3 + Ag
0,15
0,15
Vậy sau phản ứng (3) AgNO3 vẫn dư. Chất rắn sau phản ứng chỉ có mình bạc với
số mol là: 0,3 + 0,2 + 0,15 = 0,65. Vậy m = 0,65x108=70,2 gam
Trường hợp 3: Đề bài không cho biết số mol các chất nhưng cho biết số
lượng kim loại có trong chất rắn sau phản ứng hoặc số lượng oxit hoặc đặc điểm
dung dịch. Dựa vào các dự kiện này ta xác định được chất nào dư.
Ví dụ 1: Cho hỗn hợp gồm Fe và Zn vào ducng dịch AgNO 3 đến khi phản ứng
hoàn toàn thu được đung dịch X gồm 2 muối và chất rắn Y gồm 2 kim loại. Xác
đinh công thức hóa học của 2 muối. [3]
HƯỚNG DẪN GIẢI
8
Đối với bài này ta làm như sau:
Do Zn HĐHH mạnh hơn Fe nên trong dung dịch X chắc chắn phải có
= 2, 275
64
2,24
Vậy khối lượng sắt trong hỗn hợp ban đầu là: 2,7 – 2,275 =0,425 gam
% mFe =
0, 425
.100% = 15, 74%
2, 7
=>
Ví dụ 3: Cho 4,15 gam hỗn hợp bột X gồm Al và Fe tác dụng với 200 ml
dung dịch CuSO4 0,525. Khuấy kỹ hỗn hợp để các phản ứng xảy ra hoàn toàn
thu được chất răn A gồm 2 kim loại có khối lượng là 7,84 gam và dung dịch B.
Tính phần trăm theo khối lượng của các kim loại trong A. [2]
HƯỚNG DẪN GIẢI
Có thể xảy ra các phản ứng sau:
2Al + 3CuSO4 Al2(SO4)3 + 3Cu
Fe + CuSO4 FeSO4 + Cu
Theo bài ra thì A chỉ chưa 2 kim loại và 2 kim loại đó là Cu và Fe dư.
Điều đó có nghĩa là CuSO4 và Al phản ứng hết.
Gọi x là số mol Al phản ứng (x>0)
Gọi y là số mol Fe phản ứng (y≥0)
9
Số mol CuSO4 ban đầu là: 0,2x0,525=0,105
2Al + 3CuSO4 Al2(SO4)3 + 3Cu
3x
Điểm mấu chốt của các bài tập thuộc trường hợp này là ta xác định được
kim loại hay muối phản ứng hết, xác định được các kim loại trong chất rắn thu
được sau phản ứng dựa vào các dữ kiện đã cho. Việc này hạn chế đượcviệc biện
luận dài dòng.
2.3.2. Bài toán về một kim loại tác dụng với dung dịch chứa nhiều muối
(thường là 2 muối).
Giả sử khi cho kim loại M vào dung dịch chứa 2 muối là M 1A1 và M2A2,
khi đó có thể xảy ra các phản ứng:
M + M1A1 ----> MA1 + M1 (1)
M + M2A2 ----> MA2 + M2 (2)
Mấu chốt để giải các bài tập dạng này là dựa vào dữ kiện đề ra (số kim loại sau
phản ứng, số muối sau phản ứng ...) để kết luận là sẽ xảy ra những phản ứng
nào. Riêng trường hợp M dư thì chắc chắn xảy ra cả 2 phản ứng trên. Trong
trường hợp không thể xác định được thì ta phải biện luận theo 3 trường hợp sau:
TH 1: Chỉ xảy ra phản ứng (1), nghĩa là phản ứng xảy ra vừa đủ, lúc đó dung
dịch sau phản ứng gồm: MA1, M2A2 chưa phản ứng và chất rắn chỉ có M1.
TH 2: Xảy ra cả 2 phản ứng (1) và (2). Lúc đó dung dịch thu được chỉ có MA1
và MA2 chất rắn gồm M1, M2 và có thể có M dư.
TH 3: Phản ứng (1) xảy ra hết và phản ứng (2) xảy ra một phần, lúc này. Lúc
đó dung dịch sau phản ứng gồm: MA1, MA2 và M2A2 dư, Chất rắn gồm M1 và
M2.
Ví dụ 1: Cho 2,24 gam bột sắt vào 200 ml dung dịch chứa hỗn hợp gồm AgNO 3
0,1M và Cu(NO3)2 0,5M. Sau khi các phản ứng xảy ra hoàn toàn, thu được dung
dịch X và m gam chất rắn Y. Tính giá trị của m? [3]
10
HƯỚNG DẪN GIẢI
Đối với bài này, dữ kiện đề cho chưa thể kết luận được xảy ra mấy phản
Ta có: Số mol AgNO3 = 0,03 mol; Số mol Cu(NO3)2 = 0,03 mol
Theo (1) số mol Al tham gia phản ứng là 0,01, số mol Ag tạo thành là 0,03
Theo (2) số mol Al tham gia phản ứng là 0,02, số mol Cu tạo thành là 0,03
Theo (3) số mol Al tham gia phản ứng là 0,01.
Vậy m1 = mAl = 0,04 x 27 = 1.08 gam
m2 = mAg + mCu + mAl dư = 0,03x108 + 0,03x64 + 0,01x27 = 5,43 gam.
Ví dụ 3: Cho m (g) bột Fe vào 100 ml dung dịch gồm Cu(NO 3)2 1M và AgNO3
4M. Sau khi kết thúc phản ứng thu được dung dịch 3 muối ( trong đó có một
muối của Fe) và 32,4 g chất rắn. Tính giá trị của m? [3]
HƯỚNG DẪN GIẢI
Khi cho Fe vào dung dịch gồm Cu(NO3)2 và AgNO3 có thể xảy ra 3 trường hợp
sau:
* Trường hợp 1
Fe + 2AgNO3 ----> Fe(NO3)2 + 2Ag
(1)
Fe + Cu(NO3)2 ----> Fe(NO3)2 + Cu
(2)
* Trường hợp 2
Fe + 2AgNO3 ----> Fe(NO3)2 + 2Ag
(1)
AgNO3 + Fe(NO3)2 ----> Fe(NO3)3 + Ag
(3)
Fe(NO3)2 phản ứng hết, AgNO3 dư
* Trường hợp 3
Fe + 2AgNO3 ----> Fe(NO3)2 + 2Ag
(1)
11
AgNO3 + Fe(NO3)2 ----> Fe(NO3)3 + Ag
chưa xác định được xảy ra bao nhiêu phản ứng. Vì vậy ta phải biện luận theo 3
trường hợp như sau:
TH1: Chỉ xảy ra phản ứng: Fe + 2AgNO3 Fe(NO3)2 + 2Ag
(1)
0,05
0,1
0,1
Chất rắn thu được chỉ có mình Ag và m Ag = 0,1 . 108 = 10,8 gam < 15,28 gam.
Trường hợp này không thỏa mãn.
TH2: Xảy ra các phản ứng: Fe + 2AgNO3 Fe(NO3)2 + 2Ag
(1)
0,05
0,1
0,1
Fe + Cu(NO3)2 Fe(NO3)2 + Cu
(2)
0,1
0,1
0,1
Chất rắn thu được gồm Ag và Cu, Khối lượng rắn = m Ag + mCu = 0,1.108 +
0,1.64 = 17,28 gam > 15,28 gam. Trường hợp này không thỏa mãn.
TH3: Sau phản ứng (2) Fe hết và Cu(NO 3)2 dư, với x là số mol Fe tham gia phản
ứng (2)
Fe + 2AgNO3 Fe(NO3)2 + 2Ag
(1)
0,05
0,1
0,1
Fe + Cu(NO3)2 Fe(NO3)2 + Cu
(2)
HƯỚNG DẪN GIẢI
Gọi a là số mol CuSO4 tham gia phản ứng
� FeSO4 + Cu
Phương trình hóa học:
Fe + CuSO4 ��
a
a
a
Theo đề bài ta có:
mCu baùm - mFe tan = mFe taêng
64a - 56a = 1,6 => a = 0,2
0, 2
n
Nồng độ mol/l CuSO4: CM = V = 0, 2 = 1 M
Ví dụ 2: Ngâm một lá Zn trong dung dịch có hòa tan 4,16gam CdSO 4. Phản ứng
xong khối lượng lá Zn tăng 2,35% so với ban đầu. Tính khối lượng lá Zn trước
khi phản ứng biết Cd có hóa trị II và Cd=112. [3]
HƯỚNG DẪN GIẢI
Gọi mbđ là khối lượng lá Zn ban đầu
m 4,16
n= M 208 = 0,02 mol
Số mol CdSO4
Phương trình hóa học:
Theo đề bài ta có:
lít = 50 ml
Ví dụ 4. Cho một thanh sắt nặng 20 gam vào 200ml dung dịch CuSO 4 0,5M.
Khi phản ứng xảy ra xong thì khối lượng thanh sắt sau khi đem ra khỏi dung
dịch và sấy khô là bao nhiêu? [3]
HƯỚNG DẪN GIẢI
Số mol CuSO4 = 0,5 . 0,2 = 0,1 mol
� ZnSO4 + Cubám
Phương trình hóa học:
Fetan + CuSO4 ��
0,1
0,1
0,1
Theo đề bài ta có:
mCu baùm = 64.0,1 = 6,4 gam
mFe tan = 56.0,1 = 5,6 gam
Như vậy sau phản ứng khối lượng thanh Fe đã tăng lên: 6,4 – 5,6 = 0,8 gam
=> Khối lượng thanh Fe khi lấy ra khỏi dung dịch là: 20 + 0,8 = 20,8 gam
2.4. Hiệu quả của việc triển khai đề tài.
Trong những năm gần đây, Bộ GD&ĐT đã áp dụng hình thức thi trắc
nghiệm khách quan cho bộ môn Hóa ở bậc THPT nên để đạt điểm cao trong các
kỳ thi đòi hỏi học sinh phải có kỹ năng giải bài tập thật nhanh. Vì vậy, việc trang
bị cho các em kỹ năng giải nhanh các bài tập hóa học ở bậc THCS là điều cần
thiết. Sau thời gian áp dụng vào việc ôn tập cho học sinh, tôi nhận thấy đa số các
em không còn “sợ” bài tập về kim loại tác dụng với muối (Sau khi học xong tính
chất hóa học của kim loại phần lớn các bài tập về kim loại tác dụng với dung
dịch muối các em đều không làm được). Phần lớn các em đã hình thành được kỹ
năng giải các dạng bài tập này. Điều này rất có ích cho các em khi học môn hóa
ở bậc THPT.
Trong năm học 2014 - 2015, tôi đã triển khai áp dụng tại trường THCS
được các bài tập thuộc
dung dịch chưa 1
các bài tập thuộc dạng này.
dạng này.
muối
Bài tập về hỗn hợp 1
Có 20/35 học sinh làm
kim loại tác dụng với Có 3/35 học sinh làm được
được các bài tập thuộc
dung dịch chưa 2
các bài tập thuộc dạng này.
dạng này.
muối
Bài tập về 1kim loại
Có 25/35 học sinh làm
Có 5/35 học sinh làm được
tác dụng với dung
được các bài tập thuộc
các bài tập thuộc dạng này.
dịch chưa 1 muối
dạng này.
Trong năm học 2017 - 2018, tôi đã triển khai áp dụng tại trường THCS
Thạch Lập như sau:
- Thành lập lớp với 30 học sinh từ 2 lớp 9A1 và 9A2. Lớp gồm các em có
học lực từ trung bình trở lên.
- Sau khi thành lập lớp tôi đã triển khai các nội dung của đề tài từ tháng
01 năm 2018 đến tháng 4 năm 2018. Kết quả:
Dạng bài tập
Bài tập về hỗn hợp 2
kim loại tác dụng với
Có 20/30 học sinh làm
được các bài tập thuộc
dạng này.
15
Mặc dù kết quả chưa cao nhưng với đối tượng học sinh ở vùng khó khăn
về nhận thức thì kết quả này cũng là điều khích lệ lớn. Những kiến thức thu
được thật sự có ý nghĩa cho các em khi làm bài thi trắc nghiệm ở trường THPT.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận.
Trên đây chỉ là một trong những phương pháp có thể áp dụng để giải bài
toán về kim loại tác dụng với dung dịch chứa muối. Ngoài phương pháp này ra,
đương nhiên còn nhiều phương pháp khác. Mỗi phương pháp đều có ưu và
nhược điểm nhất định. Không có phương pháp nào là vạn năng. Việc vận dụng
các phương pháp này còn phụ thuộc vào năng lực của người học. Qua thực tế
giảng dạy, tôi thấy việc xây dựng phương pháp giải toán cho mỗi dạng với mỗi
chủ đề được các em học tập tốt, và từ việc hình thành được kỹ năng giải bài tập
làm cho học sinh rất chú tâm vào việc học, không còn tâm lí ngại và sợ môn Hóa
học. Chính vì lý do này, một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng học
tập môn Hóa học cho học sinh là đòi hỏi giáo viên phải không ngừng tìm tòi xây
dựng lên các chuyên đề phù hợp với đối tượng học sinh, làm cho học sinh có
hứng thú với môn học.
Hiện nay do môn Hóa học ở bậc THCS thường có ít kỳ thi, nên việc học
sinh không có hứng thú học môn Hóa là khá phổ biến. Ngoài ra một nguyên
nhân cũng làm cho các em ngại học môn hóa là có rất ít thời gian luyện tập trên
lớp, lượng bài tập nhiều, không phân dạng cụ thể... Chính vì lý do đó, với kinh
nghiệm giảng dạy chưa nhiều tôi mạnh dạn đưa ra một số cách xử lý một số bài
dục 2004.
17